TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
PHÒNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài số 03
SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA
NHO GIA VÀ PHÁP GIA
SVTH: Trịnh Thị Khánh Dư
STT: 13
Nhóm: 02
Lớp: Cao học Đêm 1 – K20
GVHD: T.S Bùi Văn Mưa Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 05 năm 2011
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN
Tiểu luận Triết học Sự tương đồng và khác biệt giữa Nho gia và Pháp gia
K20 – Đêm 1 – Nhóm 2 – STT 13 1
PHẦN I: MỞ ĐẦU
Thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc là thời kỳ phân tranh ác liệt lại cũng là thời
kỳ hình thành và phát triển rực rỡ nhất của hầu hết trào lưu triết học như thuyết
Thiên, Đạo của Lão Tử, Kiêm Ái Mặc Gia, thuyết Vị Ngã của Dương Chu…mà
trong đó phải kể đến Nhân trị của Nho gia và Pháp trị của Pháp gia, hai hệ tư tưởng
có ý nghĩa cực kỳ sâu sắc, góp phần vào sự hưng thịnh của nhà cầm quyền thời đó
và có giá trị cho đến ngày nay. Nước ta với hơn một ngàn năm Bắc thuộc cũng đã
ảnh hưởng khá sâu sắc nền triết học này, theo đó, người dân ta biết thế nào là nhân
nghĩa, biết hiếu thảo với các bậc sinh thành, biết rèn luyện trí, dũng và hiểu được
tầm quan trọng của chữ tín, bên cạnh đó đất nước ta cũng xây dựng một hệ thống
luật pháp linh động phù hợp với thực tiễn và dân chủ. Nghiên cứu đề tài “Sự tương
đồng và khác biệt giữa Nho gia và Pháp gia” giúp hiểu biết sâu sắc giá trị của hai
trường phái trên, cũng như những hạn chế của mỗi trường phái, từ đó vận dụng kết
hợp linh hoạt vào thực tiễn xây dựng xã hội con người trong thời đại hiện nay.
Đề tài có nhiều cách tiếp cận, trong tiều luận này, sau khi khái quát một số
nội dung cơ bản và các đại diện tiêu biểu của Nho gia và Pháp gia, học viên trình
bày theo hướng đi từ khác biệt cơ bản của hai trường phái về chủ trương trị nước, từ
đó tìm hiểu chủ trương này căn bản dựa vào quan điểm nào, theo đó đưa ra sự khác
biệt về cách thức thực hành các chủ trương đã định ra.
Cách giải quyết và phân tích đề tài trong tiểu luận có thể còn nhiều hạn chế
do giới hạn thời gian thực hiện, tài liệu thu thập và kiến thức kinh nghiệm, học viên
rất mong nhận được sự đóng góp, nhận xét để có thể hoàn thiện hơn.
Tiểu luận Triết học Sự tương đồng và khác biệt giữa Nho gia và Pháp gia
K20 – Đêm 1 – Nhóm 2 – STT 13 2
trở thành thánh đường và Khổng Tử trở thành giáo chủ, giáo lý chính là các tín điều
mà các nhà Nho cần phải thực hành.
Hán Nho
Đến đời Hán, Đại Học và Trung Dung được gộp vào Lễ Ký. Hán Vũ Đế đưa
Nho giáo lên hàng quốc giáo và dùng nó làm công cụ thống nhất đất nước về tư
tưởng. Và từ đây, Nho giáo trở thành hệ tư tưởng chính thống bảo vệ chế độ phong
kiến Trung Hoa trong suốt hai ngàn năm. Nho giáo thời kỳ này được gọi là Hán
Nho. Điểm khác biệt so với Nho giáo nguyên thủy là Hán Nho đề cao quyền lực của
giai cấp thống trị, Thiên Tử là con trời, dùng "lễ trị" để che đậy "pháp trị".
Tống Nho
Đến đời Tống, Đại Học, Trung Dung được tách ra khỏi Lễ Ký và cùng với
Luận ngữ và Mạnh Tử tạo nên bộ Tứ Thư. Lúc đó, Tứ Thư và Ngũ Kinh là sách gối
đầu giường của các nhà Nho. Nho giáo thời kỳ nay được gọi là Tống nho, với các
tên tuổi như Chu Hy (thường gọi là Chu Tử), Trình Hạo, Trình Di. (Ở Việt Nam, thế
kỷ thứ 16, Nguyễn Bỉnh Khiêm rất giỏi Nho học nên được gọi là "Trạng Trình").
