Nghiên cứu tính đa hình AND của các dòng vải thiều Thanh Hà bằng kỹ thuật sinh học phân tử - Pdf 67

MỞ ĐẦU
Hải Dương là nơi xuất xứ của giống vải thiều Thanh Hà nổi tiếng. Đây
là giống vải quí của nước ta, với những ưu điểm hạt nhỏ, cùi dày, chất lượng
quả ngon, có vị thơm đặc trưng… mà các giống vải khác không có.
Hiện nay, ở thôn Thuý Lâm, xã Thanh Sơn, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải
Dương vẫn còn cây vải tổ của giống vải này. Theo Hội những người làm
vườn Việt Nam cho biết thì đây là cây vải thiều lâu năm nhất của nước ta.
Tuổi của nó vào khoảng 180 năm [14].
Qua tìm hiểu, chúng tôi thấy rằng tất cả các cây vải thiều trồng ở Thuý
Lâm từ xưa tới nay đều là các thế hệ con cháu (cành chiết) của cây vải tổ này.
Tìm hiểu các xã khác của huyện Thanh Hà, các địa phương khác của tỉnh Hải
Dương và các tỉnh khác như Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Tây, Hoà Bình, Quảng
Ninh..., chúng tôi được nhân dân cho biết họ đều lấy giống vải thiều ở xã
Thanh Sơn, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương về trồng.
Với nhu cầu về cây giống phục vụ cho việc mở rộng diện tích trồng vải
ngày càng cao đã dẫn tới tình trạng cây dùng làm giống bị kiệt sức do chiết
cành quá nhiều. Trước đây, ở huyện Thanh Hà các cây vải cổ thụ dùng để
chiết cành làm giống thì nay hầu như không dùng được nữa. Thay vào đó là
sử dụng thế hệ con cháu của các cây vải này. Mặt khác, vải là giống cây thụ
phấn chéo nên hạt phấn lẫn tạp không thuần. Với những lý do đó có thể dẫn
đến sự thoái hoá của giống bán ra, có những cây chất lượng quả không tốt
bằng giống gốc. Vì vậy, vấn đề đặt ra cho chúng ta là phải nghiên cứu tính đa
hình ADN của quần thể vải thiều trồng ở huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương
để đánh giá mức độ lẫn tạp và xác định sự chuẩn xác của giống.
Có rất nhiều phương pháp khác nhau được sử dụng để phân tích tính đa
hình ADN hệ gen như RFLP, AFLP, SSR... Tuy nhiên, các phương pháp này
1
rất phức tạp, yêu cầu thông tin về trình tự cần nghiên cứu và đòi hỏi một
lượng lớn ADN hệ gen nên chỉ có kỹ thuật RAPD (Random Amplified
Polymorphic DNA - đa hình các đoạn ADN được nhân bản ngẫu nhiên) là
được sử dụng phổ biến.

1.1.1.2. Nguồn gốc, phân bố
Nguồn gốc cây vải là ở miền Nam Trung Quốc. Hiện nay, ở núi Tạ Hải
Sơn (tỉnh Quảng Đông), núi Lôi Hồ Lĩnh, Kim Cổ Lĩnh (đảo Hải Nam), ở vùng
phía nam của Xi Suang Ba Na (Vân Nam) còn có những cánh rừng có nhiều cây
vải dại. Đặc biệt núi Kim Cổ Lĩnh ở đảo Hải Nam vải dại mọc thành rừng. Lâm
trờng Bạch Tinh đã chặt 534 ha rừng vải già để trồng cây khác, hiện còn 50 ha
vải rừng xanh tốt. Kim Cổ Lĩnh ở độ cao 600 - 700 m so với mặt biển, tại đây
có những cây vải già có chu vi thân 7,5 m [8].
Trung Quốc là nơi thuần hóa cây vải trớc tiên cách đây hơn 2000 năm.
