Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Võ Thị Quý đã tận tình hướng dẫn và
giúp đỡ tôi thực hiện tốt luận văn này cũng như hoàn thiện các kiến thức chuyên môn của
tôi.
Tôi xin trân trọng cảm ơn đến các Thầy cô khoa Quản trị kinh doanh Trường Đại
học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là Tiến sĩ Nguyễn Quang Thu đã giúp đỡ và
truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt thòi gian tôi đã học tập tại trường
cũng như việc hoàn thành luận văn tốt nghiệp này.
Nhân đây tôi xin trân trọng cảm ơn Anh Đặng Xuân Cảnh - Tổng Giám đốc của
Công ty Kiểm toán DTL đã cho tôi lời khuyên bổ ích về các chuẩn mực kế toán Việt Nam
và chuẩn mực kế toán quốc tế, cảm ơn anh Lê Khánh Lâm - Phó Tổng Giám đốc Công ty
Kiểm toán DTL đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi có thời gian hoàn thành luận văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Khoa Quản trị kinh doanh và Phòng quản lý đào tạo sau
Đại học - Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi
trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn Gia tình đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này.
Tác giả
NGUYỄN THỊ LIÊN HƯƠNG
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Các phân
tích, số liệu và kết quả nêu ữong luận văn là hoàn toàn trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.
Tác giả
NGUYỄN THỊ LIÊN HƯƠNG
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIÉT TẮT
International Accounting Standards Chuẩn mực kế
toán quốc tế
International Financial Reporting Standards Chuẩn
mực báo cáo tài chính quốc tế
International Accounting Standard Committee ủy
Ban Chuẩn mực kế toán quốc tế
International Accounting Standard Board Hội đồng
của đề tài
Quá trình toàn cầu hóa cùng với sự phát triển nhanh chóng của thị trường vốn
quốc tế đòi hỏi thông tin tài chính phải nâng cao chất lượng và phải so sánh được với
nhau; để so sánh được với nhau các thông tín tài chính phải được ghi nhận trên cùng hệ
thống chuẩn mực kế toán chung, là tiền đề để hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế
(IAS) được hình thành. Trên thực tế, các quốc gia có thể áp dụng các chuẩn mực kế
toán khác nhau để lập các báo cáo tài chính và các chuẩn mực kế toán có thể có sự
khác biệt. Sự khác biệt của hệ thống các chuẩn mực kế toán xuất phát từ sự khác nhau
về văn hóa, hệ thống pháp lý, chính trị, quá trình hình thành và phát triển của các hiệp
hội nghề nghiệp. Và các báo cáo tài chính của cùng một doanh nghiệp được lập trên
các hệ thống chuẩn mực khác nhau có thể có sự khác biệt.
Chuẩn mực kế toán quốc tế đang dần được áp dụng chung ữên hơn 100 quốc
gia trên thế giới và tại các quốc gia chưa áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế cũng
đang diễn ra quá trình hòa hợp giữa hệ thống chuẩn mực kế toán của quốc gia đó với
chuẩn mực kế toán quốc tế. Ví dụ điển hình, Mỹ đã ký hiệp ước Norwalk năm 2002
nhằm thúc đẩy quá trình hòa hợp giữa chuẩn mực kế toán quốc tế và Hệ thống các
nguyên tắc kế toán đã được chấp nhận của Mỹ (US GAAP - Generally Accepted
Accounting Principles); căn cứ vào hiệp ước này, ủy Ban chuẩn mực kế toán quốc tế sẽ
chỉnh sửa một số điểm trong chuẩn mực kế toán quốc tế và đến năm 2011 Mỹ sẽ
chuyển qua sử dụng chuẩn mực kế toán quốc tế. Một ví dụ khác vào tháng 1 năm
2006, ủy Ban chuẩn mực kế toán Canada cũng đã thông qua kế hoạch 5 năm hội tụ
giữa Hệ thống các nguyên tắc kế toán đã được chấp nhận của Canada (GAAP Canada)
với chuẩn mực kế toán quốc tế.
Các nghiên cứu gần đây trên thế giới đã khẳng định rằng chuẩn mực kế toán
quốc tế là một chuẩn mực chuẩn các quốc gia cần sử dụng để tham chiếu và thực hiện.
