Số hóa bởi trung tâm học liệu
NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA HÌNH PROTEIN
TRONG MỘT SỐ LOẠI DỊCH CHỌC DÒ CỦA NGƯỜI VÀ
TÌM GIỚI HẠN PHÁT HIỆN ĐỊNH LƯỢNG PROTEIN
NHẰM THAY THẾ CÁC PHẢN ỨNG ĐỊNH TÍNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG NGHỆ SINH HỌC
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
Thái Nguyên - 2013
Số hóa bởi trung tâm học liệu
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cơ thể ngƣời có khoảng 40 lít dịch trong đó 25 lít nằm trong các tế bào
gọi là dịch nội bào, 15 lít nằm bên ngoài tế bào gọi là dịch ngoại bào. Dịch ngoại
bào gồm có huyết tƣơng, dịch kẽ, dịch bạch huyết, dịch ổ mắt, dịch tiêu hóa,
dịch não tủy (DNT)… Dịch ngoại bào đƣợc vận chuyển trong máu tuần hoàn, có
sự trao đổi giữa máu và các mô qua thành mao mạch [6].
Trong các dịch cơ thể nói trên đều chứa các chất vô cơ và hữu cơ hòa tan
nhƣ protein, glucose, canxi, photpho, kali Khi các trị số về hàm lƣợng của
những chất này vƣợt khỏi giới hạn sinh lý cho phép (cao hoặc thấp hơn) thì
chúng phản ánh những trạng thái bệnh lý nào đó của cơ thể con ngƣời [2], [6].
Ngoài các dịch cơ thể bình thƣờng kể trên, có một số dịch xuất hiện với
lƣợng nhiều hơn bình thƣờng biểu hiện bệnh lý nhƣ dịch màng phổi (DMP),
dịch màng bụng (DMB), dịch màng tim… gây hiện tƣợng tràn dịch. Dựa trên
chỉ số protein là chính và các chất khác có trong dịch mà phân biệt là dịch thấm
- Xác định đƣợc giới hạn phát hiện của xét nghiệm định lƣợng protein
trong các dịch chọc dò nhằm thay thế hoặc bổ trợ cho các phản ứng định tính
protein đang dùng tại các bệnh viện của Việt Nam.
3. Nội dung nghiên cứu:
- Phân tích hàm lƣợng protein trong các loại dịch chọc dò: DNT, DMP và
DMB của nhóm bệnh nhân đƣợc nghiên cứu.
- Định tính protein trong DNT bằng phản ứng Pandy, trong DMP và DMB
bằng phản ứng Rivalta.
- Xác định giới hạn phát hiện của xét nghiệm định lƣợng protein trong
DNT nhằm thay thế hoặc bổ trợ cho phản ứng Pandy.
Số hóa bởi trung tâm học liệu
3
- Xác định giới hạn phát hiện của xét nghiệm định lƣợng protein trong
DMP và DMB nhằm thay thế hoặc bổ trợ cho phản ứng Rivalta.
- Xác định tính đa hình của protein trong các loại dịch chọc dò đƣợc
nghiên cứu bằng kỹ thuật điện di.
4. Ý nghĩa khoa học của đề tài
Sử dụng đặc điểm hóa sinh về protein trong các dịch chọc dò làm cơ sở
khoa học cho các chẩn đoán cận lâm sàng của các bệnh liên quan đến dịch chọc
dò.
qua các tế bào biểu mô nằm ở phía ngoài của đám rối [6].
- Đặc điểm, tính chất, chức năng của DNT
DNT là dịch không màu. DNT có hàm lƣợng protein rất thấp khoảng 20
đến 30 mg/dl và hầu nhƣ không có tế bào (5 bạch cầu lympho/mm3), nồng độ
ion Na
+
bằng nồng độ ion Na
+
của huyết tƣơng, nồng độ ion Cl
-
cao hơn 15%,
nồng độ K
+
thấp hơn 40% và nồng độ glucose thấp hơn 30%. Bình thƣờng áp
suất DNT của ngƣời ở tƣ thế nằm nghiêng là 100 đến 200 mm H
2
O, ở tƣ thế
ngồi là 200 mm H
2
O [6].
Số hóa bởi trung tâm học liệu
5
Chức năng quan trọng nhất của DNT là đệm cho não ở trong hộp sọ cứng.