Đời Hán Vũ Đế Nguyên Đinh năm thứ 6 (111 năm trớc Công nguyên) đã cho
lập vờn vải trong cung vua, lấy cây từ Lĩnh Nam lên. Đời nhà Tống, vào năm
1059, Thái Tơng viết quyển Lệ Chi Phổ mô tả lịch sử vùng trồng, đặc điểm
giống, kỹ thuật trồng trọt, chăm sóc và chế biến. Đây đợc coi là công trình xuất
bản đầu tiên trên thế giới về cây vải [14], [37].
Cây vải có mặt ở Myanma, ấn Độ vào cuối thế kỷ 17, các nớc ở Đông ấn
vào thế kỷ 18, Ôxtrâylia, Nam Phi, Hawaii vào cuối thế kỷ 19... Ngày nay, vải
3
đợc trồng ở các nớc nằm trong phạm vi 20 - 30 vĩ độ Bắc và Nam đờng xích đạo
gồm có các vùng sau [37]:
Châu á: Trung Quốc, ấn Độ, Thái Lan, Việt Nam, Myanma, Lào,
Campuchia, Malaixia, Philipine, Inđonexia, Srilanka, Nhật Bản, Ixarael.
Châu Phi: Nam Phi, Môrithiuyt, Madagatca, Gabông, Cônggô.
Châu Mỹ: Hoa Kỳ, Hoduras, Panama, Cuba, Pooctorico, Braxin.
Châu úc: Ôxtrâylia, Niuzilân.
1.1.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ vải trên thế giới
Trên thế giới hiện nay có trên 20 nớc trồng vải, trong đó các nớc châu á
có diện tích và sản lợng lớn nhất. Sản xuất vải có tính thơng mại gồm các nớc:
Trung Quốc, ấn Độ, Thái Lan, ôxtrâylia, Reunion, Nam Phi, Mađagatxca,
ixrael, Việt Nam Diện tích vải trên thế giới năm 1990 là 183.700 ha với sản l -
ợng 251.000 tấn, năm 1999 sản lợng vải của thế giới khoảng 1,6 - 1,8 triệu tấn

Trung Quốc
Thái Lan
ấn Độ
Đài Loan
Ôxtrâylia
Mađagatca
Nam Phi
Mauritius
Reunion
Mỹ
161.681
13.550
11.410
8.386
1.400
800
180
200
200
100
223.680
8.410
91.860
111.981
450
2.000
1.800
200
180
40

các chất khoáng (Ca - 4 mg, Fe - 0,37 mg, Mg - 16 mg, P - 35 mg, K - 255 mg,
6
Na - 7 mg) và các vitamin (vitamin C - 40,2 mg, B - 0,035 mg, B
2
- 0,084 mg,
PP - 1,91 mg). Nớc ép từ cùi ra có độ Brix cao 19 - 21 (đu đủ, cam, quít, bởi chỉ
có 9 - 12). Độ chua từ 0,2 - 0,5. Tỷ lệ đờng vào loại tốt, thích hợp cho khẩu vị
cả ngời châu á lẫn ngời châu Âu, có mùi thơm thanh khiết, do đó từ lâu vải đã
đợc coi là một trong những loại quả nhiệt đới ngon nhất. Sách Trung Quốc viết
Vải bổ não, khoẻ ngời, khai vị, có thể chữa bệnh đờng ruột, là một thực phẩm
quí đối với phụ nữ và ngời già [14]
Quả vải ngoài ăn tơi còn đợc chế biến thành các sản phẩm có giá trị: nớc vải,
vải hộp, vải khô... Vỏ quả, thân cây và rễ có nhiều tanin có thể dùng làm nguyên
liệu trong chế biến các loại thuốc và một số ngành công nghiệp khác.