Nghiên cứu của Mary E.Barth của Staníord Graduate School of Business, Wayne
R.Landsman của University of North Carolina at Chapel Hill - Accounting Area và
Mark H.Lang của University of North Carolina at Chapel Hill, ngày 1 tháng 9 năm
6
2007, đã tiến hành nghiên cứu trên 21 quốc gia ưên thế giới và nhận thấy khi sử dụng
hơn khi ra các quyết định đầu tư.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Phân tích sự khác biệt của một số khoản mục giữa hai hệ thống chuẩn mực kế
toán Việt Nam và quốc tế có ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư;
Ví dụ minh họa và khuyến nghị.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là những khác biệt của một số khoản mục giữa hai hệ
thống chuẩn mực kế toán có ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư;
Phạm vi nghiên cứu chỉ nghiên cứu ở các khác biệt của hệ thống hai chuẩn mực
ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư mà không đi sâu phân tích sự khác biệt của
từng chuẩn mực kế toán.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính,
tổng hợp, so sánh, đối chiếu và phương pháp chuyên gia.
Dữ liệu sử dụng: đa nguồn.
■ Các dữ liệu sơ cấp đã được thu thập thông qua việc phỏng vấn các chuyên
gia trong lĩnh vực kế toán tài chính.
■ Các dữ liệu thứ cấp đã được thu thập thông qua tìm hiểu các nghiên cứu về
chuẩn mực kế toán quốc tế, nghiên cứu sâu vào các chuẩn mực kế toán Việt
Nam và chuẩn mực kế toán quốc tế. Bên cạnh đó, nghiên cứu tìm hiểu các
phân tích về sự khác biệt của chuẩn mực kế toán Việt Nam và kế toán quốc
tế ảnh hưởng đến báo cáo tài chính và các nghiên cứu về tình hình sử dụng
thông tin kế toán ưong đầu tư cũng được quan tâm xem xét.
8
■ Các dữ liệu về các thông tin tài chính được thu thập tại các Báo cáo tài
chính tại các Báo cáo thường niên đã được công bố. Riêng báo cáo tài chính
của Công ty A đã được sự cho phép của Giám đốc tài chính của công ty, vì
không phải là công ty niêm yết và theo yêu cầu của công ty nên sẽ không
nêu tên công ty trong nghiên cứu này.
■ Hầu hết các dữ liệu được thu thập từ internet, các trang web của chính phủ
đạt được đáp ứng được hai mục tiêu sau (1) có khả năng thành công hoặc hiệu quả nhất
và (2) đó là giải pháp đạt được mục tiêu, mong muốn, sở thích của chúng ta
Một định nghĩa khác của Robert Harris, 2008 nói rằng ra quyết định chính là
quá trình nhằm làm giảm đi một cách đáng kể các sự kiện không chắc chắn và các nghi
ngờ giữa các lựa chọn để cho phép chọn ra vấn đề chắc chắn nhất. Định nghĩa này
nhấn mạnh đến chức năng liên kết thông tin trong quá trình ra quyết định.
1.1.2 Quá trình ra quyết định
Nhìn chung, có sáu bước cơ bản trong quá tình ra quyết định:
1
0
Hình 1. Quá trình ra quyết định
Xác định vấn đề cần phải ra quyết định: câu hỏi đầu tiên khi ra quyết định là
cần phải biết chúng ta đang giải quyết vấn đề gì. Chúng ta thường hành động và bị chi
phối của những hiện tượng bề nổi mà quên đi cái gốc mà chúng ta cần phải giải quyết
là gì, để rồi đầu tư vào những hiện tượng bề nổi mà quên đi vấn đề cốt lõi hoặc đầu tư
vào những điểm không cần thiết dẫn đến lãng phí thời gian và công sức.
Xây dựng tiêu chí sơ bộ ra quyết định và giải quyết vấn đề: mọi quyết định
khi đưa ra đều phải có những tiêu chí rõ ràng để đạt được những quyết định hiệu quả,
tiêu chí càng rõ ràng bao nhiêu thì chúng ta càng có cơ hội ra quyết định chuẩn xác bấy
nhiêu. Các tiêu chí được lựa chọn phải căn cứ vào mục đích của Yấn đề và kết quả mà
chúng ta hướng tới. Nếu việc đưa ra quyết định không dựa trên các tiêu chí rõ ràng
hoặc dựa trên cảm tính của người quyết định sẽ dẫn đến các sai lầm.
Thu thập thông tin: trong bước này đòi hỏi người ra quyết định phải xác định
được các loại thông tin cần thu thập, xác định được nguồn thông tin có thể thu thập, đề
ra các phương pháp thu thập thông tin và các phương pháp xử lý thông tin và các thông
tin này phải phù hợp với các tiêu chí đưa ra.