Vì tỷ trọng của não và DNT tƣơng tự nhau nên não nổi trong dịch, vì vậy một va
chạm vào đầu sẽ làm toàn bộ não chuyển động đồng thời và không một phần
nào của não bị xoắn lại vào lúc đó. DNT cũng đóng vai trò của một bình chứa để
thích nghi với những thay đổi thể tích của hộp sọ. Trong một chừng mực nào đó,
DNT cũng là nơi trao đổi chất dinh dƣỡng của hệ thần kinh. Tuy nhiên phần lớn
quá trình trao đổi chuyển hóa của não đƣợc thực hiện trực tiếp với máu [6].
DMB hay còn gọi là dịch báng hoặc dịch phúc mạc. Phúc mạc là một
thanh mạc phủ tất cả các thành của ổ bụng, bao bọc các tạng thuộc bộ máy tiêu
hoá và che phủ phía trƣớc, hoặc phía trên các tạng tiết niệu và sinh dục. Phúc
mạc gồm có 2 lớp, lớp thanh mạc và lớp dƣới thanh mạc. Lớp thanh mạc là lớp
tế bào thƣợng mô trơn láng óng ánh và tiết ra một lớp dịch mỏng làm thấm ƣớt
phúc mạc để trƣợt lên nhau dễ dàng. DMB là loại dịch có đƣợc do sự tích tụ các
chất lỏng tự do trong khoang phúc mạc [7], [28].
- Đặc điểm, tính chất và chức năng DMB
DMB có thể là dịch thấm hoặc dịch tiết. DMB bình thƣờng không vƣợt
quá 5ml dịch thấm. DMB thƣờng có màu vàng rơm, xuất hiện vẩn đục là do sự
hiện diện của các bạch cầu trung tính. Ngoài ra trong dịch còn có các chất béo
trung tính. DMB là một chất lỏng có vai trò nhƣ một chất bôi trơn trong khoang
bụng. DMB có tác dụng làm ẩm bên ngoài của các cơ quan và giảm ma sát các
nhu động của cơ quan trong quá trình tiêu hóa [7].
- Hiện tƣợng tràn dịch màng bụng (TDMB)
TDMB là một dấu hiệu lâm sàng phổ biến có nhiều nguyên nhân nhƣ: xơ
gan (75%), các bệnh ác tính (10%), suy tim (5%) và các nguyên nhân khác
(10%) [28].
1.2. Một số phƣơng pháp nghiên cứu protein dịch chọc dò
1.2.1. Các phƣơng pháp thƣờng dùng trong nghiên cứu định tính protein
Số hóa bởi trung tâm học liệu
7
- Định tính protein bằng phản ứng Xantoprotein
Dinitrotyrozin (màu vàng)
Thể quinoit của dinotrotyrozin Muối natri của dinitrotyrozin (màu da cam)
Hình 1.1. Sơ đồ cơ chế của phản ứng Xantoprotein [9]
Đây là những phản ứng đặc trƣng cho những protein có chứa acid amin
nƣớc và có độ chính xác tƣơng đối cao [9].
1.2.2. Các phƣơng pháp thƣờng dùng trong nghiên cứu định lƣợng protein
- Định lƣợng protein theo phƣơng pháp Lowry
Dựa vào phản ứng màu của protein và thuốc thử folin. Phƣơng pháp này
sử dụng phối hợp phản ứng Biure và phản ứng với thuốc thủ folin tác dụng lên
gốc tyrozin, tryptophan, histidin, để tạo phức màu xanh đặc trƣng có độ hấp thu
Số hóa bởi trung tâm học liệu
9
cực đại ở bƣớc sóng 750 nm và dựa vào đƣờng chuẩn protein để từ đó định
lƣợng hàm lƣợng protein. Cƣờng độ màu tỉ lệ với nồng độ protein.
Hình 1.4. Mô hình phƣơng pháp Lowry [5], [9]
Phƣơng pháp Lowry có độ nhạy tƣơng đối cao cho phép xác định dung
dịch mẫu chứa vài chục µg protein/ml, thƣờng nhạy trong khoảng từ 2 - 5 µg
protein/ml [5], [9].
- Định lƣợng protein bằng phƣơng pháp Bradford
Trong môi trƣờng acid, Coomassie Brilliant Blue G - 250 liên kết chặt chẽ
với protein, tƣơng tác với nhóm kỵ nƣớc và nhóm mang điện tích dƣơng trên
phân tử protein làm dung dịch có màu xanh. Dựa vào đƣờng chuẩn của protein
suy ra hàm lƣợng protein trong mẫu.