Trồng vải không phải chỉ để lấy quả mà còn để phục vụ cho việc nuôi
ong lấy mật. Hoa vải là nguồn mật nuôi ong có chất lợng cao, trong một vụ hoa
vải nếu đặt một thùng ong có thể thu đợc 20 - 30 kg mật. Hạt vải còn đợc dùng
làm thuốc chữa một số bệnh đờng ruột, mụn nhọt... Hạt vải chứa nhiều tinh bột
(37%) nên còn có thể dùng để lên men rợu, làm giấm [6].
Gỗ vải là một loại gỗ quí, bền, không bị mọt đục, có thể dùng xây dựng
nhà cửa, để đóng đồ gỗ. Cây vải trồng làm cây cảnh rất đẹp. Tán tròn, tự tạo
lấy, không phải đốn tỉa phức tạp, màu lá xanh thẫm, mặt trên bóng, bốn mùa tơi
tốt góp phần cải thiện điều kiện môi trờng.
Ưu thế lớn của cây vải là tính thích ứng mạnh, dễ trồng. Vải lại chịu đất
chua, đất dốc là loại đất phổ biến ở vùng đồi núi phía Bắc nớc ta. Tác hại do bão
lụt cũng ít do quả chín vào tháng 5, 6 khi bão mới chỉ bắt đầu. Tháng 11, 12,
khi đọt hoa bắt đầu hình thành thì trời bắt đầu rét và hạn giúp kích thích ra hoa.
Tháng 4, 5, khi quả sắp chín cần nhiều nớc lại là lúc bắt đầu mùa ma, khí hậu
ẩm ít khi thiếu nớc [6].
7

1.1.3.2. Giống vải thiều Thanh Hà
ở Việt Nam, hiện có 3 nhóm giống vải chủ yếu đó là: vải chua, vải nhỡ
và vải thiều. Vải chua hay còn gọi là vải ta là giống vải địa phơng, trồng từ lâu
đời bằng hạt nên đặc tính không ổn định, ăn quả có vị chua, chất lợng nói chung
thấp hơn vải thiều. Vải nhỡ (vải lai) là giống vải lai giữa vải chua và vải thiều.
Vải thiều còn gọi là vải Tàu vì ngời ta cho rằng nó đợc đa từ Trung Quốc sang.
Giống vải này hiện nay có hai loại là vải thiều Phú Hộ (Phú Thọ) và vải thiều
Thanh Hà (Hải Dơng) [14].
Hình 1. Cây vải thiều tổ tại thôn Thuý Lâm
(ảnh: Nguyễn Văn Hợi)
Cây vải thiều Thanh Hà có tán tròn, cành và lá nhỏ, nhiều chùm quả nh-
ng quả tha, quả hình cầu, cuống quả cắm xiên, gai trung bình. Quả chín có màu
đỏ trên nền hơi vàng. Quả nặng 18 - 20 g. Tỷ lệ cùi 72 - 76%. Độ Brix 19 - 20.
Quả cha chín hẳn ăn đã tốt, độ chua 0,4%.
Vải thiều Phú Hộ là giống nhập nội từ trớc năm 1945 ở Trung tâm nghiên
cứu chè và cây ăn quả Phú Hộ (Phú Thọ). Chùm nhiều quả, quả to 25-27 g nhng
ít chùm. Khi chín quả có màu đỏ sẫm, hình trái tim, vai quả hơi nghiêng, hình
gai nhiều cạnh, độ lớn không đều. Hạt cũng vậy, to nhỏ không đều (hạt to nhất
3,5 g, hạt bé nhất 0,4 g), trọng lợng trung bình 1,8 g. Tỷ lệ phần ăn đợc trên dới
9
70%, độ khô 20 - 21%, cao hơn vải thiều Thanh Hà, độ chua cũng cao hơn.
Theo đánh giá của nhà máy hoa quả Tơng Mai (Hà Nội) thì vải thiều Phú Hộ
làm đồ hộp rất tốt, tuy nhiên không bằng vải thiều Thanh Hà.
