Lớp bồi dưỡng kiến thức QLNN chương trình chuyên viên chính lớp K4.
Học viên: Trần Duy Hưng
UBND TỈNH THANH HÓA
TRƯỜNG CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN
Đề tài: Công tác quản lý trật tự xây dựng trên địa bàn huyện Cẩm Thủy.
Họ và tên: Trần Duy Hưng
Chức vụ, đơn vị công tác: Trưởng phòng
Lớp: Bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước chương trình
chuyên viên chính K3.
Thanh Hóa, tháng 5 năm 2014
1
Lớp bồi dưỡng kiến thức QLNN chương trình chuyên viên chính lớp K4.
Học viên: Trần Duy Hưng
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn của đề tài.
Trong những năm gần đây việc phát triển kinh tế - văn hóa xã hội đã làm
thay đổi diện mạo nông thôn, cùng với sự phát triển đó là tốc độ đô thị hoá đang
diễn ra hết sức nhanh chóng trên phạm vi Quốc gia. Huyện Cẩm Thủy cũng
không nằm ngoài sự phát triển đó, với tốc độ đô thị hoá nhanh cũng kéo theo
những hệ luỵ cần phải giải quyết đó là trật tự xây dựng.
Tình hình vi phạm trật tự xây dựng đã và đang là một vấn đề cần phải được
xem xét một cách nghiêm túc để nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong việc thực thi
các quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động xây dựng công trình và quản
lý quy hoạch xây dựng. Hiện nay hiện tượng xây dựng không phép, trái phép
xẩy tuy không phải là phổ biến nhưng trên địa bàn các xã, thị trấn của huyện
Cẩm Thủy có thể nhận thấy các công trình vi phạm về quy hoạch xây dựng, cấp
phép xây dựng ngày càng nhiều và đa dạng hơn, vi phạm không những chỉ ở các
nhằm hoàn thiện công tác xử lý vi phạm trật tự xây dựng trên địa bàn huyện
Cẩm Thủy.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu.
Để thực hiện mục đích đề ra, tiểu luận tập trung giải quyết các vấn đề:
- Tập hợp, phân tích làm sáng tỏ những vấn đề lý luận quản lý nhà nước
về xử lý vi phạm trật tự xây dựng.
- Đánh giá thực trạng, những mặt mạnh và những vấn đề còn tồn tại của
công tác xử lý vi phạm trật tự xây dựng trên địa bàn huyện Cẩm Thủy.
- Đề xuất một số nhóm giải pháp chung từ đó có những kiến nghị cụ thể
để nhằm hoàn thiện công tác xử lý vi phạm trật tự xây dựng trên địa bàn huyện.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Những nội dung chủ yếu trong công tác xử lý vi phạm trật tự xây dựng
trên địa bàn huyện Cẩm Thủy.
5. Phương pháp nghiên cứu.
Quán triệt các nguyên tắc duy vật biện chứng và chủ duy vật lịch sử của
chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh và một số thành tựu của khoa
học quản lý, khoa học tâm lý, văn hóa, xã hội, kinh tế, chính trị, pháp luật…vv.
Sử dụng đồng bộ, hài hòa, phù hợp các phương pháp nghiên cứu truyền
thống như tổng hợp và phân tích, thống kê, so sánh…vv.
6. Cấu trúc của tiểu luận.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, tiểu luận được kết cấu
thành 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận về công tác xử lý vi phạm trật tự xây dựng.
Chương 2. Thực trạng công tác xử lý vi phạm trật tự xây dựng trên
địa bàn huyện Cẩm Thủy.
Chương 3. Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xử lý vi phạm trật
tự xây dựng trên địa bàn huyện Cẩm Thủy.
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XỬ LÝ VI PHẠM
TRẬT TỰ XÂY DỰNG
đúng theo quy hoạch chi tiết của huyện, xã, thị trấn xây dựng không đúng chỉ
giới đường đỏ dễ gây tranh chấp đất đai, các biện pháp thi công không được
kiểm soát dễ gây ảnh hưởng tới môi trường xung quan, cảnh quan đô thị…vv.