Phương Tây gọi Tống nho là "Tân Khổng giáo”. Điểm khác biệt của Tống nho với
Nho giáo trước đó là việc bổ sung các yếu tố "tâm linh" (lấy từ Phật giáo) và các yếu
tố "siêu hình" (lấy từ Đạo giáo) phục vụ cho việc đào tạo quan lại và cai trị.
b. Đặc điểm của Nho gia:
Nho gia chủ trương dùng nhân trị để cai trị đất nước, người quân tử là người
cầm quyền phải biết tu thân, hành đạo.
Nho giáo nguyên thuỷ cho rằng nền tảng của gia đình – xã hội là những quan
hệ đạo đức – chính trị, đặc biệt là ba quan hệ vua – tôi, cha – con, chồng – vợ.
Về nguồn gốc của vũ trụ, Nho gia xuất phát từ vũ trụ quan của Kinh Dịch,
cho rằng vạn vật không ngừng biến hoá theo một trật tự không gì cưỡng lại được,
mà nền tảng tận cùng của trật tự đó là thiên mệnh.
Tiểu luận Triết học Sự tương đồng và khác biệt giữa Nho gia và Pháp gia
Mạnh Tử (372–289 trước công nguyên; có một số tài
liệu khác ghi là: 385–303/302 TCN) là nhà triết học
Trung Quốc và là người tiếp nối Khổng Tử.
Mạnh Tử, tên là Mạnh Kha, tự là Tử Dư, sinh vào đời
vua Liệt Vương, nhà Chu, quê gốc ở đất Trâu, thuộc
nước Lỗ, nay là thành phố Trâu Thành, tỉnh Sơn Đông,
Trung Quốc. Mạnh Tử là đại biểu xuất sắc của Nho
giáo thời chiến quốc, thời kỳ nở rộ các nhà tư tưởng
lớn với các trường phái như Pháp gia, Du thuyết, Nho
gia, Mặc gia (thời kỳ bách gia tranh minh) và cũng là
thời kỳ mà các tập đoàn phong kiến tranh giành, xâu xé lẫn nhau gây ra các cuộc
chiến tranh liên miên, dân tình vô cùng khổ sở . Ông được xem là ông tổ thứ hai của
Nho giáo và được hậu thế tôn làm "Á thánh Mạnh Tử" (chỉ đứng sau Khổng Tử).
II. Khái quát Pháp gia
1. Lịch sử hình thành và đặc điểm
a. Lịch sử hình thành
Học thuyết pháp trị của phái Pháp gia hình thành và phát triển qua nhiều thời
kỳ bởi những trí thức xuất sắc như: Quản Trọng, Thận Đáo, Thân Bất Hại, Thương
Ưởng và được hoàn thiện bởi Hàn Phi Tử.
Mở đầu với tư tưởng Quản Trọng thời Xuân thu (685 TCN) trị nước bằng
luật, lệnh, hình, chính của Quản Trọng.
Sang nữa đầu thời Chiến quốc, tư tưởng pháp trị được tiếp tục phát triển với
tư tưởng Thương Ưởng, chủ trương "pháp trị" thay "đức trị", sử dụng các chính sách
khuyến khích dân chúng lao động, binh sĩ chiến đấu. Thân Bất Hại (401-337 TCN)
chủ trương dùng thuật cai trị đất nước, Thận Đáo (370-290 TCN) chủ trương dùng
Tiểu luận Triết học Sự tương đồng và khác biệt giữa Nho gia và Pháp gia
K20 – Đêm 1 – Nhóm 2 – STT 13 6
thế, Ngô Khởi (440 – 381 TCN) cho rằng muốn làm cho nước mạnh phải biết đạo
nuôi quân, trả lương hậu cho quân thì họ mới vì nước liều mình.