Hiện nay, cha có ai nghiên cứu tuổi thọ của cây vải thiều ở nớc ta nhng
theo Hội những ngời làm vờn Việt Nam (VACVINA) thì cây vải thiều lâu năm
nhất của nớc ta đợc trồng ở thôn Thuý Lâm, xã Thanh Sơn, huyện Thanh Hà,
tỉnh Hải Dơng. Đây là cây vải thiều đầu tiên đợc trồng ở Việt Nam và vì vậy đ-
ợc gọi là cây Vải Tổ của giống vải thiều Thanh Hà. Cây vải này có nguồn gốc
từ Thiều Châu - Trung Quốc, nên giống vải Thanh Hà đợc gọi là vải thiều
Thanh Hà [14].

sao chép ADN trớc khi tế bào phân chia. Chúng liên kết với một sợi ADN đơn
và tổng hợp nên một sợi đơn mới bổ sung với sợi ban đầu, từ vị trí mồi (một
trình tự ADN ngắn) đã bắt cặp sẵn với khuôn.
ở phơng pháp mà Kary Mullis đa ra ban đầu, enzym đợc sử dụng in
vitro. Khi nâng nhiệt độ lên khoảng 96
o
C để biến tính và tách ADN sợi đôi
thành hai sợi đơn thì ADN polymerase bị mất hoạt tính. Cho nên việc bổ sung
thêm enzym sau giai đoạn gia nhiệt của mỗi chu kỳ đã làm cho phơng pháp
này trở thành phơng pháp kém hiệu quả, tốn thời gian, yêu cầu một lợng ADN
polymerase quá lớn và phải theo dõi liên tục trong suốt quá trình PCR [4].
Về sau phơng pháp này đợc cải tiến bằng cách sử dụng ADN polymerase
tách từ vi khuẩn a nhiệt sống ở các suối nớc nóng trên 110
o
C. ADN polymerase
tách từ các vi khuẩn này bền nhiệt (bền vững ở nhiệt độ cao) và trong phản ứng
PCR nó không bị mất hoạt tính khi hỗn hợp gia nhiệt để tách các sợi ADN. Do
vậy, không cần thiết phải bổ sung thêm ADN polymerase mới vào mỗi chu kỳ
11
và quá trình nhân bản một sợi ADN cần lựa chọn có thể đợc đơn giản hoá và
thực hiện tự động [56].
Phản ứng PCR là một quá trình tơng đối đơn giản, gồm một chuỗi các
phản ứng với nhiều chu kỳ lặp lại, mỗi chu kỳ gồm 3 giai đoạn [4]:
+ Giai đoạn 1 (biến tính): ADN đợc biến tính ở nhiệt độ khoảng 95
0
C
trong thời gian khoảng 1 phút, khi đó các liên kết hidro bị đứt và sợi ADN kép
tách thành hai sợi đơn.
+ Giai đoạn 2 (gắn mồi): ở nhiệt độ từ 30
0

12
n: Số chu kỳ
Số chu kỳ lặp lại của phản ứng PCR trung bình vào khoảng 30 - 40 chu
kỳ, tuỳ theo yêu cầu.
1.2.1.3. Thành phần của phản ứng PCR
Các thành phần cơ bản của một phản ứng PCR gồm: ADN khuôn, hai
đoạn mồi để xác định các điểm bắt đầu tổng hợp ADN, Taq polymerase, hỗn
hợp bốn tiền chất deoxyribonucleotit, dung dịch đệm chứa một số cation hóa trị
1, ion Mg
2+
và dung môi (nớc khử ion, vô trùng) [4], [56].
- ADN khuôn (template)
ADN khuôn là vật liệu khởi đầu cho phản ứng PCR nên đòi hỏi phải có
độ tinh sạch cao. ADN khuôn có thể là sợi đơn hoặc sợi đôi của chuỗi ADN hay
ARN, đợc biết trớc trình tự ở hai đầu để thiết kế mồi. Thông thờng nồng độ của
ADN khuôn đợc đa vào phản ứng PCR khoảng 10 - 500 ng.