1
1
Đánh giá và lựa chọn các giải pháp/phương án: căn cú vào các thông tin đã
thu thập được, các tiêu chí đã lựa chọn và các phương pháp phân tích cụ thể để đưa ra
nhằm xác định giá trị cơ bản của doanh nghiệp.
Trong nghiên cứu này sẽ tập trung vào quá trình ra quyết định của các nhà đầu
tư dài hạn thông qua việc sử dụng phương pháp phân tích cơ bản trong đầu tư.
1.2 Khái quát chung về hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) và hệ
thống chuẩn mực kế toán quốc tế (1AS)
1.2.1 Định nghĩa về kế toán và chuẩn mực kế toán
Kế toán là một hoạt động mang tính chuyên môn cao có chức năng cung cấp các
thông tin trung thực, hợp lý về tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp, giúp cho người sử dụng có thể đưa ra các quyết định. Kế toán phải làm cho
người sử dụng hiểu được, tin cậy và phải giúp so sánh được các thông tin tài chính.
Muốn vậy, cần phải có các quy định làm khuôn mẫu giúp đánh giá, ghi nhận và trình
bày thông tin tài chính, đó chính là những chuẩn mực kế toán.
Vậy chuẩn mực kế toán là những quy định và hướng dẫn các nguyên tắc, nội
dung, phương pháp và thủ tục kế toán cơ bản, chung nhất, làm cơ sở ghi chép kế toán
và lập Báo cáo tài chính nhằm đạt được sự đánh giá trung thực, hợp lý, khách quan về
thực trạng tài chính và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
1.2.2 Chuẩn mực kế toán quốc tế
Hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế là hệ thống chuẩn mực đề cập đến những
vấn đề mang tính nền tảng, khuôn mẫu, những nguyên tắc, phương pháp có tính chất
cơ bản được chấp thuận rộng rãi trên toàn thế giới.
Cơ quan đầu tiên xây dựng và ban hành hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế
chính là ủy Ban chuẩn mực kế toán quốc tế (“IASC”). Đây là một tổ chức độc lập
thành lập vào năm 1973, bao gồm đại diện của 13 nước thành viên trực thuộc Liên
đoàn kế toán quốc tế (“IFAC”), đại diện của 03 tập đoàn kinh tế lớn và một số quan sát
1
3
viên độc lập đến từ ủy Ban Châu Âu, Trung Quốc, ủy Ban chứng khoán quốc tế
(IOSCO), ủy Ban chuẩn mực kế toán tài chính Hoa Kỳ.
Đến năm 12/1999, IASC đã chỉ định ủy ban lựa chọn và thành lập Hội đồng
thành viên (“Trustees”) gồm 22 thành viên đến từ các khu vực địa lý, lĩnh vực và
trường đại học và Hội kế toán Việt Nam. Vụ chế độ kế toán là đơn vị thường trực của
các Ban chỉ đạo và các Tổ soạn thảo chuẩn mực, có nhiệm vụ tổ chức triển khai việc
soạn thảo, tiếp thu ý kiến và hoàn chỉnh trình Bộ ký ban hành.
Việt Nam đã ban hành được 26 chuẩn mực kế toán sau 5 đợt ban hành. Các
chuẩn mực kế toán của Việt Nam cũng đã dịch ra tiếng Anh nhằm đáp ứng nhu cầu của
nhà đầu tư nước ngoài trong việc tìm hiểu hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam. Các
chuẩn mực kế toán Việt Nam so với chuẩn mực kế toán quốc tế đã có sự tương đối phù
hợp về nội dung, về cơ sở đánh giá, ghi nhận và trình bày trên BCTC mà còn cả về
hình thức trình bày.