- Công trình sai phép:
Là những công trình xây dựng không đúng với thiết kế đã được duyệt,
không đúng với nội dung Giấy phép xây dựng đã cấp. Những loại công trình này
đều đã có xin phép xây dựng xong sau khi có giấy phép lại xây dựng không
đúng trong giấy phép đã cấp. Hầu hết là xây lấn, xây tăng thêm so với giới hạn
đã cho phép. Những công trình này rất nhiều vì chủ đầu tư trong quá trình xây
dựng thường lấy cớ là đã có Giấy phép xây dựng sau đó là thực hiện hành vi xây
dựng sai phép. Hậu quả gây ra cũng không kém phần nghiêm trọng.
1.2.2 Các hình thức xử lý vi phạm trật tự xây dựng.
Chính phủ đã ban hành Nghị định 180/2007NĐ-CP ngày 07/12/2007 của
Chính phủ quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều của Luật xây dựng
về xử lý vi phạm trật tự xây dựng đô thị và Nghị định số 121/2013/NĐ-CP ngày
10/10/2013 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây
dựng, quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật, quản lý và phát triển nhà và công sở.
Theo đó, những công trình xây dựng không phép vẫn được xem xét cấp phép
xây dựng nếu đảm bảo một trong các điều kiện sau: Xây trên đất ở có giấy
4
Lớp bồi dưỡng kiến thức QLNN chương trình chuyên viên chính lớp K4.
Học viên: Trần Duy Hưng
chứng nhận quyền sử dụng đất; xây dựng mới trên nền nhà cũ hoặc cải tạo nhà
đang ở phù hợp quy hoạch xây dựng; công trình xây dựng có đủ điều kiện về
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi phát hiện, cơ quan chức năng sẽ
lập biên bản ngừng thi công, yêu cầu chủ đầu tư làm thủ tục xin cấp Giấy phép
xây dựng.
Nếu chủ đầu tư không chấp hành thì cơ quan chức năng đình chỉ thi công
trong thời hạn 60 ngày kể từ khi có quyết định đình chỉ thi công, nếu chủ đầu tư
không xuất trình Giấy phép xây dựng thì công trình sẽ bị cưỡng chế phá dỡ.
của Chính phủ từ 500 - 1.000 triệu đồng và bị tước quyền sử dụng Giấy phép
xây dựng (nếu có).
5
Lớp bồi dưỡng kiến thức QLNN chương trình chuyên viên chính lớp K4.
Học viên: Trần Duy Hưng
Ngoài việc áp dụng các hình thức phạt tiền, phạt bổ sung và thực hiện các
biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định, một số hành vi vi phạm còn phải
được công bố trên trang tin điện tử của Sở Xây dựng và của UBND huyện, nơi
ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
1.2.3. Nguyên tắc xử lý vi phạm trật tự xây dựng.
Mọi hành vi, vi phạm về trật tự xây dựng phải được phát hiện kịp thời và bị
đình chỉ ngay để xử lý. Việc xử lý vi phạm phải được tiến hành nhanh chóng
công minh, triệt để mọi hậu quả do hành vi vi phạm gây ra phải được khắc phục
theo đúng quy định của pháp luật.
Một hành vi, vi phạm chỉ bị xử phạt hành chính một lần, việc tái phạm phải
được xem là hành vi, vi phạm mới để xử phạt. Việc xử lý vi phạm hành chính
phải căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm, nhân thân người vi phạm và những
tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng để quyết định hình thức, biện pháp xử lý thích hợp.
Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính mà dung túng, bao che
không xử phạt hoặc xử phạt không kịp thời, không công minh, không đúng thẩm
quyền thì tuỳ theo tính chất, mức độ sai phạm sẽ bị xử lý kỷ luật hành chính
hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại vật chất thì phải bồi
thường theo quy định của pháp luật.
Cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính có hành vi chống đối
người thì hành công vụ, trì hoãn, trốn tránh thi hành quyết định xử phạt hoặc có
những hành vi, vi phạm khác thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử
phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại
về vật chất thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
1.3. Chủ thể có thẩm quyền xử lý vi phạm trật tự xây dựng trên địa
bàn cấp huyện.
hợp Tổ công tác chưa lập biên bản sau 24 giờ kể từ khi phát hiện hành vi vi
phạm, đông thời thông báo cho Chủ tịch UBND xã, thị trấn kiểm điểm làm rõ
trách nhiệm của Tổ công tác.
1.4.2. Ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Chủ tịch UBND, huyện, xã, thị trấn căn cứ phân cấp quản lý nhà nước về
quản lý trật tự xây dựng, sau khi nhận được hồ sơ, biên bản báo cáo đề xuất của
cán bộ chuyên trách quản lý trật tự xây dựng có trách nhiệm:
Chậm nhất là sau 24 giờ kể từ thời đểm lập biên bản về hành vi vi phạm
hành chính đối với công trình xây dựng trái phép, phải ra quyết định xử phạt.
1.5. Cơ sở pháp lý cho công tác xử lý vi phạm lý trật tự xây dựng.
- Luật Xây dựng ngày 26 tháng 11 năm 2003.
- Luật số 38/2009/QH12 sửa đổi bổ sung một số điều của luật liên quan
đến đầu tư xây dựng cơ bản.
- Luật Thanh tra ngày 15/11/2010.
- Luật nhà ở ngày 29/11/2005.
- Luật xử phạt hành chính số 15/2012/QH/13 ngày 20 tháng 06 năm 2012.
- Nghị định số 64/2012/NĐ-CP ngày 04/9/2012 của Chính phủ về cấp
Giấy phép xây dựng.
- Thông tư số 10/2012/TT-BXD ngày 20/10/2012 của Bộ Xây dựng
hướng dẫn chi tiết một số nội dung của Nghị định số 64/2012/NĐ-CP về cấp
Giấy phép xây dựng.
- Nghị định số 86/2011/NĐ-CP ngày 22/9/2011 của Chính phủ quy định
chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra.
- Nghị định số 07/2012/NĐ-CP ngày 09/02/2012 của Chính phủ quy định
về cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành và hoạt động
thanh tra chuyên ngành.
- Nghị định số 26/2013/NĐ-CP ngày 29/3/2013 của Chính phủ về tổ chức
và hoạt động của ngành thanh tra.
- Nghị định số 11/2013/NĐ-CP ngày 114/01/2013 của Chính Phủ Về
quản lý đầu tư phát triển đô thị và Nghị định số 12/2009/NĐ-CP của Chính phủ
Thủy về việc Quy định vị trí chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức
của phòng Công thương thuộc UBND huyện Cẩm Thủy.
CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XỬ LÝ VI PHẠM TRẬT TỰ XÂY DỰNG TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN CẨM THỦY
2.1. Khái quát chung về địa bàn huyện Cẩm Thủy.
Cẩm Thủy là một huyện miền núi nằm ở phía Tây của tỉnh Thanh Hóa,
phía Bắc giáp với huyện Thạch Thành, phía Nam giáp với huyện Ngọc Lặc, phía
Đông giáp với huyện Vĩnh Lộc, phía Tây giáp với huyện Bá Thước, huyện ẩm
Thủy có địa hình thấp dần từ Tây sang Đông, về giao thông đường bộ huyện
Cẩm Thủy có 12,7 km đường HCM đi qua chạy theo hướng từ Bắc đến Nam,
phía Bắc đi Hòa Bình và Hà Nội, phía Nam đi cảng hàng không Sao Vàng, khu
8
Lớp bồi dưỡng kiến thức QLNN chương trình chuyên viên chính lớp K4.