- Đoạn mồi (primer)
Trong kỹ thuật PCR, các đoạn mồi đợc chọn để chặn hai đầu của đoạn
ADN cần nhân lên, sao cho các sợi ADN tổng hợp mới đợc bắt đầu tại mỗi
đoạn mồi và kéo dài về phía đoạn mồi nằm trên sợi kia.
Các đoạn mồi thực chất là các oligonucleotit dài khoảng 6 - 10 nucleotit
(đối với mồi ngẫu nhiên) hoặc khoảng 12 - 24 nucleotit (đối với mồi đặc trng)
nhng không quá 50 nucleotit. Việc lựa chọn độ dài của đoạn mồi và nhiệt độ để
tách chúng phụ thuộc vào một số điều kiện. Thứ nhất, nhiệt độ nóng chảy của
một đoạn mồi (không đợc nhầm lẫn với nhiệt độ nóng chảy của ADN trong bớc
đầu tiên của phản ứng PCR) đợc xác định thấp hơn nhiệt độ mà mồi sẽ bắt cặp
với ADN khuôn và cao hơn nhiệt độ mà mồi sẽ tách ra khỏi ADN khuôn. Thứ
hai, nhiệt độ nóng chảy tăng theo độ dài của mồi. Những mồi quá ngắn sẽ bắt
cặp tại một vài vị trí trên sợi ADN khuôn dài và nh vậy sẽ tạo ra các bản sao
không đặc hiệu. Mặt khác, độ dài của mồi bị giới hạn bởi nhiệt độ cần thiết để

bazơ nitơ trong mồi nên xấp xỉ nhau, lợng G - C giữa hai mồi phải bằng nhau,
tránh những vùng trình tự không bình thờng nh polypurine hoặc polypymidine
hay các trình tự lặp.
- Taq polymerase
ADN polymerase bền nhiệt đầu tiên đợc tách từ vi khuẩn Thermus
aquaticus và đợc gọi là Taq. Hiện nay Taq ADN polymerase đợc sử dụng rất
rộng rãi trong các phản ứng PCR. Tuy nhiên, sự sao chép nhờ Taq ADN
14
polymerase có tỷ lệ sai sót khá cao (10
-4
, có nghĩa là cứ 10.000 nucleotit thì
enzym gắn sai một nucleotit). Đặc tính này không gây ảnh hởng nghiêm trọng
nếu ta chỉ cần xem xét kích thớc hay sự có mặt của một sản phẩm khuếch đại,
nhng có ý nghĩa rất lớn nếu cần xác định chính xác trình tự nucleotit của ADN.
Ngày nay, nhiều enzym loại polymerase chịu nhiệt đã đợc đa ra thị trờng
với nhiều chức năng chuyên biệt và hoàn thiện nh Tth polymerase, Pwo và Pfu.
Tth pol đợc tách chiết từ Thermus thermophilus có khả năng hoạt động nh một
enzym phiên mã ngợc khi có mặt ARN khuôn và ion Mn
2+
, nhng với sự có mặt
của ADN khuôn và ion Mg
2+
thì Tth pol lại xúc tác phản ứng khuếch đại ADN.
Enzym này cho phép khuếch đại bản mẫu là ARN thông qua sự hình thành
cADN. Pwo và Pfu đợc tách từ các Archaea, có cơ chế đọc và sửa lỗi do vậy có
khả năng làm giảm đáng kể số lợng các đột biến xảy ra trong trình tự ADN đợc
nhân bản. Hiện nay ngời ta thấy rằng, việc kết hợp giữa các enzym này và Taq
polymerase có thể tạo ra phân tử ADN có độ chính xác và độ tin cậy cao.