1.2.4 Những khác biêt giữa hê thống chuẩn mưc kế toán Viêt Nam và
o I o • o • •
hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế
Với xu hướng toàn cầu hóa về hợp tác và phát triển kinh tế, sự hình thành hàng
loạt các công ty đa quốc gia, thị trường tài chính quốc tế và các hoạt động thương mại
quốc tế, nhà đầu tư không chỉ hoạt động ữong phạm vi khu vực mà còn mở rộng hoạt
động ra toàn thế giới. Các báo cáo tài chính phải nói cùng một ngôn ngữ, nhằm nâng
cao tính khách quan, tính có thể tin cậy được, tính có thể so sánh được là một nhu cầu
khách quan và tất yếu. Một ví dụ điển hình ảnh hưởng đến việc so sánh của các nhà
đầu tư do sự khác biệt của chuẩn mực kế toán của công ty Daimler Benz năm 1993,
công ty sản xuất hàng đầu của Đức và là công ty đầu tiên của nước này niêm yết cổ
phiếu trên thị trường chứng khoán NewYork, đã buộc phải chấp nhận các yêu cầu công
bố thông tín theo chuẩn mực kế toán Mỹ. Theo đó, Công ty Daimler Benz đã phải công
bố quỹ dự trữ vào khoảng 4 tỷ DM (tương đương 2 tỷ đô la Mỹ) trên thị trường New
York mà theo luật của Đức thì công ty không cần phải công bố khoảng quỹ dự trữ này.
Luật kế toán của Đức theo khuynh hướng chống rủi ro -risk-averse trong đầu tư, ữong
1
5
khi đó hệ thống kế toán Mỹ theo khuynh hướng risk-friendly và báo cáo tài chính được
thiết kế nhằm cung cấp thông tin cho các cổ đông tiềm năng (Geoffrey Mazullo, 1999).
Sự khác biệt này đem lại sự phẫn nộ của các cổ đông của Công ty Daimler Benz ở Đức
được thay thế bởi hệ thống tài khoản kế toán theo Quyết định 15/2006/QĐ-
BTC ngày 20/03/2006 cho chế độ kế toán doanh nghiệp và Quyết định
48/2006/QĐ-BTC ngày 14/09/2006 cho doanh nghiệp vừa và nhỏ. Quyết
định 15/2006/QĐ-BTC được ban hành là một bước tiến giúp doanh nghiệp
có thể đơn giản hóa công tác nghiên cứu và tuân thủ chế độ kế toán, nhất
thể hóa công tác kế toán tiến tới nâng cao tính minh bạch trong kế toán tài
chính, đảm bảo tính có thể so sánh được về tình hình tài chính, kết quả kinh
doanh của doanh nghiệp Việt Nam với nhau.
Theo Quyết định 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006, khi xây dựng hệ
thống tài khoản, doanh nghiệp sẽ tuân thủ đúng với nội dung, kết cấu và
phương pháp hạch toán của các tài khoản cấp 1 và cấp 2; doanh nghiệp chỉ
có thể xây dựng hệ thống tài khoản cấp 3 trở đi cho phù hợp với
tình hình quản lý của doanh nghiệp. Vì sự ràng buộc chặt chẽ nói trên nên
việc ghi nhận các nghiệp vụ kinh tế phát sinh của các doanh nghiệp Việt
Nam cũng bị nhiều hạn chế.
Trên thực tế, hệ thống tài khoản của các doanh nghiệp thường lập ra nhằm
cho mục đích báo cáo thuế là chính nên cũng ảnh hưởng đến khả năng xây
dựng một hệ thống tài khoản phục vụ cho mục đích kế toán quản ữị của
doanh nghiệp.
■ Hệ thống báo cáo tài chính: Tương tự như hệ thống tài khoản củã doanh
nghiệp, hệ thống Báo cáo tài chính của Việt Nam phải xây dựng tuân theo mẫu
do Bộ Tài chính đưa ra. Trong khi đó, IAS 01 - Trình bày báo cáo tài chính chỉ
1
7
yêu cầu doanh nghiệp phải trình bày đầy đủ các chỉ tiêu tài chính cần thiết ưong
từng loại báo cáo.
■ Hệ thống phương pháp đánh giá tài sản: Đối với phương pháp đánh giá
các tài sản, giống như chuẩn mực kế toán Việt Nam thì chuẩn mực kế toán quốc
tế cũng có phương pháp khấu hao ngoài ra còn có các phương pháp đánh giá tài
sản khác là đánh giá lại và tổn thất.
của một doanh nghiệp. Việc xác định giá trị nội tại của một doanh nghiệp phụ thuộc
vào việc phân tích tình hình tài chính cũng như tình hình kinh doanh của doanh nghiệp
để xem xét chất lượng của công ty cũng như việc phát triển công ty theo thời gian, nhờ
đó tiên đoán các chuyển biến giá chứng khoán, giá trị doanh nghiệp là mục tiêu chính
trong phân tích cơ bản. Vì vậy, thông tin kế toán (bao gồm các báo cáo tài chính) là
một nguồn thông tin quan trọng để nhà đầu tư có thể dựa vào đó phân tích, đánh giá và
đưa ra quyết định đầu tư thông qua lựa chọn doanh nghiệp nào có nhiều triển vọng
nhất.