ông làm Tể tướng năm 685 TCN. Ông nổi tiếng với "chiến
lược không đánh mà thắng" mà người Trung Hoa gọi là
diễn biến hòa bình - đó là tấn công bằng mưu trí, trừng
phạt và dùng kinh tế để giáo huấn.
b. Thận Đáo
Thận Đáo, sinh khoảng năm 370, thời Liệt Vương, mất khoảng năm 290, thời Noãn
Vương, đều trước công nguyên, Người Nước Triệu, viết 42 thiên sách, đại thể nói về
sự cần thiết phải đặt ra luật pháp, nhưng sự thi hành luật pháp phải cậy vào uy thế
của giới thống trị
c. Thân Bất Hại
Thân Bất Hại, sinh khoảng năm 401, thời An Vương, mất khoảng năm 337, thời
Hiển Vương, đều trước công nguyên, làm một chức lại nhỏ ở Nước Trịnh; Hàn
Chiêu Hầu thấy ông có tài nên trọng dụng cho làm tướng (chức tướng thời Xuân
Thu Chiến Quốc trông coi việc nội chính, ngoại giao gần như chức tể tướng các thời
sau, chứ không phải là tướng võ) trong 15 năm. Ông viết hai thiên sách nói về sự
dùng thuật để trị nước
Tiểu luận Triết học Sự tương đồng và khác biệt giữa Nho gia và Pháp gia
K20 – Đêm 1 – Nhóm 2 – STT 13 8
d. Thương Ưởng
Thương Ưởng (khoảng 390 TCN-338 TCN), hay Thương
Quân, tên thật là Công Tôn Ưởng, sau đổi thành Vệ Ưởng là
người nước Vệ (cái tên Vệ Ưởng xuất phát từ tên nước Vệ),
làm thừa tướng nước Tần dưới thời vua Tần Hiếu Công. Ông
là một chính trị gia xuất sắc theo đường lối của Pháp gia, có
công lớn đưa nước Tần Hiếu Công làm nên nghiệp bá. Ông
được phong 15 ấp ở đất Ư, đất Thương, phong hiệu là Thương
Quân nên gọi ông là Thương Ưởng.
e. Hàn Phi
Tình cảnh xã hội đổ nát, cuộc sống điêu đứng đã thôi thúc những người có
lòng yêu nước yêu dân tìm kiếm một phương pháp cứu vãn tình thế. Trào lưu tư
tưởng triết học đầu tiên xuất hiện là học thuyết của Lão Tử với chính sách chủ
trương hủy bỏ học vấn, văn minh, dứt thánh bỏ trí để dân được lợi gấp trăm; dùng
đạo không làm gì mà không gì là không làm để đổi loạn thành trị. Thuyết Nhân Trị
của Nho Gia, Kiêm Ái của Mặc Gia, thuyết vị ngã của Dương Chu Chuỗi học
thuyết đó kết thúc đột ngột cùng sự tỏa diệt giữa đường của nền triết học cổ đại
Trung Quốc, với học thuyết chính trị cuối cùng do Hàn Phi người nước Hàn đề
xướng.
Khổng Tử hướng tới việc xây dựng một “xã hội đại đồng” (đại là lớn, đồng là
cùng chung), tức một xã hội thái bình ổn định, có trật tự kỷ cương, mọi người được
chăm sóc bình đẳng và mọi cái đều là của chung; là xã hội có đời sống vật chất đầy
đủ, có quan hệ người với người tốt đẹp; là xã hội có giáo dục , mọi người trong xã
hội được giáo hóa.
Tiểu luận Triết học Sự tương đồng và khác biệt giữa Nho gia và Pháp gia
K20 – Đêm 1 – Nhóm 2 – STT 13 10
Hàn Phi Tử đưa ra thuyết “pháp trị” cũng nhằm vào mục đích xây dựng một
xã hội ổn định, tạo tiền đề tiến tới xây dựng dân giàu nước mạnh, làm cho dân chúng
được yên bình, hạnh phúc.
2. Tính bảo thủ và nguyên tắc
Khổng Tử hướng đến xã hội trong quá khứ, mà nền tảng kinh tế của nó
không còn. Chế độ công hữu với phép tỉnh điền của nhà Chu không còn giá trị thực
tế, trong khi chế độ tư hữu ngày càng phát triển, quan điểm của Khổng Tử trở thành
chướng ngại cho sự phát triển. Ngoài ra, đạo “tam cương” của Khổng Tử thể hiện
lối sống gia trưởng, trọng nam khinh nữ, hạn chế sự phát triển của phụ nữ. Do đó,
học thuyết Nho gia vào thời Tần Thủy Hoàng không được trọng dụng, đến thời Hán
Vũ Đế được đưa lên thành quốc giáo nhưng đã mang một nội dung khác so với tư
tưởng Khồng Tử tạo ra.