Enzym Taq có trọng lợng phân tử là 94 kDa, không mất hoạt tính ở nhiệt
độ cao trong giai đoạn gây biến tính ADN nhng giảm 50% hoạt tính sau 150

+ Số chu kỳ của phản ứng
- Dung dịch đệm PCR (buffer)
Thành phần của dung dịch đệm PCR phụ thuộc vào loại enzym
polymerase đợc sử dụng. Trong dung dịch đệm quan trọng nhất là ion Mg
2+
. Ion
Mg
2+
làm tăng nhiệt độ nóng chảy (Tm) của ADN mạch đôi, tạo ra phức chất
tan với dNTPs để hình thành cơ chất mà enzym polymerase có thể nhận ra, điều
này rất cần thiết cho quá trình liên kết của các dNTPs. Nồng độ Mg
2+
trong hỗn
hợp phản ứng cuối cùng biến đổi từ 0,5 - 5,0 mM (nồng độ này có thể thay đổi
khi cần thiết). Nồng độ ion Mg
2+
quá thấp sẽ làm giảm khả năng tổng hợp của
enzym polymerase, còn nếu nồng độ quá cao sẽ tạo ra những phân đoạn không
đặc hiệu.
Nhìn chung, nồng độ MgCl
2
có ảnh hởng nhiều tới hiệu quả và tính đặc
thù của phản ứng. Ngoài Mg
2+
còn một số chất khác trong dung dịch đệm nh
AMSO, DMSO, formamide đợc thêm vào nh các chất phụ gia nhằm tạo ra các
sản phẩm PCR có kính thớc lớn [56].
1.2.1.4. ứng dụng của phơng pháp PCR
Từ khi đợc Kary Mullis đề xuất và hoàn thiện, phơng pháp PCR đã có
những ứng dụng hết sức rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau, cả trong khoa

17
Các kỹ thuật đợc sử dụng trong phân loại phân tử bao gồm: kỹ thuật
isozym (đồng enzym), các kỹ thuật phân tích đoạn ADN nh phơng pháp đa hình
chiều dài các đoạn cắt giới hạn (Restriction Fragment Length Polymorphism -
RFLP), các kỹ thuật trên cơ sở của phản ứng PCR nh ADN tiểu vệ tinh (Simple
Sequence Repeats - SSR), đa hình các đoạn ADN nhân bản ngẫu nhiên (RAPD -
Random Amplified Polymorphic DNA), đa hình chiều dài các đoạn ADN nhân
bản (Amplified Fragment Length Polymorphism - AFLP), kỹ thuật điểm chỉ
ADN đa locus, lai ADN, phân tích trình tự ADN...
- Kỹ thuật AFLP cho phép ta phát hiện đợc tính đa dạng về chiều dài các
đoạn ADN đợc nhân bản chọn lọc - cắt ra bởi enzym giới hạn. Sử dụng kỹ thuật
này có thể nhân cùng một lúc một cách đặc trng với số lợng lớn các đoạn ADN
có kích thớc giới hạn. Kỹ thuật AFLP kết hợp đợc những u điểm của RFLP và
RAPD nên nó có hiệu quả trong việc phát hiện đa hình ADN. Ngoài ra, kỹ thuật
này có thể phân tích tính đa hình một cách nhanh chóng, ổn định và đáng tin
cậy [42].
- Kỹ thuật RFLP đợc sử dụng để tạo nên các đoạn cắt có chiều dài khác
nhau, đợc phân biệt bằng phơng pháp điện di. Nhợc điểm của kỹ thuật này là
quy trình phức tạp, cồng kềnh, khó tự động hoá, tốn kém và sử dụng chất đồng
vị phóng xạ gây nguy hiểm cho ngời thao tác [4], [9].