Hình 1.5. Mô hình phƣơng pháp Bradford [5], [9]
Số hóa bởi trung tâm học liệu
10
Phƣơng pháp này dùng cho protein tan trong nƣớc, phản ứng xảy ra ở
nhiệt độ phòng. Phƣơng pháp này nhạy hơn 2 - 3 lần so với phƣơng pháp
Lowry, nhanh và đơn giản hơn nhiều vì nó cho phép xác định tới vài µg
protein/ml, đồng thời làm giảm ảnh hƣởng của muối, đệm, các chất khử [5], [9].
dithiotheitol (DTT). Khi xử lý protein với 2-mercaptoethanol hay DTT thì các
tác nhân này sẽ cắt đứt các cầu nối disulfite (S-S) của protein, vì vậy protein từ
cấu trúc bậc 2, 3, 4 đƣợc biến đổi thành chuỗi polypeptide bậc 1 và nhờ sự có
mặt của SDS tất cả các protein đều đƣợc tích điện âm. Nhờ đó, dƣới tác động
của điện trƣờng sự di chuyển trong gel của các phân tử protein chỉ phụ thuộc
vào kích thƣớc. Dƣới tác dụng của điện trƣờng các phân tử tích điện âm sẽ di
chuyển về cực dƣơng. Để đƣa các protein trong mẫu về cùng một vạch xuất phát
đồng thời tạo ra sự phân tách tốt hơn, ngƣời ta thƣờng sử dụng phƣơng pháp
điện di trên gel không liên tục. Trong phƣơng pháp này gel gồm 2 lớp là lớp gel
cô và gel tách [12].
Lớp gel cô: Thông thƣờng lớp gel này có nồng độ gel thấp (4 - 5%), và
nằm phía trên nơi tạo giếng bơm mẫu. Khi có tác động của điện trƣờng các
protein có trong mẫu sẽ bắt đầu di chuyển từ những giếng mẫu qua lớp gel này.
Nhờ đó, các protein trong mẫu đƣợc dồn lại và tạo một lớp băng mỏng nằm
ngay phía trên lớp gel phân tách, tạo điều kiện thuận lợi hơn trong việc phân
tách protein [12].
Lớp gel tách: Lớp gel này có nồng độ gel cao hơn so với lớp gel cô, và
nằm phía dƣới. Có tác dụng trong việc tạo ra các băng protein có trọng lƣợng
phân tử, kích thƣớc khác nhau từ một hỗn hợp protein xuất phát ban đầu [12].
Kĩ thuật SDS-PAGE có thể xác định đƣợc những phân tử protein có trọng
lƣợng phân tử từ 10000 - 200000 Da (daltons). Những phân tử protein có trọng
lƣợng lớn hơn 200000 Da thƣờng đƣợc xác định trên gel có nồng độ acrylamide
ít hơn 2,5% [12]. Số hóa bởi trung tâm học liệu
12
Hình 1.6. Cấu trúc protein trƣớc và sau khi biến tính bởi SDS [12]
- Điện di hai chiều protein (2-DE)
- Nhận diện protein bằng điện di hai chiều kết hợp khối phổ (2DE–MS)
Khối phổ (Mass spectrometry - MS) là kỹ thuật phân tích đo phổ về khối
lƣợng của các phân tử tích điện khi chúng di chuyển trong điện trƣờng. Mẫu
đƣợc ion hóa trở thành các phân tử tích điện khác nhau và đƣợc phân tách dựa
vào sự sai khác về giá trị m/z. Dữ liệu đƣợc tự động ghi lại và sử dụng để nhận
dạng protein bằng các công cụ tin sinh học [4].
Số hóa bởi trung tâm học liệu
14
Hình 1.8. Sơ đồ kết hợp 2-DE và MS/MS trong xác định protein [4]
Phƣơng pháp điện di hai chiều, thủy phân protein trong gel, sau đó nhận
dạng bằng khối phổ đang là một trong những cách tiếp cận thƣờng đƣợc sử dụng
nhất trong nghiên cứu proteomics [32], [33].
1.3. Một số xét nghiệm sinh hóa dịch chọc dò và ý nghĩa của việc nghiên cứu
protein dịch chọc dò
1.3.1. Một số xét nghiệm sinh hóa dịch chọc dò dùng trong chẩn đoán
Xét nghiệm đạm và LDH (lactic dehydrogenase): Đây là một trong
những xét nghiệm sinh hóa ban đầu giúp phân biệt dịch thấm và dịch tiết đối với
dịch chọc dò. Hàm lƣợng urê trong DNT ngƣời bình thƣờng dao động trong
khoảng 2,5 - 6,7 mmol/l. Xét nghiệm LDH thƣờng đƣợc quan tâm nhiều đối với
DMP và DMB. Đối với hai loại dịch này, dịch tiết thƣờng có LDH và đạm tăng
nên đạm và LDH đƣợc sử dụng trong việc phân biệt dịch thấm và dịch tiết [2],
[17], [21], [23].
