cơ chế bảo hộ quyền đối với bí mật kinh doanh theo luật sở hữu trí tuệ và luật cạnh tranh - Pdf 24

Cơ chế bảo hộ quyền đối với bí mật kinh doanh theo Luật sở hữu trí tuệ và Luật cạnh tranh
Theo Khoản 2, Điều 3 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi bổ sung năm
2009, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý,… và một số đối tượng khác là đối
tượng của quyền sở hữu trí tuệ. Mọi hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu đối với các đối
tượng trên đều có thể bị xử lý theo quy định tại Phần thứ năm của Luật này. Tuy nhiên,
trong một ngành luật khác – Luật cạnh tranh năm 2004, Mặc dù không được đề cập đến
như là một đối tượng bảo hộ trực tiếp, tuy nhiên việc quy định các hành vi xâm phạm
quyền đối với các đối tượng trên dưới góc độ là một hành vi cạnh tranh không lành mạnh
một lần nữa cũng gián tiếp đề cập đến vấn đề bảo hộ các đối tượng này và đương nhiên
cũng quy định một cơ chế điều chỉnh riêng biệt. Cụ thể, theo Điều 39 Luật cạnh tranh
năm 2004 về các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, tại Khoản 1 và Khoản 2, hành vi
xâm phạm bí mật kinh doanh và sử dụng các chỉ dẫn gây nhầm lẫn cũng được quy định
và có các cơ chế điều chỉnh quy định cụ thể ở Mục 8 Chương 5. Việc áp dụng các quy
phạm trong hai ngành luật trên sẽ dẫn đến những hệ quả pháp lý khác nhau, mỗi ngành
luật sẽ có những ưu điểm và hạn chế riêng nhưng đều có thể được chấp nhận. Vấn đề đặt
ra là trong trường hợp cụ thể của mình các chủ thể nên áp dụng ngành luật nào để đạt
được một cơ chế bảo hộ tối ưu, hiệu quả cao hơn cũng như đạt được mục đích cuối cùng
mà mình đặt ra đối với vụ việc liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ. Lựa chọn đề tài “Cơ
chế bảo hộ quyền đối với bí mật kinh doanh trong Luật sở hữu trí tuệ và Luật cạnh
tranh”, sử dụng bí mật kinh doanh như một đối tượng nghiên cứu mẫu, thông qua việc so
sánh đối chiếu và phân tích những quy định của hai ngành luật trên, nhóm nghiên cứu hi
vọng sẽ đưa ra được những điểm khác biệt về cơ chế bảo hộ quyền đối với bí mật kinh
doanh, từ đó trình bày các ưu khuyết điểm và đưa ra một số định hướng đối với các chủ
thể kinh doanh khi lựa chọn một trong hai ngành luật để bảo vệ quyền của mình.
NHÓM FRIENDS Page 1
Cơ chế bảo hộ quyền đối với bí mật kinh doanh theo Luật sở hữu trí tuệ và Luật cạnh tranh
TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI
Tên đề tài: “Cơ chế bảo hộ quyền đối với bí mật kinh doanh theo Luật sở hữu trí tuệ và
Luật cạnh tranh”
• Chú thích tên đề tài và thuật ngữ “cơ chế bảo hộ quyền đối với bí mật kinh
doanh theo Luật cạnh tranh” trong đề tài:

• Phương pháp nghiên cứu: Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử. Ngoài ra, nhóm nghiên cứu sử dụng phương
pháp phân tích để thấy rõ được cơ chế bảo vệ bí mật kinh doanh ở mỗi ngành luật,
sau đó thực hiện đối chiếu, so sánh, đánh giá các quy định giữa hai ngành luật với
nhau; trên cơ sở đó tổng hợp vấn đề và đưa ra ra kết luận.
• Bố cục đề tài: Đề tài gồm có 3 phần chính:
- Phần mở đầu:
- Nội dung đề tài:
I. Tổng quan
II. Cơ chế bảo hộ bí mật kinh doanh trong Luật sở hữu trí tuệ và Luật cạnh tranh
III. Nhận xét
- Phần kết luận
NHÓM FRIENDS Page 3
Cơ chế bảo hộ quyền đối với bí mật kinh doanh theo Luật sở hữu trí tuệ và Luật cạnh tranh
MỤC LỤC
Nếu chỉ dừng lại ở việc áp dụng biện pháp hành chính – Tức là chủ thể bị xâm phạm đang phân
vân giữa việc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ việc theo Luật SHTT hay khiếu nại lên
cơ quan quản lý cạnh tranh về hành vi xâm phạm BMKD thì sự khác biệt sẽ dẫn đến hai sự khác
biệt như sau 32
Thứ nhất về mức độ xử lý hành vi xâm phạm, Luật SHTT quy định mức phạt tối đa 30 triệu . Các
hình thức xử phạt bổ sung khoản 11 điều 11 và các biện pháp khắc phục hậu quả Khoản 12 Điều 11
Nghị định 97/2010. Trong khi đó theo Luật cạnh tranh mức phạt tối đa chỉ đến 20 triệu và các hình
thức xử phạt bổ sung,biện pháp khắc phục hậu quả ở Khoản 3 Điều 31 Nghị định 120/2005. Về mặt
này, chế tài xử lý theo Luật SHTT có phần nghiêm khắc hơn và mang tính chất trừng phạt cao hơn
trong Luật cạnh tranh. Các Doanh nghiệp cần phair căn cứ vào mục đích yêu cầu giải quyết của
mình để lựa chọn 32
Thứ hai, về cơ quan giải quyết và thủ tục giải quyết tương ứng. Nếu yêu cầu cơ quan có thẩm
quyền giải quyết theo Luật SHTT thì các cơ quan cụ thể có thẩm quyền giải quyết là cơ quan
Thanh tra, Công an, Quản lý thị trường, Hải quan, Ủy ban nhân dân các cấp và giải quyết theo thủ
tục tố tụng hành chính. Còn nếu khiếu nại lên cơ quan quản lý cạnh tranh – cụ thể là cục quản lý

doanh, tuy nhiên nếu căn cứ vào các điều kiện để một thông tin được xem là bí mật kinh
doanh được quy định tại Khoản 10, Điều 3 thì dễ dàng nhận thấy một cách hiểu tương
đồng giữa hai ngành luật.
Bí mật trong kinh doanh có thể bao gồm nhiều loại thông tin, có thể là là các bí
quyết khoa học, kỹ thuật, công thức chế tạo sản phẩm, chiến lược kinh doanh, số liệu, dữ
liệu, thông tin thương mại, quy trình kỹ thuật, thiết kế sản phẩm, hồ sơ khách hàng, nhà
cung cấp chiến lược kinh doanh, thông tin tài chính, cơ cấu giá, các chương trình, kế
hoạch của công ty về sản xuất sản phẩm, về thị trường mục tiêu, hệ thống phân phối…
Thông tin trong bí mật kinh doanh có tính bí mật, có nghĩa là thông tin hoặc phần quan
trọng của chúng phải không được dễ biết hoặc dễ suy đoán. Tất nhiên điều đó cũng
không có nghĩa là mỗi phần của thông tin phải là bí mật. Sự bí mật có thể đơn thuần chỉ
là sự kết hợp của tất cả những điều đã biết. Phạm vi quyền đối với bí mật kinh doanh
được xác định theo phạm vi bảo hộ bí mật kinh doanh, gồm tập hợp các thông tin tạo
thành bí mật kinh doanh, được sắp xếp theo một trật tự chính xác và đầy đủ đến mức có
NHÓM FRIENDS Page 6
Cơ chế bảo hộ quyền đối với bí mật kinh doanh theo Luật sở hữu trí tuệ và Luật cạnh tranh
thể khai thác được
1
. Tất cả những thông tin này đều có giá trị rất lớn, rất có ý nghĩa đối
với hoạt động của doanh nghiệp trong việc tạo ra lợi thế cạnh tranh riêng của chủ sở hữu
bí mật kinh doanh, của doanh nghiệp này so với nhiều doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh
khác. Tuy nhiên, tùy từng điều kiện và do sự lựa chọn của chủ sở hữu mà chúng có thể
được bảo hộ dưới các hình thức khác nhau.
Nhìn chung, khái niệm bí mật kinh doanh vẫn còn mang tính chung chung, chưa cụ
thể, chưa làm rõ phạm vi các thông tin được bảo hộ và dễ dẫn đến nhiều cách hiểu khác
nhau về bí mật kinh doanh. Pháp luật các nước thường quy định tương đối rõ ràng hơn về
vấn đề này, khái niệm bí mật kinh doanh thường được giải thích tương đối cụ thể, dễ hiểu
hơn và cũng thuận lợi hơn trong việc áp dụng trên thực tế.
Ngoài thuật ngữ bí mật kinh doanh (Trade secrets) thì còn tồn tại một số thuật ngữ
có liên quan đến bí mật kinh doanh như “thông tin bí mật” (confidential information) và