Học viên: Trần Duy Hưng
kinh tế Lam Sơn và cảng nước sâu Nghi Sơn và 38 km đường QL217 đường liên
vận Quốc tế tiểu vùng Bắc Mê Kông, chạy theo hướng từ Đông sang Tây; phía
Đông đi khu kih tế Bỉm Sơn và Sầm Sơn, phía Tây đi của khẩu quốc tế Việt
Lào, ngoài hai trục giao thông đổi ngoại hyện Cẩm Thủy còn có 169 km đường
giao thông liên tỉnh và liên huyện.
Về giao thông đường thuỷ: huyện Cẩm Thủy có dòng sông Mã chiều dài 40
km chảy theo hướng từ Tây sang Đông, thuận tiện cho việc khai thác đường
thủy nội địa và có tiềm năng phát triển ngành công nghiệp sản xuất điện năng.
Tổng diện tích đất tự nhiên: 425,03 km
2
: đất sản xuất nông nghiệp 30.003
ha., Huyện có 19 xã, 1 thị trấn; 214 thôn, làng và 9 tổ dân phố; đến nay Huyện
có 85 làng văn hoá, trong đó có 35 làng văn hoá cấp Thành phố; dân số trên
111.638 người, trong đó: dân cư đô thị chiếm 5,2%.
Phòng Công thương là cơ quan chuyên môn tham mưu giúp UBND huyện
Học viên: Trần Duy Hưng
Công tác quản lý phạm trật tự xây dựng trên địa bàn huyện Cẩm Thủy trong
thời gian qua đã đạt được những kết quả rất đáng kể. Với địa bàn rộng 20 xã, thị
trấn, 22.154 hộ dân, lực lượng cán bộ chuyên môn tuy đã thường xuyên kiểm
tra, bám sát địa bàn, kịp thời lập biên bản các vi phạm ngay từ khi mới phát sinh
và kiên quyết xử lý cưỡng chế khi các hộ vi phạm không tự giác thực hiện.
Những trường hợp xây dựng công trình trái phép trên đất lấn chiếm của tập thể,
trên đất đã chuyển nhượng cho người khác, trên đất hành lang giao thông có
nhiều phức tạp, cơ quan chuyên môn cấp huyện, xã đã phối hợp kịp thời với
thanh tra chuyên ngành như xây dựng, giao thông tham mư cho chính quyền địa
phương cương quyết ra quyết định cưỡng chế. Ðối với những công trình xây
dựng không phép thì lực lượng chức năng kịp thời lập biên bản yêu cầu chủ
công trình đình chỉ thi công và vận động họ đi xin cấp giấy phép xây dựng theo
đúng quy định.
Trong các vụ việc do UBND các xã xử lý, đáng chú ý là do làm tốt công
tác tuyên truyền vận động nên đã có nhiều trường hợp xin tự phá dỡ. Nhiều vụ
việc vi phạm nghiêm trọng đã được thanh tra xây dựng sở xây dựng phối hợp
với cơ quan chuyên môn cấp huyện và chính quyền cấp xã xử lý kịp thời. Cụ
thể: UBND xã Cẩm Tú; xã Cẩm Phong; xã Cẩm Sơn và xã Cẩm Châu là những
xã đã làm tốt công tác tuyên truyên vận động nhân dân tự giác tháo dỡ công
trình hoàn trả mặt bằng giải phóng hành lang giao thông trên tuyến đường Hồ
Chí Minh.
Huyện Cẩm Thủy đã thực hiện cấp Giấy phép xây dựng trên điạ bàn thị
trấn Cẩm Thủy từ ngày 01/9/2008 theo Luật xây dựng và Nghị định số
16/2005/NĐ-CP ngày 07/2/2005 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây
dựng công trình; Thông tư số 09/2005/TT-BXD ngày 06/5/2005 của Bộ Xây
dựng hướng dẫn một số nội dung về cấp Giấy phép xây dựng và Quyết định số
143/QĐ-CT gày 15/01/2005 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa và Quyết định
số 175/QĐ-UBND ngày 17/6/2008 của Chủ tịch UBND huyện Cẩm Thủy về
việc Ban hành quy định cấp Giấy phép xây dựng.