- Kỹ thuật SSR dựa trên các đoạn ADN có sự lặp lại của một trật tự
nucleotit đơn giản nào đó. Kỹ thuật SSR cho phép phát hiện đợc tính đa hình về
độ dài các trật tự nucleotit đơn giản. Nhợc điểm của kỹ thuật SSR là tốn kém về
tiền của, công sức trong việc xây dựng cặp mồi đặc hiệu cho mỗi locus đa hình
(để xây dựng các cặp mồi đặc hiệu cần tách dòng và đọc trình tự một số lợng
lớn các đoạn ADN hệ gen chứa đoạn lặp lại) [9].
- Kỹ thuật RAPD là kỹ thuật phối hợp phản ứng sử dụng polymerase của
phản ứng chuỗi trùng hợp (PCR) với các mồi ADN không đặc thù để nhân các
đoạn ADN một cách ngẫu nhiên. Các đoạn ADN nhân ngẫu nhiên có thể đa
18

Trong đó: N
AB
là số phân đoạn có mặt ở cả hai loài A và B; N
A
: là số
phân đoạn chỉ có ở loài A; N
B
: là số phân đoạn chỉ có ở loài B.
19
Ngày nay, các nhà nghiên cứu đã thiết lập đợc phần mềm máy tính để tự
động vẽ nên biểu đồ mối quan hệ hay độ tơng đồng di truyền của các đối tợng
nghiên cứu sau khi nhập dữ liệu về các phân đoạn đợc nhân bản của các cá thể.
NTSYS Version 2.0 (Applied Biostatistics Inc. USA, 1998) là tên của một ch-
ơng trình thuộc kiểu trên để tạo các biểu đồ hình cây. Biểu đồ thu đợc sẽ thể
hiện mức độ gần nhau của các cá thể cho phép đánh giá đợc mối quan hệ di
truyền giữa các cá thể đợc nghiên cứu. Công trình này cho phép giảm bớt thời
gian tính toán và có độ chính xác cao nên nó là một phần mềm có hiệu quả
trong việc phân tích kỹ thuật RAPD.
1.2.2.2. ứng dụng của kỹ thuật RAPD trong đánh giá đa hình ADN
Kỹ thuật RAPD đợc sử dụng để phân tích và xác định mối quan hệ thân
thuộc giữa các loài hay giữa các cá thể để phục vụ cho công tác lai tạo hoặc
phân loại. Chúng cũng đợc sử dụng nh những chỉ thị phân tử để xác định những
gen kiểm soát hoặc có liên quan đến một tính trạng nào đó ở cây trồng, nh tính
trạng chất lợng chất lợng sợi ở cây bông, tính trạng kháng virut ở cà chua [9],
[30].
Ưu điểm của kỹ thuật này là nhanh, rẻ và cho phép tiến hành với số lợng
mẫu lớn. Kỹ thuật RADP không yêu cầu mẫu dò ADN, không cần biết thông
tin về trình tự đoạn ADN cần nghiên cứu, quy trình tiến hành nhanh, chỉ cần
một lợng nhỏ ADN khuôn và có thể thực hiện tự động [33]. Với một bộ mồi ta
có thể sử dụng đợc với các loài khác nhau trong khi các mẫu dò RFLP chỉ có

ở các vùng sinh thái khác nhau làm cơ sở cho việc ghép cặp lai với mục đích tạo
con lai có đặc điểm quý. Bùi Mạnh Hùng cùng cộng sự (2000) cũng cho biết
21
khi sử dụng kỹ thuật RAPD đã phân biệt đợc hai giống đậu Vetch và Lentil
cùng giống nhau về hình thái (trọng lợng 1000 hạt, màu sắc, kích thớc...). Điều
này có một ý nghĩa lớn trong việc xác định độ thuần di truyền cũng nh mức độ
lẫn tạp cơ giới của các loại giống cây trồng [7], [48].