Hàn Phi quá thiên về hình pháp hà khắc, học thuyết của Hàn Phi được Tư Mã
một vị quốc quân thích làm nhân chính, trong thiên hạ chẳng ai địch nổi". Không ai
địch nổi người nhân đức là ý niệm chính trị mà Mạnh Tử suốt đời tin tưởng theo
đuổi. Quả thật là Mạnh Tử rất nhất quán trong quan niệm lấy nhân đức làm nguyên
tắc chỉ đạo chính trị của mình. Trước sau như một ông luôn luôn chỉ nói đến nhân
nghĩa, chỉ đề cao nhân nghĩa. Quan điểm của ông thật rõ ràng: "Người ưa điều thiện
thì dư sức cai trị thiên hạ nếu nhà cầm quyền ưa điều thiện, ắt người trong bốn
biển sẽ khinh thường đường xa muôn dặm mà đến với mình, để mách bảo điều
thiện với mình". Người nhân là người vô địch trong thiên hạ, bởi vì "điều nhân
thắng điều bất nhân, cũng như nước thắng lửa".
Còn nói theo lời Hàn Phi “trọng nhân nghĩa thì nước yếu loạn, đó là ba nước
Tấn (Hàn Ngụy Triệu); không trọng nhân nghĩa mà mạnh là nước Tần”. Muốn nước
tồn tại, muốn nước mạnh lên, không thể trọng nhân nghĩa nữa, không thể dùng chính
sách nhân trị nữa. Hàn Phi cũng đã nói về chữ “pháp” trong thiên Định Pháp như
sau: “Luật pháp là những hiến lệnh soạn ra dành riêng ở quan phủ, hình phạt ắt phải
Tiểu luận Triết học Sự tương đồng và khác biệt giữa Nho gia và Pháp gia
K20 – Đêm 1 – Nhóm 2 – STT 13 12
tùy lòng người: thưởng dành riêng cho ai tôn trọng luật pháp và phạt thì áp cho kẻ
trái lịnh vậy”. Hàn Phi còn nói thêm: “pháp luật được ghi chép rõ ràng trong sách
vở, bày ra nơi quan phủ và phổ biến ra trong bá tánh” (Nạn Tam). Như vậy “pháp”
của Hàn Phi là những điều luật được chép thành văn, công bố rộng rãi, áp dụng nhất
trí và dựa vào sự thưởng phạt để duy trì sự công hiệu. Theo nghĩa trên, hình pháp và
hình phạt không phải là một. Hình phạt chỉ là công cụ để bảo đảm pháp luật được
trên dưới cùng theo mà thôi.
2. Quan niệm về con người
Điểm khác biệt thứ hai phải kể đến là quan niệm về con người, Nho gia mà
tiêu biểu là Khổng Tử và Mạnh Tử cho rằng bản tính con người là “thiện”, Pháp gia
cho rằng “ác”, điểm khác biệt này phần nào hình thành sự khác nhau giữa Nho gia
và Pháp gia về chủ trương trị quốc.
a. Thuyết tính thiện của Nho gia
Mạnh Tử lại quan niệm rằng, nguyên lý của muôn vật đều nằm trong ý thức
của chủ quan con người “mọi vật đều có đầy đủ trong ta” (vạn vật giai bị ư ngã).
Không phải tìm kiếm ở đâu xa xôi, chỉ cần phát huy bản năng đạo đức trong nội tâm
(tận tâm) là có thể thấu hiểu được bản tính của mọi sự vật ngoài ta (tri tinh). Đồng
thời đã là người ai cũng có trong người cái mầm thiện, đó là lòng trắc ẩn (thương
xót), lòng tu ố (thẹn, ghét), lòng từ nhượng (khiêm nhường), lòng thị phi (phải trái).
Lòng trắc ẩn là đầu mối của nhân, lòng tu ố là đầu mối của nghĩa, lòng từ nhượng là
đầu mối của lễ, lòng thị phi là đầu mối của trí. “Đầu mối” ở đây có nghĩa là “gốc”.
là “nguồn”. Vì vậy ông khẳng định tính người vốn thiện, người ta sở dĩ có những
hành vi bất thiện là do bị “vật dục” che lấp không phát huy mạnh mẽ cái tính thiện
trời cho. Nếu biết phát huy các đầu mối ấy thì con người ngày càng mạnh, có đủ sức
giữ gìn bốn biển.