A. Số vụ lập biên
bản vi phạm:
08 16 22 24 30 50 65 215
1. Sai phép 05 08 19 17 22 32 40 143
2. Không phép 0 03 03 04 02 09 12 33
3.Trái phép 03 07 0 03 06 04 07 30
4. Vi phạm khác 01 0 0 0 05 06 12
B. Đã xử lý 08 16 22 24 30 50 65 215
1. UBND huyện và
các xã xử lý vi phạm
a. Tuyên truyền vận
động tự tháo dỡ
08 15 19 20 21 43 47 173
b. Quyết định phạt
tiền
0 01 03 04 9 07 18 42
c. Quyết định cưỡng
chế
0 0 0 0 0 0 0 0
- Công tác giải quyết khiếu nại tố cáo trong lĩnh vực quản lý trật tự xây
dựng: Tổng số đơn thư khiếu nại, tố cáo về lĩnh vực trật tự xây dựng: 18 đơn.
+ Đã giải quyết: 16 đơn.
+ Đang giải quyết: 02 đơn.
+ Từ tháng 6/2013 đến tháng 6/2014 (mùa khô, mùa xây dựng) trên địa bàn
20 xã thị trấn đã cấp được 920 giấy phép xây dựng nhưng cũng đã phát sinh 115
trường hợp vi phạm trật tự xây dựng phải lập biên bản xử lý chiếm 12,5%.
Trong đó: - Xây dựng sai giấy phép được cấp 72 trường hợp chiếm 7,8%.
- Xây dựng không xin cấp GP 21 trường hợp chiếm 2,28%.
- Xây dựng trái phép 11 trường hợp chiếm 1,2%.
- Vi phạm khác 23 trường hợp chiếm 2,5%.
cư làm nhà 3- 4 tầng nhưng không thuê tư vấn thiết kế, bên cạnh đó cán bộ địa
chính xây dựng các xã, thị trấn không có nghiệp vụ chuyên môn.
Về công tác kiểm tra trật tự xây dựng sau khi cấp phép: thông thường khi
đã cấp phép đối với công trình do UBND huyện cấp phép có gửi một bản giấy
phép xây dựng về cho thị trấn quản lý kiểm tra, nhưng khi đến kiểm tra không
phải cán bộ chuyên môn không đủ kiến thức, trình độ chuyên môn để đọc bản vẽ
xem công trình xây dựng đúng giấy phép không, có sai chỗ nào không và nếu
công trình xây dựng sai phép thì không phải công trình nào cũng xử lý bằng
cách tháo dỡ.
Về trình tự xử lý công trình vi phạm: Theo quy định thì công trình vi phạm
trật tự xây dựng vừa có thể lập biên bản xử lý vi phạm ngừng thi công xây dựng
công trình, ra quyết định đình chỉ, ra quyết định cưỡng chế. Song song với việc
lập biên bản thì ra quyết định xử phạp vi phạm hành chính. Có nghĩa là công
trình vừa phải đình chỉ thi công, có thể phải tháo dỡ vi phạm vừa bị phạt tiền.
Nhưng thực tế theo dõi các báo cáo dưới xã chuyển lên thấy ít xã nào áp dụng
song song hai hình thức vừa tháo dỡ vừa phạt tiền. Có xã cho rằng phạt tiền thì
liệu có thu được của người vi phạm không lên chỉ tiến hành lập biên bản ngừng
12
Lớp bồi dưỡng kiến thức QLNN chương trình chuyên viên chính lớp K4.