1.3.1 Báo cáo tài chính
Các báo cáo tài chính cung cấp cho nhà đầu tư rất nhiều thông tín hữu ích. Khi
phân tích và xem xét báo cáo tài chính sẽ đem lại các câu trả lời cho các câu hỏi chẳng
hạn như: quy mô công ty lớn như thế nào? Công ty có đang tăng trưởng không? Công
ty đang làm ra tiền hay đang hao hụt tiền? Công ty có tỷ lệ tài sản lưu động so với tài
sản cố định như thế nào? Công ty chủ yếu đang vay ngắn hạn hay vay dài hạn? Công ty
có đang phát hành thêm trái phiếu hay cổ phiếu trong năm vừa qua? Công ty đã thực
hiện các khoản chi phí đầu tư lớn ữong năm vừa qua? Công ty đã hiện đang có nhiều
tiền mặt hay không hay đang thiếu tiền. Có các báo cáo tài chính chủ yếu như sau:
■ Bảng cân đối kế toán: là bảng báo cáo tài chính được lập vào một thời điểm
nhất định ữong năm theo hai cách phân loại vốn và nguồn hình thành vốn cân
đối nhau. Nó bao gồm các loại tài sản có, tài sản nợ và vốn cổ phần của một
1
9
doanh nghiệp. Nó có ý nghĩa rất quan trọng đối với nhiều đối tượng có quan hệ
sở hữu, quản lý kinh tế tài chính trong quá trình sản xuất kinh doanh của một
doanh nghiệp.
■ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh
doanh thu và chi phí của công ty trong một kỳ kế toán, thường là một năm tài
chính, số liệu ữên báo cáo này cung cấp những thông tin tổng hợp nhất về tình
hình và kết quả sử dụng các tiềm năng về vốn, lao động và kỹ thuật, kinh
nghiệm quản lý của một doanh nghiệp.
thời gian tò đó mới đưa ra các quyết định đầu tư.
Theo nghiên cứu của Võ Thị Ánh Hồng, 2008 một số các chỉ tiêu tài chính
được các nhà đầu tư quan tâm nhiều nhất như sau:
Thu nhập trên mỗi cổ phiếu thường EPS - Eaming per share (Lãi cơ bản
trên cổ phiếu) = Tổng lãi (Lợi nhuận) dành cho cổ đông thường/số lượng cổ phần
thường đang lưu hành trên thị trường. Theo nghiên cứu Graham, Harvey và
Rajgopal (2005) Payout Policy in the 21
st
century, Joumal of Financial Economics
77. 483-528, các Giám đốc tài chính tin rằng các nhà đầu tư quan tâm nhiều đến
Bảng 1.1 Các chỉ tiêu tài chính được nhà đầu tư quan tâm nhiều nhất
STT Chỉ tiêu Số ngưòi trả lòi
1 Thu nhập trên mỗi cổ phiếu thường (EPS) 71
2 Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) 68
3 Chỉ số giá thị trường so với giá trên mỗi cổ phiếu (P/E) 65
4 Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản 64
5 Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu 58
6 Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu 56
Nguồn: Võ Thị Ảnh Hồng, 2008 [06. P45 ]
2
1
chỉ tiêu EPS hơn là dòng tiền, vấn đề trên xuất phát từ các nguyên nhân sau: (1) các
nhà đầu tư hàng ngày nhận được rất nhiều thông tin (từ báo cáo tài chính cũng như từ
các nguồn khác) trong khi khả năng xử lý thì có hạn. Nên, các nhà đầu tư cần một chỉ
tiêu tổng hợp phản ánh kết quả kinh doanh của doanh nghiệp một cách đơn giản, dễ
hiểu và dễ so sánh; trong đó, EPS được coi là đáp ứng tốt các yêu cầu này. Lý do thứ
hai, chỉ tiêu EPS là chỉ tiêu được sử dụng một cách phổ biến nhất và xuất hiện với tần
suất nhiều nhất trên các phương tiện thông tin đại chúng đến mức mà người ta coi nó là
quan trọng mà chẳng cần hỏi lý do. Cuối cùng, giống như các nhà đầu tư các chuyên
gia phân tích tài chính, các ngân hàng đầu tư cũng muốn có một chỉ tiêu tổng hợp
thường dựa vào đây để đánh giá rủi ro tài chính của một doanh nghiệp. Tỷ số này càng
cao sẽ làm nguy cơ vỡ nợ cao tuy nhiên nếu các công ty làm ăn hiệu quả thì việc duy
trì một tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu có thể làm tăng thu nhập dự tính cho các nhà đầu
tư.