Xét nghiệm glucose: Glucose DNT bằng 2/3 nồng độ glucose máu. Sự
tăng hay giảm glucose DNT phụ thuộc vào nồng độ của glucose máu. Glucose
Số hóa bởi trung tâm học liệu
15
DNT tăng ở những bệnh nhân hôn mê đái tháo đƣờng. Ngoài ra, glucose còn
. Nếu > 10000 tế bào/mm
3
thƣờng do
TDMP cận viêm phổi nhƣng cũng gặp trong viêm tụy cấp, nhồi máu phổi. Nếu
> 50000 tế bào/mm
3
thƣờng là tràn mủ màng phổi. Nếu là lao, viêm mạn tính,
bệnh lý ác tính thƣờng < 5000 tế bào/mm
3
. Lymphocyte nhỏ > 50% thƣờng là
Số hóa bởi trung tâm học liệu
16
viêm mạn tính nhƣ lao hoặc ung thƣ. Bạch cầu đa nhân trung tính ƣu thế thƣờng
là viêm cấp nhƣ viêm phổi, viêm tụy cấp, nhồi máu phổi, lao giai đoạn sớm.
Bạch cầu đa nhân ái toan tăng > 10% thì 2/3 trƣờng hợp là do có khí hoặc máu
trong màng phổi dẫn tới tràn máu màng phổi, tràn khí màng phổi, TDMP cận
viêm phổi. Bạch cầu ái toan thƣờng không tăng trong ung thƣ và lao. DMB bình
thƣờng chứa < 500 bạch cầu/µl và < 250 bạch cầu đa nhân/µl. Bất kỳ tình trạng
nhiễm trùng nào cũng có thể gây tăng bạch cầu. Lƣợng bạch cầu đa nhân > 250
/µl gợi ý viêm phúc mạc do vi trùng. Bạch cầu lympho thƣờng chiếm ƣu thế
trong viêm phúc mạc do lao và ung thƣ di căn phúc mạc [2], [21], [23].
1.3.2. Ý nghĩa của việc nghiên cứu protein dịch chọc dò
Nghiên cứu về hệ protein trong các dịch của cơ thể là một hƣớng nghiên
cứu mới và nhiều triển vọng trong việc tìm ra những protein chỉ thị có độ nhạy
cao trong chẩn đoán nhiều quá trình bệnh lý [3]. DNT, DMP và DMB là những
loại dịch của cơ thể đang đƣợc nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu trong
việc chẩn đoán nguyên nhân bệnh lý. Các loại dịch chọc dò này mang hai đặc
trƣng quan trọng giúp cho quá trình nghiên cứu thuận lợi đó là các thủ thuật
chọc dò hiện nay rất phổ biến trong ngành y nên việc lấy mẫu rất dễ dàng và an
kinh trung ƣơng. Hiện nay, DNT đƣợc sử dụng để nghiên cứu các bệnh liên
quan tới việc mất cân bằng các thành phần phân tử đặc biệt là các thành phần
ngoại bào [45]. Các nhà khoa học Phần Lan đã sử dụng kỹ thuật sắc ký khí kết
hợp khối phổ trong việc xác định những tính chất của DNT. Nghiên cứu cho
thấy nồng độ 21 acid amin và hydroxyl thay đổi từ 0,04 - 77 ng/µl. Nhờ kỹ thuật
khối phổ đã xác định đƣợc 91 chất chuyển hóa thuộc các nhóm chức năng khác
nhau. Các chức năng này liên quan mật thiết tới chức năng của DNT [36].