Tiểu luận Triết học Sự tương đồng và khác biệt giữa Nho gia và Pháp gia
K20 – Đêm 1 – Nhóm 2 – STT 13 14
Bản tính thiện của con người còn xuất phát từ cái chung của loài người,
“phàm những vật đồng loại đều mang một bản chất giống nhau. Tại sao đối với con
người ta lại nghi ngờ điều đó? Các bậc thánh nhân và chúng ta đều là đồng loại”.
Ý nghĩa tích cực “thuyết tính thiện” của Mạnh Tử là ở chỗ phát huy bốn đầu
mối, làm cho phần tốt trong con người ngày càng phát triển, còn phần xấu ngày càng
thu hẹp lại. Bên cạnh đó, tính thiện nhằm chứng minh trật tự xã hội và các giáo điều
đạo đức do giai cấp thống trị đương thời chế định ra là chân lý phổ biến, bền vững,
không thể thay đổi, bởi nó phù hợp với “đức tính bẩm sinh” của nhân loại.
b. Thuyết tính ác của Pháp gia
Hàn Phi Tử kế thừa tư tưởng của thầy mình, Tuân Tử. Theo Tuân Tử tính “là
cái trời sinh ra đã có vốn thế, không thể học cũng không thể làm ra được. Cái gì
không học, không làm mà đã có ở lòng người rồi, cái đó mới là tính.” Vậy tính của
con người gồm “mắt ưa sắc đẹp, tai ưa tiếng hát hay, miệng ưa vị ngon, tâm ưa lợi,
xương ưa da, thân thể ưa an nhàn”, những nhu cầu bẩm sinh có, tự nhiên. Tính của
con người cũng bao gồm cái thôi thúc phải đáp ứng những nhu cầu vốn có ấy và là
Ngư, những người bề trên không nghiêm trị mà vẫn có đức hạnh. Nhưng số hiền
nhân đó hiếm có, giống như cây tên tự nó đã thẳng sẵn, hoặc như khúc cây tự nó
tròn sẵn, cả trăm đời cũng không có được một, ngàn đời cũng không có được một.
Vì chỉ là thiểu số nhỏ bé nên Hàn Phi xem dạng người đó như không tồn tại. Bởi
“phép nước không thể mất, mà số dân cần trị không phải chỉ có một người. Cho nên
bậc vua chúa biết dùng thuật không tuỳ theo cái thiện ngẫu nhiên mà chỉ thi hành cái
đạo tất nhiên, dùng chính sách thích hợp với đại chúng, bỏ chính sách chỉ thích hợp
với một ít người” (Hiển học). Bỏ qua số cá nhân hiếm hoi, con người từ trên xuống
dưới là những kẻ đầy lòng ham muốn. Ai cũng có những ưa ghét bẩm sinh và có
động lực mạnh mẽ khi đối diện những nhu cầu tự nhiên đó. Dấu vết của chúng được
Hàn Phi tìm thấy trong tất cả mối quan hệ thông thường giữa con người với con
người, tác động mạnh nếu không nói là quyết định tính chất của quan hệ.
Tiểu luận Triết học Sự tương đồng và khác biệt giữa Nho gia và Pháp gia
K20 – Đêm 1 – Nhóm 2 – STT 13 16
Tính chất mối quan hệ sẽ rất tốt, nếu mối quan hệ đáp ứng nhu cầu của hai
bên. Khi đó người xa lạ cũng có thể tốt với nhau không kém gì ruột thịt. “Thầy lang
khéo mút vết thương, ngậm máu bệnh nhân không phải vì tình cốt nhục, chỉ vì lợi.”
“Chủ ruộng mướn người gieo mạ, cày ruộng, không ngại phí tổn cho ăn ngon, lại lựa
tiền, vải tốt mà trả công, không phải vì yêu thương đâu mà vì nghĩ: “có vậy người ta
cày mới sâu, cào cỏ mới kĩ cho mình”. Người làm công đó hết sức cày và cào cỏ,
sửa sang lại bờ ruộng, không phải vì yêu chủ ruộng mà vì nghĩ: “Có vậy chủ mới
cho ăn ngon, mà tiền, vải mới tốt.” Như vậy một bên cung dưỡng hậu hĩ, một bên
gắng sức làm việc, có cái ân trạch giữa cha con, hai bên đều hết nghĩa vụ, đều vì
mưu cái lợi cho chính mình.” (Ngoại trừ thuyết tả thượng).