Từ giữa thế kỷ XIX, Pháp và Bỉ đã ghi nhận trong pháp luật hình sự các tội phạm về
tiết lộ bí mật của nhà máy. Và trong luật cạnh tranh không lành mạnh của Đức năm 1909
đã quy định các chế tài dân sự cho người xâm phạm bí mật kinh doanh. Ở Anh, mặc dù
chưa có văn bản pháp luật cụ thể để áp dụng đối với vấn đề bí mật kinh doanh nhưng vấn
đề này đã được đặt ra từ rất sớm. Đến năm 1820, tòa án tối cao của Anh đã ban hành sắc
lệnh chống lại việc sử dụng và bộc lộ bí mật kinh doanh do vi phạm hợp đồng bảo mật.
Từ năm 1837, quan điểm bảo hộ bí mật kinh doanh nhằm đảm bảo sự trung thực trong
thương mại của Mỹ chịu ảnh hưởng của Anh cho tới ngày nay. Và Mỹ là một trong
những quốc gia có đạo luật riêng để bảo hộ bí mật kinh doanh. Tại Mỹ, chính phủ liên
bang và một số bang đã thông qua các quy định pháp luật nhằm ngăn chặn việc tiết lộ, rò
rỉ những thông tin bảo mật cũng như đưa ra các hình phạt với hành vi tiết lộ thông tin bất
hợp pháp. Phần lớn các nước hiện nay đều có quy định về bảo hộ bí mật kinh doanh.
Ngoài ra. các quốc gia khác quy định việc bảo hộ bí mật kinh doanh trong các văn bản
chung cho các đối tượng khác của quyền sở hữu trí tuệ
1
.
Vấn đề bảo hộ bí mật kinh doanh đã được qua tâm nhiều hơn từ năm 1883, khi
"Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp" có hiệu lực. Cụ thể tại Điều 10bis, Công
ước Paris có quy định “(1) Các nước thành viên của Liên minh có trách nhiệm bảo đảm
cho công dân của các nước thành viên đó sự bảo hộ có hiệu quả chống lại hành động
cạnh tranh không lành mạnh”
2
. Năm 1994, Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới
thương mại của quyền sở hữu trí tuệ - Hiệp định TRIPS ra đời thì thông tin bí mật trong
hoạt động sản xuất kinh doanh cũng được bảo hộ như là một đối tượng riêng biệt của
1
http://khotailieu.com/tim-tai-lieu#key=Bảo hộ bí mật kinh doanh theo quy định của pháp luật Việt Nam
2
Lê Nết (2006), Quyền sở hữu trí tuệ, NXB Đại học quốc gia.
NHÓM FRIENDS Page 8

định cho môi trường kinh doanh, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh buộc các doanh
nghiệp phải tuân theo các nguyên tắc công bằng, trung thực trong thương mại, đảm bảo
1
Lê Nết (2006), Quyền sở hữu trí tuệ, NXB Đại học quốc gia.
NHÓM FRIENDS Page 9
Cơ chế bảo hộ quyền đối với bí mật kinh doanh theo Luật sở hữu trí tuệ và Luật cạnh tranh
quyền cạnh tranh hợp pháp của doanh nghiệp, tạo mối quan hệ tốt đẹp trong kinh doanh
và tạo ra khung pháp lý nhằm đảm bảo việc thực hiện bảo hộ bí mật kinh doanh của
doanh nghiệp, khuyến khích trao đổi thông tin cần thiết trong quá trình hoạt động kinh
doanh nhưng không xâm phạm đến lợi ích của các nhà sản xuất kinh doanh khác hay
rộng hơn là lợi ích của người tiêu dùng và của cả xã hội.
1.3. Quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu BMKD và ý nghĩa của việc bảo hộ bí mật
kinh doanh:
1.3.1. Quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu BMKD:
Theo Điều 123 Luật SHTT, chủ sở hữu BMKD có các quyền:
Thứ nhất, sử dụng, cho phép người khác sử dụng BMKD. Được coi là “sử dụng”
BMKD khi chủ thể thực hiện một trong các hành vi được quy định tại Khoản 4 Điều 124
Luật SHTT, bao gồm: áp dụng BMKD để sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ, thương
mại hàng hoá; bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán, nhập khẩu sản phẩm được sản xuất
do áp dụng BMKD.
Thứ hai, ngăn cấm người khác sử dụng BMKD. Chủ sở hữu BMKD không có
quyền ngăn cấm người khác thực hiện các hành vi sau
1
: Bộc lộ, sử dụng BMKD thu được
khi không biết và không có nghĩa vụ phải biết BMKD đó do người khác thu được một
cách bất hợp pháp; Bộc lộ dữ liệu bí mật nhằm bảo vệ công chúng. Đây là trường hợp
bộc lộ các kết quả thử nghiệm hoặc các dữ liệu liên quan đến việc lưu hành các dược
phẩm, các nông hoá phẩm đã được quy định cụ thể tại Điều 128 Luật SHTT; Sử dụng dữ
liệu bí mật liên quan đến các loại dược phẩm, nông hoá phẩm không nhằm mục đích
thương mại; Bộc lộ, sử dụng BMKD được tạo ra một cách độc lập. Trong trường hợp này