Năm 2011, các nhà khoa học Mỹ đã tiến hành nghiên cứu sự khác biệt về
thành phần protein trong DNT của nhóm bệnh nhân mắc hội chứng mệt mỏi
mạn tính và nhóm bệnh nhân bị bệnh Lyme đang điều trị giai đoạn cuối so với
Số hóa bởi trung tâm học liệu
18
những ngƣời bình thƣờng. Kết quả nghiên cứu cho thấy trong DNT của nhóm
bệnh nhân mắc hội chứng mệt mỏi mạn tính phát hiện 2783 loại protein, nhóm
bệnh nhân mắc bệnh Lyme phát hiện 2768 loại protein và những ngƣời khỏe
mạnh thì thấy 2630 loại protein. Đây là những cơ sở dữ liệu hữu ích để đƣa ra
những giả thiết về cơ chế sinh bệnh, cho phép tiến hành những nghiên cứu tiếp
theo trong việc chẩn đoán sớm và can thiệp điều trị kịp thời [48].
Xét nghiệm DNT là một trong những căn cứ quan trọng trong việc chẩn
đoán viêm màng não. Hàm lƣợng protein, hàm lƣợng đƣờng, lƣợng bạch cầu và
lƣợng neutrophil trong DNT là những tiêu chí quan trọng của tiêu chuẩn Thome
trong việc phân biệt viêm màng não mủ hay viêm màng não siêu vi [30].
Các nhà khoa học của Mỹ gần đây đã tập trung nghiên cứu phân tích DNT
nhằm hƣớng tới xây dựng cơ sở dữ liệu về protein DNT phục vụ chẩn đoán
bệnh. Bƣớc đầu đã có những kết quả nhất định chứng tỏ protein DNT có liên
quan tới nhiều bệnh nhƣ Parkinson, bệnh Alzheimer, chấn thƣơng sọ não, teo
cơ. Phát hiện nhiều loại protein chỉ có ở DNT, do vậy đây đƣợc coi là một
hƣớng nghiên cứu nhiều triển vọng cho việc tìm ra các protein chỉ thị bệnh [54].
Cùng nghiên cứu về DNT của bệnh nhân Alzheimer, tại phòng thí nghiệm
creatine phosphokinase DNT < 20 U/l. Đây là những căn cứ quan trọng trong
chẩn đoán và tiên lƣợng bệnh viêm màng não [24].
Dƣơng Thanh Long và cs (2010) đã tiến hành nghiên cứu đặc điểm DNT
của các bệnh nhi trên 1 tháng tuổi đến 15 tuổi đến khám và điều trị tại khoa Nhi
bệnh viện An Giang. Trong 45 trƣờng hợp viêm não, tuổi trung vị 3 (6 tháng -
13 tuổi). Có 12 ca (26,6%) xác định đƣợc tác nhân gây viêm não bao gồm
enterovirus, herpes simplex và viêm não Nhật Bản B. 33 ca (73,3%) không xác
định tác nhân viêm não. Đặc điểm về DNT của các bệnh nhi nghiên cứu cho
thấy trung bình mật độ tế bào là 39 tế bào/mm
3
, tỉ lệ neutro là 67%, tỉ lệ lympho
là 31%, hàm lƣợng protein là 0,43 g/l, hàm lƣợng glucose là 4,18 mg/dl, lactat là
Số hóa bởi trung tâm học liệu
20
2 mmol/l. Nhƣ vậy, về xét nghiệm DNT, số tế bào tăng vừa (39 tế bào), lƣợng
protein tăng vừa (30mg%), đƣờng trong giới hạn bình thƣờng, lactate DNT <
3mmol/l [14]. Điều này tƣơng tự với mô tả trong nghiên cứu của Phạm Văn
Kiểm và cs 2003 [11].
Nghiên cứu sự thay đổi của nồng độ beta amyloid 1-40 và beta amyloid
1-42 trong DNT của bệnh nhân mắc bệnh Alzheimer, Trần Viết Lực (2011) đã
chỉ ra nồng độ beta amyloid 1-40 và beta amyloid 1-42 giữa nhóm bệnh và
nhóm chứng khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,001). Nồng độ beta amyloid 1-
42 giữa các giai đoạn bệnh cũng khác biệt rõ ràng (p < 0,001). Có sự khác biệt
về tỷ số beta amyloid 1-42/beta amyloid 1-40 giữa hai nhóm nghiên cứu và giữa
các giai đoạn của bệnh (p < 0,001) [15].