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu = Lãi ròng/ Doanh thu. Chỉ tiêu này sẽ
cho nhà đầu tư thấy được lãi ròng ữên mỗi đồng doanh thu
Một số chỉ tiêu khác cũng được xem là quan ữọng khi phân tích tỷ số và đạt
được câu trả lời tương đối cao theo nghiên cứu của Võ Thị Ánh Hồng, 2008 đó là: Tỷ
số thanh toán nợ ngắn hạn và Tỷ số khả năng thanh toán nhanh. Vì các chỉ tiêu này sẽ
trả lời cho câu hỏi doanh nghiệp có khả năng chi trả các khoản nợ chi trả khi đến hạn
hay không, nếu doanh nghiệp không có khả năng chi trả đồng nghĩa với việc doanh
nghiệp đang có nguy cơ trên bờ vực phá sản.
Tỷ số thanh toán nợ ngắn hạn = Tài sản lưu động/ nợ ngắn hạn, tỷ số này đo
lường khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của công ty bằng cách bán tài sản lưu động (tài
sản ngắn hạn có thời gian đáo hạn nhỏ hơn một năm) để thu tiền mặt để thanh toán các
khoản nợ ngắn hạn (nợ ngắn hạn có thời gian đáo hạn nhỏ hơn một năm), tỷ số này cho
nhà đầu tư thấy khả năng công ty có dễ dẫn tới việc bị phá sản hay không.
2
3
Tỷ số khả năng thanh toán nhanh = (tiền + khoản phải thu)/nợ ngắn hạn đo
lường khả năng thanh toán tốt hơn cho những doanh nghiệp có hàng tồn khi chưa thể
chuyển ngay thành tiền. Hàng tồn kho thông thường có tính thanh toán kém nhất trong
các tài sản lưu động của công ty. Vì thế chúng là tài sản có khả năng bị thiệt hại giá trị
trong trường hợp thanh lý. Do vậy, thước đo khả năng chi trả các khoản nợ ngắn hạn
không cần đến việc bán hàng tồn kho là một yếu tố quan trọng.
Tóm tắt chương 1
Các nhà đầu tư thường dựa vào các thông tin kế toán để đưa ra các quyết định
đầu tư thông qua phân tích các các chỉ tiêu tài chính để đánh giá tình hình của doanh
nghiệp. Phân tích báo cáo tài chính sẽ cung cấp cho các nhà đầu tư các dữ liệu đầy đủ
có thể đánh giá tình hình doanh nghiệp hiện tại cũng như cái nhìn tổng quan về tương
thời điểm cuối kỳ hoặc gần cuối kỳ còn tồn kho.
Phương pháp nhập sau, xuất trước (LIFO) áp dụng trên giả định là hàng tồn kho
được mua sau hoặc sản xuất sau thì được xuất trước, và hàng tồn kho còn lại cuối kỳ là
hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất trước đó. Theo phương pháp này thì giá trị vốn
hàng bán được tính theo giá của lô hàng nhập sau hoặc gần sau cùng, giá trị của hàng
tồn kho được tính theo giá của hàng nhập kho đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ còn tồn kho.
Việc tiếp tục cho sử dụng phương pháp này có thể dẫn đến sự khác biệt trong
giá vốn hàng bán trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Cụ thể, nếu sử dụng
phương pháp FIFO ữong điều kiện có lạm pháp sẽ dẫn đến giá trị hàng tồn kho trong
bảng cân đối kế toán sẽ lớn hơn so với khi sử dụng phương pháp LIFO; giá vốn hàng
bán sẽ thấp hơn so với sử dụng phương pháp LIFO; lợi nhuận báo cáo sẽ cao hơn so
với sử dụng phương pháp LIFO.
2.1.2 Kế toán tài sản cổ định hữu hình
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS 03, phương pháp đánh giá lại giá trị
tài sản cố định hữu hình chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa tại
Việt Nam. Ngoài ra, giá trị tài sản cố định hữu hình sau khi ghi nhận ban đầu chỉ cho
phép sử dụng phương pháp giá gốc và không được phép đánh giá lại. Nên, giá trị tài
2
5