mật kinh doanh bằng các hình thức, cơ chế khác nhau được quy định trong pháp luật. Bảo
hộ bí mật kinh doanh sẽ thừa nhận cho chủ sở hữu quyền độc quyền khai thác, sử dụng bí
mật kinh doanh và chống lại các hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh có thể gây thiệt hại
và đe dọa gây thiệt hại cho chủ sở hữu hay các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. Pháp
luật bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu bí mật kinh doanh bằng cách trừng phạt người có
hành vi xâm phạm các thông tin thuộc bí mật kinh doanh của mình và chủ sở hữu có
nghĩa vụ chứng minh thông tin bị xâm phạm thỏa mãn điều kiện của bí mật kinh doanh
theo quy định của pháp luật.
Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ với sự hạn chế về vốn, công nghệ, hạn chế về
khả năng thanh toán các khoản chi phí khi thực hiện đăng ký bảo hộ thì việc bảo hộ bí
1
Khoản 1, Điều 128 Luật SHTT
NHÓM FRIENDS Page 11
Cơ chế bảo hộ quyền đối với bí mật kinh doanh theo Luật sở hữu trí tuệ và Luật cạnh tranh
mật kinh doanh sẽ dễ dàng hơn, ít tốn kém hơn là việc đăng ký bảo hộ với danh nghĩa các
đối tượng sở hữu công nghiệp khác mặc dù có thể vẫn phải tốn chi phí cho các biện pháp
bảo mật
1
. Thêm vào đó, so với việc bảo hộ dưới các dạng đối tượng sở hữu công nghiêp
khác, BMKD được bảo hộ tự động
2
và không bị giới hạn về mặt thời hạn
3
. Cơ chế này
đảm bảo cho thông tin được xem là bí mật kinh doanh của doanh nghiệp sẽ không bị bộc
lộ công khai rộng rãi (doanh nghiệp sẽ không phải giải trình công khai các thông tin bí
mật, không đặt ra yêu cầu công bố thông tin và các doanh nghiệp khác sẽ không biết
được các thông tin đó). Cơ chế bảo hộ tự động còn giúp tiết kiệm chi phí, thời gian đăng
ký bảo hộ, vì lợi ích mang lại thường cao hơn là bảo hộ dưới hình thức khác.
Tuy nhiên, khả năng bộc lộ BMKD thường rất cao và khi đã được bộc lộ công khai

không bị bộc lộ và không dễ dàng tiếp cận được”.
Về cơ bản, theo quy định của Luật SHTT, BMKD được bảo hộ phải đáp ứng được
các điều kiện cơ bản sau: Thứ nhất là phải có tính sáng tạo. Tức là các thông tin chứa
đựng bí mật kinh doanh không phải là những hiểu biết thông thường hay không dễ dàng
có được. Các thông tin này là thành quả của quá trình đầu tư tài chính của chủ sở hữu, sự
đúc kết của cả quá trình đầu tư trí tuệ hay sự kết tụ của cả đầu tư tài chính và trí tuệ. Nếu
một người có trình độ trung bình trong lĩnh vực tương ứng sẽ không thể thu được những
hiểu biết được gọi là bí mật kinh doanh. Những thông tin được gọi là bí mật kinh doanh
bao giờ cũng hàm chứa một lượng tri thức sáng tạo nhất định. Thứ hai là tính hữu ích hay
giá trị thương mại của BMKD. Các thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính và trí
tuệ phải có khả năng sử dụng trong kinh doanh thực tiển của chủ thể kinh doanh. Khi sử
dụng chúng thì sẽ có lợi hơn so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng thông tin
đó. Thứ ba là tính bảo mật. Thông tin phải tồn tại trong tình trạng bí mật, có nghĩa là
những người thường xuyên xử lý loại thông tin đó không biết đến hoặc không thể dễ
dàng tiếp cận được thông tin đó dưới dạng thông tin toàn bộ. Một thông tin cũng được coi
là bí mật nếu như chỉ có một số lượng người hạn chế biết về thông tin đó. Hơn nữa thông
tin đó phải được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết như hạn chế việc biết
được hoặc tiếp cận được thông tin hay biện pháp chống bộc lộ thông tin (kí kết hợp đồng
bảo mật, hợp đồng quy định trách nhiệm của người biết hoặc tiếp cận được với thông
tin…)
Tuy nhiên, không phải bất cứ thông tin bí mật nào cũng được bảo hộ. Điều 85 của
Luật SHTT đưa ra danh mục các loại thông tin không được bảo hộ với danh nghĩa
BMKD bao gồm: “1. Bí mật về nhân thân; 2. Bí mật về quản lý nhà nước; 3. Bí mật về
quốc phòng, an ninh; 4. Thông tin bí mật khác không liên quan đến kinh doanh” và các
BMKD trái với đạo đức xã hội, xâm phạm tới lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, có
NHÓM FRIENDS Page 13
Cơ chế bảo hộ quyền đối với bí mật kinh doanh theo Luật sở hữu trí tuệ và Luật cạnh tranh
hại cho quốc phòng, an ninh sẽ không được pháp luật Việt Nam bảo hộ
1
.