Học viên: Trần Duy Hưng
thi công, ra quyết định đình chỉ. Xã nào xử lý nghiêm thì ra quyết định cưỡng
chế phá dỡ vi phạm, xã không cương quyết thì để đấy. Thậm chí có xã có ra
quyết định phạt nhưng phạt là để đấy, có xã vẫn còn áp dụng biện pháp phạt
cảnh cáo (theo ND 23/2009/ND-CP ) thì biện pháp phạt cảnh cáo không còn tồn
tại nhưng có xã ra quyết định phạt tiền cho tồn tại công trình.
Về những công trình tái vi phạm: Đối với những công trình đã ra quyết
định cưỡng chế, đã giải quyết xong nhưng chính quyền xã không đủ khả năng
quản lý để hộ dân lại xây dựng tái lấn chiếm đất công, đất hành lang giao thông
để làm quán bán hàng,
Về quy định khi khởi công xây dựng công trình chủ đầu tư phải thông báo
Học viên: Trần Duy Hưng
xây dựng thường xuyên thanh tra kiểm tra, phát hiện và xử lý kịp thời các hành
vi vi phạm pháp luật về trật tự xây dựng công trình trên địa bàn huyện.
- Phòng Công thương giúp UBND huyện, phân công cán bộ công chức
chuyên môn bán cơ sở địa bàn, hướng dẫn kiểm tra, chỉ đạo, đôn đốc các xã thị
trấn chấp hành các quy định của pháp luật liên quan đến quản lý trật tự xây dựng
công trình, đồng thời phát hiện và kiến nghị với người có thẩm quyền xử lý kịp
thời những vi phạm phát sinh.
3.3. UBND các xã, thị trấn.
Chỉ đạo cán bộ địa chính, xây dựng, Công an xã, và các cơ quan cung cấp
dịch vụ điện, nước không cung cấp các dịch vụ cho các chủ đầu tư có công trình
xây dựng trái phép, thực hiện việc cấm các phương tiện vận chuyển VLXD và
thợ vào thi công công trình, cắt điện nước để bảo đảm việc thực hiện quyết định
đình chỉ của UBND xã thị trấn.
Quá trình thực hiện việc quản lí trật tự xây dựng phải tuyệt đối tuân thủ
theo các quy định của pháp luật, chủ trương chính sách của Nhà nước. Các bước
tiến hành xử lí vi phạm trật tự xây dựng, đất đai phải tuân thủ theo đúng quy
trình, đảm bảo sự công minh của pháp luật và chính sách nhân đạo của Đảng và
Nhà nước.
Kiên quyết cưỡng chế, dỡ bỏ đối với các vụ việc cố tình vi phạm, đảm bảo
tính nghiêm minh của pháp luật, tạo niềm tin của quần chúng nhân dân vào bộ
máy công quyền của Nhà nước.
Trong quá trình cưỡng chế, giải phóng mặt bằng phải tạo điều kiện giúp
đỡ người dân trong diện giải tỏa, đảm bảo tính mạng và tài sản của họ. Thường
xuyên lắng nghe ý kiến của người dân trong quá trình giải tỏa, kịp thời giải
thích, trả lời những khiếu nại, tố cáo của nhân dân.
Trong quá trình thực hiện việc quản lý trật tự xây dựng và giải phóng mặt
bằng phải tranh thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo của cơ quan quản lý cấp trên và sự hỗ
trợ của cấp ủy Đảng, chính quyền, các ngành đoàn thể, các tổ chức có liên quan.
3.4. Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật.