“Nếu lòng thấy có hại thì dù là cha con cũng xa nhau, oán nhau”: “Cha mẹ
không săn sóc con kĩ khi cňn nhỏ thě lớn lên nó oán. Con được nuôi cho thành
người rồi mà cung dưỡng cha mẹ không được hậu thì cha mẹ giận oán trách” (Ngoại
trừ thuyết tả thượng). Nho Gia từ Khổng Tử chủ trương “trung thứ”, từ mình suy ra
người, từ trong suy ra ngoài. Cho nên có hiếu với cha mẹ mình mới trung tín được
Xem ai cũng vì mình, Hàn Phi khuyên kẻ cai trị chỉ nên cậy vào thế lực có
thể khống chế được người mà không nên tin người. Vì cái lợi của hai bên có thể đối
chọi nhau “Cái lợi của vua chúa ở chỗ kẻ nào có tài thì giao cho quan chức, còn cái
lợi của bề tôi ở chỗ mình vô tài mà được làm quan; cái lợi của vua chúa ở chỗ ai có
công lao thì mới thưởng cho tước lộc, còn cái lợi của bề tôi ở chỗ mình không có
công mà cũng được giàu sang; cái lợi của vua chúa ở chỗ khiến cho hào kiệt trổ hết
tài năng, còn cái lợi của bề tôi ở chỗ kết bè đảng mà mưu tư lợi.” Cái lợi đoạt được
từ kẻ cầm quyền lại lớn. Do đó kẻ cầm quyền là cái đích lợi và hại của rất đông
người. “Trong việc cướp quyền giết vua, chế ngự một nước vạn cỗ xe để hưởng cái
lợi lớn thì bề tôi nào chẳng là Dương Hổ (một phản thần). Việc làm hễ tinh tế, khéo
léo thì thành, sơ suất, vụng về thì thất bại. Bề tôi chưa khởi loạn là vì dự bị chưa đủ.
Bề tôi nào có cái lòng như Dương Hổ mà vua không biết là vì việc làm của họ tinh
Tiểu luận Triết học Sự tương đồng và khác biệt giữa Nho gia và Pháp gia
K20 – Đêm 1 – Nhóm 2 – STT 13 18
tế, khéo léo. Dương Hổ vì tham muốn đánh bề trên, mà để cho thiên hạ biết được là
do hắn sơ suất, vụng về” (Biện Nạn IV). Vua chúa trong học thuyết của Hàn Phi trở
thành những người cô đơn nhất, hình hợp hoàn toàn với những danh “cô”, “quả” mà
bọn họ thường tự gọi. “Giữa vua tôi không có tình anh em ruột thịt.”. “Chúa có vạn
cỗ xe, vua có ngàn cỗ xe thì hoàng hậu, thứ phi, phu nhân, đích tử thế nào cũng có
người muốn cho vua chết sớm”. “Bậc vua chúa chết vì bệnh chưa được phân nửa”
(Biện Nạn, Bị Nội).
Với những lời trên, giai cấp quý tộc, chìa khóa thành công của chính sách
nhân trị, trong học thuyết của Hàn Phi trở thành những kẻ cần phải dùng hình pháp
để khống chế nhất. Nhận xét trên càng có giá trị hơn vì nó được nói lên bởi một quý
tộc cỡ bự, sinh ra trong lòng của giai cấp quý tộc và ngày ngày tiếp xúc với quý tộc.
Giá trị cũng xuất phát từ thực tiễn hoạt động chính trị, từ bi kịch của bản thân tác
giả. Xây dựng học thuyết để cứu nước vậy mà chỉ có nước kẻ thù nhận ra giá trị còn
nước cha mẹ lại không dùng. Bọn quý tộc đương thời toàn là bọn trọng nhân và bè
lũ mà kẻ sĩ vì nước vì dân vốn đã hiếm hoi lại càng hiếm hoi hơn. Vì muốn làm kẻ sĩ
Thường là lẽ đạo đức mà nam giới phải theo. Tam Tòng và Tứ Đức là lẽ đạo đức mà
nữ giới phải theo. Khổng Tử cho rằng người trong xã hội giữ được Tam Cương, Ngũ
Thường, Tam Tòng, Tứ Đức thì xã hội được an bình.
Tam Cương: Tam là ba; Cương là giềng mối; Tam Cương là ba mối quan hệ:
Quân thần (vua tôi), Phụ tử (cha con), Phu thê (chồng vợ).
- Quân thần: Trong quan hệ vua tôi, vua thưởng phạt công minh, tôi trung
thành một dạ.