“10. Bí mật kinh doanh là thông tin có đủ các điều kiện sau đây:
a) Không phải là hiểu biết thông thường;
b) Có khả năng áp dụng trong kinh doanh và khi được sử dụng sẽ tạo cho người
1
Điều 8 Luật SHTT
2
Điểm c, Khoản 3, Điều 6 Luật SHTT
3
Khoản 2 điều 6 Nghị định 103/2006/NĐ-CP
4
Theo tiểu mục 1.7 phần 1 mục 1 thông tư 01/2007/TT-BKHCN
5
Theo cơ chế đăng ký bảo hộ thì phải buộc bí mật đó được công bố, công khai rộng rãi cho mọi người biết để tránh
vi phạm. Yêu cầu này sẽ làm cho bí mật kinh doanh của doanh nghiệp nhanh chóng bị bộc lộ, mất hết giá trị và trở
thành không còn bí mật nữa.
NHÓM FRIENDS Page 14
Cơ chế bảo hộ quyền đối với bí mật kinh doanh theo Luật sở hữu trí tuệ và Luật cạnh tranh
nắm giữ thông tin đó có lợi thế hơn so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng
thông tin đó;
c) Được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để thông tin đó không bị
tiết lộ và không dễ dàng tiếp cận được.”
Như vậy, xét về điều kiện bảo hộ, đối chiếu Điều 84 Luật SHTT với Khoản 10 Điều
3 Luật CT có thể rút ra một số kết luận sau:
Mặc dù có nhiều sự tương đồng trong việc quy định các điều kiện để một thông tin
được bảo hộ dưới dạng bí mật kinh doanh trong hai ngành luật - BMKD được bảo hộ khi
đáp ứng đủ điều kiện Luật định (tính giá trị, tính bí mật, và được chủ sở hữu áp dụng các
biện pháp bảo vệ), tuy nhiên so với Điểm a, Khoản 10 Điều 3 Luật Cạnh tranh thì Khoản
1, Điều 84 Luật SHTT có phần cụ thể hơn. Theo Khoản 1 Điều 84 Luật SHTT một trong
những điều kiện chung để BMKD được bảo hộ là: “1. Không phải là hiểu biết thông
thường và không dễ dàng có được”. Còn Điểm a, Khoản 10 Điều 3 Luật Cạnh tranh lại

b) Bộc lộ, sử dụng thông tin thuộc BMKD mà không được phép của chủ sở hữu
BMKD đó (loại trừ các trường hợp ngoại lệ đã được nêu tại Khoản 3, Điều 125 Luật
SHTT);
c) Vi phạm hợp đồng bảo mật hoặc lừa gạt, xui khiến, mua chuộc, ép buộc, dụ dỗ,
lợi dụng lòng tin của người có nghĩa vụ bảo mật nhằm tiếp cận, thu thập hoặc làm bộc lộ
BMKD;
d) Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc BMKD của người nộp đơn theo thủ tục xin cấp
phép kinh doanh hoặc lưu hành sản phẩm bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật
của cơ quan có thẩm quyền;
đ) Sử dụng, bộc lộ BMKD dù đã biết hoặc có nghĩa vụ phải biết BMKD đó do
người khác thu được có liên quan đến một trong các hành vi vi phạm BMKD đã được
pháp luật quy định;
e) Không thực hiện nghĩa vụ bảo mật đối với các cơ sở dữ liệu, kết quả thử nghiệm
theo quy định của pháp luật.
Khi không thuộc các trường hợp ở Khoản 3 Điều 125 Luật SHTT thì các hành vi
xâm phạm quyền đối với BMKD Điều 127 Luật SHTT gồm 6 khoản liệt kê các dạng
hành vi xâm phạm kể trên.
Chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh có quyền yêu cầu
các cơ quan nhà nước có thẩm quyền buộc người thực hiện hành vi xâm phạm quyền của
mình phải chấm dứt hành vi xâm phạm và bồi thường thiệt hại. Chủ sở hữu quyền sở hữu
công nghiệp đối với bí mật kinh doanh có nghĩa vụ chứng minh điều kiện xác lập quyền
NHÓM FRIENDS Page 16
Cơ chế bảo hộ quyền đối với bí mật kinh doanh theo Luật sở hữu trí tuệ và Luật cạnh tranh
và phạm vi quyền của mình; nêu rõ tên, địa chỉ của người đã thực hiện hành vi xâm
phạm; cung cấp các chứng cứ về phạm vi, mức độ của việc xâm phạm đó. Trong trường
hợp yêu cầu bồi thường thiệt hại thì chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật
kinh doanh phải chứng minh mức độ thiệt hại do người có hành vi xâm phạm gây ra.
Xâm phạm BMKD được xem là hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo pháp luật
cạnh tranh quy định tại Điều 39 Luật Cạnh tranh. Và theo Điều 41 Luật cạnh tranh quy
đinh 4 dạng hành vi xâm phạm đối với BMKD:

pháp của BMKD mà chỉ cần xác định tính không được phép của chủ sở hữu đối với việc
sử dụng là đủ điểu kiện về sự vi phạm.
Cũng giống như một số quy định đã phân tích ở các phần trước thì những hành vi
xâm phạm quyền đối với BMKD được quy định tại Điều 41 Luật Cạnh Tranh nhìn chung
là giống với Điều 127 Luật SHTT. Tuy nhiên trường hợp có hành vi xâm phạm của bên
thứ 3 có được BMKD từ người có hành vi trực tiếp xâm phạm dù biết rằng BMKD này
thu được một cách bất hợp pháp theo như quy định tại Điểm đ, Khoản 1, Điều 127 Lật
SHTT thì Luật cạnh tranh cũng không đề cập đến. Về mặt này Luật SHTT có quy định
rộng hơn và cụ thể hơn quy định ở Luật Cạnh Tranh. Luật SHTT còn tiến bộ hơn khi quy
định những trường hợp không được xem là vi phạm ở Khoản 3 Điều 125, mà Luật cạnh
tranh không đề cập tới.
Xét về chủ thể quyền bị xâm phạm, nếu như các quy định trong pháp luật về cạnh
tranh đối với hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh tiếp cận theo hướng “Quyền của chủ
sở hữu hợp pháp đối với BMKD” thì Luật SHTT mở rộng phạm vi chủ thể quyền sang cả
“Người được chuyển giao hợp pháp BMKD” và quy định chung là “Người kiểm soát
BMKD”. Điều này dẫn đến một kết quả là sự mở rộng đối với phạm vi các chủ thể có
quyền đối với các đối tượng được bảo hộ. Quy định trên khá hợp lý khi xét về địa vị pháp
lý của cả hai nhóm chủ thể trên là gần như ngang bằng nhau (xét trong quan hệ với chủ
thể xâm phạm quyền).
Sự khác biệt trong quy định của hai ngành luật dẫn đến những hướng áp dụng khác
nhau cho các chủ thể có quyền bị xâm phạm. Cụ thể, khi nhận thấy doanh nghiệp khác vi
phạm BMKD của mình thuộc trường hợp Điểm đ Khoản 1 Điều 127 thì việc lựa chọn
Luật SHTT là cách duy nhất vì Luật Cạnh Tranh sẽ không điều chỉnh. Các trường hợp
còn lại tại Điểm a, b, c, d, e thì có thể lựa chọn 1 trong 2 ngành luật tùy thuộc vào mục
NHÓM FRIENDS Page 18
Cơ chế bảo hộ quyền đối với bí mật kinh doanh theo Luật sở hữu trí tuệ và Luật cạnh tranh
đích và điều kiện của chủ thể có quyền.
Trong trường hợp chủ thể có quyền bị xâm phạm BMKD không phải là chủ sở hữu
trực tiếp thì không thể áp dụng Luật cạnh tranh để điều chỉnh đối với hành vi cạnh tranh
không lành mạnh nhằm đạt được các ưu điểm của Luật Cạnh tranh như đã và sẽ phân tích