minh và hiện đại, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá,
để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Tuy nhiên,
quản lý trật tự xây dựng nói chung và quản lý đô thị nói riêng đặc biệt là việc
xây dựng nhà ở riêng lẻ trong khu vực dân cư do dân tự làm còn nhiều khó khăn
và tồn tại. Trước đây, do các văn bản quy phạm pháp luật về xây dựng chưa
được hoàn chỉnh và đầy đủ dẫn đến công tác quản lý Nhà nước trong lĩnh vực
xây dựng, nhất là trong công tác quản lý trật tự xây dựng đô thị bị buông lỏng,
nhiều hành vi vi phạm pháp luật diễn ra khá phổ biến. Tác động nhân quả này
càng làm cho công tác quản lý trật tự xây dựng đô thị trở nên rất phức tạp và khó
khăn. Tuy nhiên từ sau khi luật Xây dựng, Đất đai và một số văn bản pháp luật
khác có hiệu lực, và hàng loạt các nghị định của Chính phủ được ban hành đã
phần nào giúp cho chính quyền có được công cụ hỗ trợ đắc lực trong việc quản lý
trật tự xây dựng tại đại phương nên cơ bản các vụ việc vi phạm đã giảm nhiều so
với thời gian trước đây, việc xử lý các vi phạm cơ bản đã được xem xét giải quyết
kịp thời, cương quyết hơn. Mặc dù trong quá trình triển khai thực hiện vẫn gặp rất
nhiều khó khăn, nhất là ở những cấp xã do những hệ quả để lại của thời kỳ buông
lỏng quản lý trước đây. Nhưng với sự tích cực, cố gắng học hỏi kiến thức pháp
luật và thái độ làm việc công tâm, của cán bộ công chức ngành xây dựng đã góp
một phần công sức trong việc quản lý trật tự xây dựng trong đô thị và cải tạo
15
Lớp bồi dưỡng kiến thức QLNN chương trình chuyên viên chính lớp K4.
Học viên: Trần Duy Hưng
chỉnh trang các điểm dân cư nông đã và đang hiện hình bộ mật nâng thôn mới văn
minh hiện đại.
Công tác quản lý và xử lý vi phạm trật tự xây dựng là nhiệm vụ trọng tâm
nhằm cải thiện bộ mặt của nông thôn ngày càng văn minh, hiện đại góp phần
đẩy mạnh CNHHĐH đất nước. Đưa hoạt động xây dựng vào nề nếp, đảm bảo
công bằng trong xã hội, thiết lập trật tự xây dựng có kỷ cương là việc rất khó
khăn phức tạp mà chính quyền các cấp các ngành phải chung tay góp sức thường
xuyên và liên tục. Đặc biệt là cơ quan chuyên môn về xây dựng phòng Công
1.1.2 Khái niệm xử lý vi phạm hành chính.
3
1.2 Các hình thức vi phạm trật tự xây dựng và nguyên tắc xử lý.
3
1.2.1 Các hình thức vi phạm trật tự xây dựng.
3
1.2.2 Các hình thức xử lý vi phạm trật tự xây dựng. 3
1.2.3 Nguyên tắc xử lý vi phạm trật tự xây dựng 5
1.3 Chủ thể có thẩm quyền xử lý vi phạm trật tự xây dựng trên địa bàn
cấp huyện. 5
1.4 Quy trình xử lý vi phạm trật tự xây dựng.
5
1.4.1 Kiểm tra, phát hiện vi phạm, lập biên bản. 5
1.4.2 Ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính. 6
1.5 Cơ sở pháp lý cho công tác xử lý vi phạm lý trật tự xây dựng 6
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XỬ LÝ VI PHẠM TRẬT TỰ
XÂY DỰNG TRÊN ĐỊA BÀN CẨM THỦY
7
2.1 Khái quát chung về địa bàn huyện Cẩm Thủy. 7
2.2 Thực trạng tình hình vi phạm trật tự trên địa bàn huyện. 8
2.3 Thực trạng quản lý tình hình vi phạm trật tự xây dựng và công tác
xử lý vi phạm trên địa bàn huyện Cẩm Thủy. 8
2.4 Những khó khăn tồn tại và nguyên nhân trong công tác quản lý trật
tự xây dựng và cấp phép xây dựng trên địa bàn huyện Cẩm Thủy. 11
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC XỬ LÝ
VI PHẠM TRẬT TỰ XÂY DỰNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CẨM THỦY.
12
3.1. Công tác quy hoạch. 12
3.2. UBND huyện và các phòng chuyên môn.
12