- Phụ tử: Trong quan hệ cha con, cha nuôi dạy con cái, con cái hiếu kính vâng
phục cha và khi cha già thì phải phụng dưỡng.
- Phu thê: Trong quan hệ chống vợ, chồng yêu thương và công bình với vợ,
vợ vâng phục và chung thủy giữ tiết với chồng.
Ngũ Thường: Ngũ là năm; Thường là hằng có; Ngũ Thường là năm điều phải
hằng có trong khi ở đời, gồm: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.
Tiểu luận Triết học Sự tương đồng và khác biệt giữa Nho gia và Pháp gia
K20 – Đêm 1 – Nhóm 2 – STT 13 20
- Nhân: Lòng yêu thương đối với muôn loài vạn vật.
- Nghĩa: Cư xử với mọi người công bình theo lẽ phải.
- Lễ: Sự tôn trọng, hòa nhã trong khi cư xử với mọi người.
- Trí: Sự thông biết lý lẽ, phân biệt thiện ác, đúng sai.
- Tín: Giữ đúng lời, đáng tin cậy.
Tam Tòng: Tam là ba; Tòng là theo. Tam tòng là ba điều người phụ nữ phải
theo, gồm: "tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử"
- Tại gia tòng phụ: nghĩa là, người phụ nữ khi còn ở nhà phải theo cha.
- Xuất giá tòng phu: lúc lấy chồng phải theo chồng,
- Phu tử tòng tử: nếu chồng qua đời phải theo con"
Tứ Đức: Tứ là bốn; Đức là tính tốt. Tứ Đức là bốn tính nết tốt người phụ nữ
phải có, là: Công - Dung - Ngôn - Hạnh.
- Công: khéo léo trong việc làm.
- Dung: hòa nhã trong sắc diện.
nó phải lớn hơn cái hại.
2/ Hợp với thời thế. Đây chính là thuyết biến pháp của Hàn Phi. Đối với ông, không
có một pháp luật siêu hình hay một mô hình pháp luật trừu tượng tiên thiên để mà
noi theo. Chỉ duy nhất có yêu cầu và tiêu chuẩn của thực tiễn. “Pháp luật thay đổi
theo thời thì trị; việc cai trị thích hợp theo thời thì có công lao Thời thế thay đổi
mà cách cai trị không thay đổi thì sinh loạn Cho nên, bậc thánh nhân trị dân thì
pháp luật theo thời mà thay đổi và sự ngăn cấm theo khả năng mà thay đổi”.
3/ Ổn định, thống nhất. Mặc dù pháp luật phải thay đổi cho hợp với thời thế, song
trong một thời kỳ, pháp lệnh đã đặt ra thì không được tùy tiện thay đổi (“số biến
pháp”), vì nếu vậy thì dân chúng không những không thể theo, mà còn tạo cơ hội
cho bọn gian thần.
4/ Phù hợp với tình người, dễ biết dễ làm.
5/ Đơn giản mà đầy đủ.
6/ Thưởng hậu phạt nặng
Tiểu luận Triết học Sự tương đồng và khác biệt giữa Nho gia và Pháp gia
K20 – Đêm 1 – Nhóm 2 – STT 13 22
Nguyên tắc chấp pháp:
1/ Tăng cường giáo dục pháp chế, tức là “dĩ pháp vi giáo”.
2/ Mọi người, ai ai cũng bình đẳng trước pháp luật, tức “pháp bất a quý”, “hình bất tị
đại thần, thưởng thiện bất di tứ phu”. Đến bản thân bậc quân chủ – nhà vua – cũng
phải tôn trọng và tuân thủ pháp luật: “Kẻ làm vua chúa là kẻ phải giữ pháp luật, căn
cứ vào kết quả mà xét để lập công lao”; Nếu nhà vua biết bỏ điều riêng tư, làm theo
phép công thì chẳng những dân sẽ được yên, mà nước cũng được trị. Nếu xét theo ý
nghĩa của những luận điểm này thì có thể thấy rằng, mặc dù Hàn Phi chủ trương
quân quyền thần thánh không thể xâm phạm, song hình thái quân quyền này vẫn bị
chế ước bởi pháp quyền.
3/ Nghiêm khắc cẩn thận, “tín thưởng tất phạt”, không được tùy ý thưởng cho người
không có công, vô cớ sát hại người vô tội.
4/ Dùng sức mạnh đạo đức hỗ trợ cho việc thi hành pháp luật.