2.3. Bảo vệ quyền đối với bí mật kinh doanh trong luật sở hữu trí tuệ và luật cạnh
tranh:
2.3.1. Bảo vệ quyền đối với bí mật kinh doanh theo pháp luật về Sở hữu trí
tuệ:
Luật SHTT 2005 không có quy định riêng về bảo vệ bí mật kinh doanh mà quy định
chung trong phần thứ 5 về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Theo quy định tại Điều 198 Luật
SHTT chủ thể quyền có thể áp dụng các biện pháp tự bảo vệ, yêu cầu cơ quan nhà nước
có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm bằng các biện pháp dân sự, hình sự, hành chính
tùy vào tính chất mức độ của hành vi xâm phạm .
Biện pháp tự bảo vệ: Tự bảo vệ BMKD được hiểu là việc chủ sở hữu BMKD áp
dụng mọi biện pháp công nghệ để bảo vệ BMKD tránh khỏi sự xâm hại của chủ thể khác
hoặc để hạn chế, khắc phục thiệt hại do hành vi xâm hại gây ra, tự bảo vệ còn là quyền tự
yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền đối với BMKD phải chấm dứt hành
vi xâm phạm quyền đối với BMKD phải chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính
công khai, bồi thường thiệt hại Tự bảo vệ BMKD là quyền của chủ sở hữu, các chủ thể
có thể chủ động áp dụng mà không phụ thuộc sự cho phép của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền, đay là biện pháp nhanh gọn, tốn ít thời gian, tiết kiệm tuy nhiên trên thực tế “tự
bảo vệ” chỉ dừng lại ở việc các chủ thể có quyền đối với BMKD áp dụng các biện pháp
công nghệ để bảo mật BMKD của mình – các biện pháp phòng ngừa hành vi xâm phạm.
Còn các biện pháp nhằm giải quyết hậu quả của hành vi vi phạm ít được áp dụng vì
không có sự cưỡng chế của cơ quan nhà nước. Để tự bảo vệ BMKD chủ sở hữu cần phải
đánh giá đúng giá trị và tiềm lực của BMKD để có cơ chế bảo vệ thích hợp từ bên trong
và bên ngoài. Doanh nghiệp có thể kiểm soát việc tiếp cận bằng các biện pháp như nhận
dạng bí mật kinh doanh (các doanh nghiệp nên cân nhắc khi quyết định coi một thông tin
là bí mật thương mại), giáo dục nhân viên, hạn chế tiếp cận, đánh dấu tài liệu (xây dựng
NHÓM FRIENDS Page 20
Cơ chế bảo hộ quyền đối với bí mật kinh doanh theo Luật sở hữu trí tuệ và Luật cạnh tranh
hệ thông đánh dấu tư liệu thống nhất và nâng cao hiểu biết của nhân viên để tránh vô ý
bộc lộ thông tin), cách ly và bảo bộ về mặt vật lý (có thể thực hiện các biện pháp như nộp
lưu có khóa riêng biệt; kiểm soát truy cập; xé nhỏ thông tin; kiểm tra giám sát thường

Cơ chế bảo hộ quyền đối với bí mật kinh doanh theo Luật sở hữu trí tuệ và Luật cạnh tranh
là do người yêu cầu chịu, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Như vậy xét một cách tổng
quan thì pháp luật Việt Nam có một cơ chế tố tụng dân sự tương đối đầy đủ để xử lý hành
vi xâm phạm BMKD đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu BMKD cũng
như hạn chế và khắc phục được thiệt hại do hành vi xâm phạm BMKD gây ra.
Biện pháp hành chính: Trong một số trường hợp hành vi xâm phạm BMKD cũng là
hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý nhà nước nên xử lý xâm phạm bằng
biện pháp dân sự không khắc phục được thiệt hại mà hành vi xâm phạm gây ra đối với
nhà nước, người tiêu dùng và toàn xã hội. Để bổ sung cho vấn đề này, pháp luật nước ta
quy định về việc xử lý hành chính đối với hành vi xâm phạm BMKD thể hiện ở Điều 211
Luật SHTT và Nghị định 97/2010/NĐ-CP. Theo đó tổ chức, cá nhân bị xâm phạm có
quyền gửi đơn yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi
xâm phạm BMKD của mình. Việc áp dụng biện pháp hành chính thuộc thẩm quyền của
cơ quan Thanh tra, Công an, Quản lý thị trường, Hải quan, Ủy ban nhân dân các cấp.
Biện pháp hình sự: Theo Điều 212 Luật SHTT: Cá nhân thực hiện hành vi xâm
phạm quyền SHTT có yếu tố cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo
quy định của pháp luật. Pháp luật Việt Nam hiện nay chưa quan tâm nhiều đến việc bảo
vệ BMKD bằng biện pháp hình sự, các hành vi xâm phạm BMKD có đủ yếu tố cấu thành
tội phạm hầu như chưa có. Hơn nữa trong luật hình sự Việt Nam chưa có quy định riêng
về tội xâm phạm BMKD mà chỉ quy định chung trong chương XVI “Các tội phạm xâm
phạm trật tự quản lý kinh tế”
1
. Hình phạt áp dụng đối với các tội danh trên thường là phạt
tiền, cải tạo không giam giữ hoặc tù có thời hạn. Một số trường hợp bị áp dụng hình phạt
rất nặng như tù chung thân hoặc tử hình. Ngoài ra, còn có thể áp dụng các biện pháp tịch
thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm
công việc nhất định.
Như vậy, khi phát hiện có chủ thể “đánh cắp” hoặc bộc lộ trái phép bí mật kinh
doanh của mình; chủ sở hữu bí mật kinh doanh có thể yêu cầu bên vi phạm chấm dứt
hành vi và bồi thường thiệt hại là hậu quả của hành vi vi phạm; hoặc yêu cầu cơ quan