1.4.2. Tình hình nghiên cứu sinh hóa DMP ở Việt Nam và trên thế giới
Việc phân biệt dịch tiết và dịch thấm đối với DMP có ý nghĩa quan trọng
trong việc xác định nguyên nhân gây tràn dịch nhƣ suy tim, lao, các bệnh ác
Tại Việt Nam đã có rất nhiều các nghiên cứu trên đối tƣợng DMP phục vụ
chẩn đoán và theo dõi tiến triển bệnh lý. Quang Văn Trí (2008) đã chỉ ra trong
DMP của nhóm bệnh nhân lao nhận thấy số lƣợng bạch cầu trung bình là 649 tế
bào/mm
3
, tỉ lệ bạch cầu mono chiếm 1,18%, tỉ lệ bạch cầu lympho chiếm 93%,
hàm lƣợng protein trung bình là 46,56 g/l, LDH là 815,31 IU/l, hàm lƣợng
glucose là 5,31 mmol/l. Trong DMP của nhóm bệnh nhân ung thƣ nhận thấy số
lƣợng bạch cầu trung bình là 806 tế bào/mm
3
, tỉ lệ bạch cầu mono chiếm 20,8%,
tỉ lệ bạch cầu lympho chiếm 71,6%, hàm lƣợng protein trung bình là 46,56 g/l,
LDH là 815,32 IU/l, hàm lƣợng glucose là 5,43 mmol/l [22].
Nguyễn Xuân Bích Huyên và cs (2008) nghiên cứu interferron gamma
(IFNγ) trong DMP dịch tiết và nhận định IFNγ có giá trị cao trong chẩn đoán lao.
Nghiên cứu đƣợc tiến hành trên 84 bệnh nhân TDMP do lao, ung thƣ, viêm phổi tại
bệnh viện Chợ Rẫy, IFNγ đƣợc định lƣợng trong DMP. Kết quả nghiên cứu cho thấy
Số hóa bởi trung tâm học liệu
22
điểm cắt tối ƣu 33 pg/ml cho phép đạt đƣợc độ chính xác cao nhất (độ nhạy 94,4%, độ
đặc hiệu 89,6%). Xét nghiệm IFNγ trong DMP là một xét nghiệm khả thi, chính xác
để chẩn đoán nguyên nhân lao của TDMP dịch tiết [10].
Cùng nghiên cứu về IFNγ trong DMP, Nguyễn Thị Bích Ngọc và cs
(2010) đã tiến hành nghiên cứu giá trị của nồng độ tumor necrosis factor anpha
(TNFα) và IFNγ trong chẩn đoán TDMP do lao và ung thƣ. Nghiên cứu tiến
hành định lƣợng TNFα và IFNγ của hai nhóm bệnh nhân TDMP do lao và
TDMP do dung thƣ. Kết quả nghiên cứu cho thấy nồng độ TNFα giữa hai nhóm
khác biệt không có ý nghĩa thống kê. Có sự khác biệt đáng kể về nồng độ IFNγ
giữa hai nhóm. Nồng độ IFNγ trong DMP bệnh nhân lao cao hơn rất nhiều so
tế bào lympho chiếm ƣu thế, hàm lƣợng protein > 3 g/dl, hàm lƣợng ADA ≥ 39
U/l. Nghiên cứu cho thấy xét nghiệm định lƣợng ADA có độ nhạy 100% và độ
đặc hiệu là 97,2% trong chẩn đoán lao màng bụng [47].
Các nhà khoa học Việt Nam cũng tập trung nghiên cứu ADA trong dịch
DMB, bởi đây là chỉ tiêu quan trọng và có độ chính xác cao trong chẩn đoán.
Nguyễn Thúy Vi (2010) đã nghiên cứu đặc điểm DMB trên nhóm bệnh
nhân lao màng bụng cho thấy đa số DMB có màu vàng chanh, nồng độ protein
trung bình 56 g/l. Trung bình nồng độ protein, trung bình bạch cầu trong DMB
trong nhóm lao màng bụng khác biệt có ý nghĩa thống kê so với nhóm không
phải lao màng bụng. 90% bệnh nhân lao màng bụng có ADA DMB ≥ 31,7 U/l
so với 3,28% bệnh nhân không phải lao màng bụng, sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng với giá trị điểm cắt ADA trong nghiên cứu
là 31,7 U/l cho độ nhạy 90%, độ đặc hiệu 96,72% [26]. Giá trị ngƣỡng, độ nhạy,
độ đặc hiệu của ADA trong nghiên cứu này tƣơng đƣơng với nghiên cứu của
Tarcoveanu và cs (2009)
[52]. Tuy nhiên, theo Riqielme và cs (2006) phân tích
số liệu của 264 BN từ 12 nghiên cứu tiền cứu thực hiện tại nhiều quốc gia đã ghi
nhận, với giá trị ngƣỡng ADA là 39 U/l cho độ nhạy 100%, độ đặc hiệu 97,2%