Lansium domesticum Corr. (Bòn bon) là loài cây ăn quả đợc trồng phổ
biến ở Malaysia. Các giống đợc trồng tại đây là giống Dokung, Duku,
Langsat , chúng khác nhau ở một số đặc điểm hình thái học, sinh học hay vùng
phân bố. Ngoài ra, cũng có những giống khác nhau do chúng là dạng con lai
hoặc do sự đặt tên khác nhau của ngời dân địa phơng. Sự phức tạp này đã gây ra
hiện tợng mất tên hoặc sai tên của một số loài. Để giải quyết vấn đề này, Song
và cộng sự (2000) đã sử dụng kỹ thuật RAPD để phân tích mối quan hệ di
truyền giữa chúng. Công trình này đã làm sáng tỏ mối quan hệ di truyền và
cung cấp những kiến thức sâu hơn để tìm ra các loại L. domesticum khác nhau
[61].
Đối với cây vải, khi kỹ thuật RAPD cha ra đời, việc phân tích tính đa
hình di truyền thờng sử dụng các dấu chuẩn isozyme. Dấu chuẩn kiểu này đã đ-
ợc Aradhya và cộng sự (1995) sử dụng để xác định mối quan hệ di truyền trong
quần thể vải nghiên cứu thông qua hệ thống 8 enzym [74]. Bên cạnh đó,
Spranger và cộng sự (1998) đã phân tích các hợp chất phenol có trong vỏ quả
bằng kỹ thuật sắc ký lỏng cao áp lỡng cực (diode array HPLC) để xác định mối
quan hệ di truyền của các giống vải (Litchi chinensis Sonn.) dựa trên chơng
trình thống kê ứng dụng (NTSYS-pc program) [19], [44], [62].
Về sau, các nghiên cứu đa hình di truyền của các quần thể vải chủ yếu sử
dụng kỹ thuật RAPD. Bằng kỹ thuật này, Lee và cộng sự (2001) đã phân tích
mối quan hệ di truyền của 13 giống vải Đài Loan. Các giống vải này đợc trồng
từ rất lâu trên một diện tích lớn đã có những biến đổi dẫn đến nhận biết và phân
loại rất khó khăn. Vì vậy, 18 dòng vải của 13 giống vải đã đợc sử dụng để xác

24
Chơng 2. Nguyên liệu và phơng pháp
2.1. Nguyên liệu nghiên cứu
2.1.1. Nguyên liệu thực vật
Vật liệu thực vật đợc sử dụng trong nghiên cứu này là 41 dòng vải thiều
Thanh Hà đợc thu thập ở huyện Thanh Hà tỉnh Hải Dơng và một số dòng vải
chua, vải lai và vải thiều cổ thụ tại nông trờng Thanh Hà, Kim Bôi, Hoà Bình làm
đối chứng. Danh sách các dòng vải nghiên cứu đợc trình bày ở bảng 2.
2.1.2. Thiết bị và hóa chất
Công trình nghiên cứu đợc thực hiện tại Phòng Công nghệ Tế bào thực vật
thuộc Viện Công nghệ Sinh học.
Thiết bị và hóa chất sử dụng trong nghiên cứu là của các hãng sản xuất
chuyên dụng cung cấp nh: Máy ly tâm (Beckman), máy PCR System 9700
(Pharmacia), máy điện di (Biorad), máy đo quang phổ Diode Array
Spectrophotometer của hãng Hewlett - Packard, máy chụp ảnh gel - Doc
(Pharmacia), máy ổn nhiệt, máy soi UV, lò vi sóng, các hóa chất tách chiết ADN,
hóa chất PCR, mồi...
2.2. Phơng pháp nghiên cứu
2.2.1. Điều tra về diện tích trồng vải và giống vải thiều Thanh Hà
- Điều tra về diện tích
- Điều tra về cơ cấu giống
2.2.2. Phơng pháp phân tích các chỉ tiêu sinh học
2.2.2.1. Điều tra các đặc điểm sinh lý
- Tuổi cây
- Tình hình sinh trởng
- Dáng tán, chu vi tán
- Hình dạng lá, màu sắc lá
- Thời gian chín quả, màu sắc quả, trọng lợng quả và các thành phần
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status