nhận đăng ký kinh doanh, tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề; tịch thu
tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm pháp luật về cạnh tranh. Ngoài ra tổ chức,
cá nhân vi phạm còn có thể bị áp dụng một hoặc các biện pháp khắc phục hậu quả như:
Cải chính công khai; Loại bỏ những điều khoản vi phạm pháp luật ra khỏi hợp đồng hoặc
1
Phân tích tương tự như phân tích đối với Luật SHTT
2
Điều 31 Nghị định 120/2005/NĐ-CP
NHÓM FRIENDS Page 23
Cơ chế bảo hộ quyền đối với bí mật kinh doanh theo Luật sở hữu trí tuệ và Luật cạnh tranh
giao dịch kinh doanh; Các biện pháp cần thiết khác để khắc phục tác động hạn chế cạnh
tranh của hành vi vi phạm.
Theo quy định tại Đoạn 2, Khoản 3 Điều 17 Luật Cạnh tranh, “Tổ chức, cá nhân có
hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền
và lợi ích hợp pháp của tổ chức, các nhân khác thì phải bồi thường thiệt hại theo quy
định của pháp luật”. Như vậy, bên cạnh biện pháp hành chính, trong Luật cạnh tranh còn
đề cập đến việc bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, bồi thường thiệt hại chỉ được nhắc đến
như là một chế tài áp dụng đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh bao gồm cả
hành vi xâm phạm BMKD. Bồi thường thiệt hại là khôi phục, đền bù, nhằm bù đắp
những tổn thất về vật chất và tinh thần mà bên mang quyền phải gánh chịu do hành vi vi
phạm các quy tắc trong kinh doanh của bên kia gây ra. Vì vậy, pháp luật cạnh tranh của
nước nào cũng quy định chế tài này. Theo pháp luật cạnh tranh Việt Nam, khi áp dụng
chế tài bồi thường thiệt hại thì phải dẫn chiếu đến pháp luật dân sự. Vấn đề khởi kiện đòi
bồi thường thiệt hại đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong đó có hành vi xâm
phạm BMKD sẽ được áp dụng theo các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng và được quy tại Chương XXI của Bộ luật Dân sự năm 2005 và pháp luật
có liên quan. Yêu cầu bồi thường thiệt hại là một quyền mặc định được pháp luật thừa
nhận, nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho các chủ thể kinh doanh. Vì vậy, chế tài bồi
thường thiệt hại có thể áp dụng đồng thời với các chế tài khác
1

trong hai ngành luật. Vì lí do đó, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, nhóm không đi sâu
vào phân tích biện pháp này mà chủ yếu đi sâu phân tích và so sánh các biện pháp có sự
khác biệt về hệ quả áp dụng trong hai ngành luật là các biện pháp dân sự trong Luật
SHTT và biện pháp hành chính theo luật cạnh tranh, so sánh biện pháp hành chính trong
Luật Canh tranh và hành chính trong Luật SHTT để bảo vệ quyền sở hữu đối với bí mật
kinh doanh.
Thứ nhất, xét về thời hiệu giải quyết các vụ việc liên quan đến xâm phạm bí mật
kinh doanh, Theo Khoản 2 Điều 58 Luật cạnh tranh “Thời hiệu khiếu nại là hai năm kể
từ ngày hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về cạnh tranh được thực hiện”. Điều này
có nghĩa là bên khiếu nại chỉ có quyền khiếu nại vụ việc trong thời hạn 2 năm, kể từ ngày
NHÓM FRIENDS Page 25

Trích đoạn PGS TS Lê Danh Vĩnh Giáo trình luật cạnh tranh Nhà xuất bản đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh (206)
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status