Số hóa bởi trung tâm học liệu www: \\lrc-tnu.edu.vn
1
BỘ GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y DƢỢC – ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
NGÔ DUY MINH NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG
VÀ KẾT QUẢ SỚM PHẪU THUẬT VIÊM PHÚC MẠC
DO THỦNG ĐƢỜNG TIÊU HÓA SƠ SINH
TẠI BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƢƠNG
LUẬN VĂN BÁC SĨ NỘI TRÚ
Thái Nguyên - 2013
Số hóa bởi trung tâm học liệu www: \\lrc-tnu.edu.vn
Số hóa bởi trung tâm học liệu www: \\lrc-tnu.edu.vn
3
ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm phúc mạc do thủng đường tiêu hóa sơ sinh là cấp cứu ngoại nhi
phức tạp ở nhiều phương diện: nguyên nhân bệnh sinh đa dạng, triệu chứng
lâm sàng không điển hình nên bệnh nhân thường được can thiệp phẫu thuật
muộn, bệnh diễn biến nhanh đến nhiễm trùng huyết, sốc nhiễm trùng làm
tử vong nhanh.
Tỷ lệ tử vong của viêm phúc mạc do thủng đường tiêu hóa sơ sinh rất cao,
theo Thelender năm 1939 tỷ lệ tử vong là 99% [37], Asabe K năm 2009 và một
số tác giả khác cho rằng tỷ lệ tử vong vào khoảng 50% [11], [17], [29], [45]. Tại
Việt Nam, theo Nguyễn Thu Hương, Nguyễn Gia Khánh năm 1993 tỷ lệ tử vong
là 62,7%[5], theo Nguyễn Thanh Liêm, Trần Ngọc Sơn năm 2006 tỷ lệ tử vong
viêm phúc mạc do thủng ruột là 21,7% [6], theo Diệp Quế Trinh, Trương
Nguyễn Uy Linh năm 2011 tỷ lệ tử vong là 28,9% [7].
Viêm phúc mạc do thủng đường tiêu hóa sơ sinh do nhiều nguyên nhân
trong đó thường là thủng ruột do viêm ruột hoại tử, teo hẹp ruột bẩm sinh,
bệnh Hirschsprung, thủng ruột thừa, thủng túi thừa Meckel, dị tật hậu môn
trực tràng, hoặc do chấn thương, đôi khi cũng xảy ra sau thủng đường mật do
tắc nghẽn bẩm sinh. Tiên lượng bệnh phụ thuộc vào nguyên nhân bệnh sinh,
yếu tố ảnh hưởng đến bệnh như đẻ ngạt, sinh non tháng, cân nặng sơ sinh
thấp, có dị tật đi kèm. Kết quả điều trị viêm phúc mạc do thủng đường tiêu hóa
sơ sinh tùy thuộc vào toàn trạng bệnh nhân, thời điểm phẫu thuật, phương pháp
phẫu thuật, chế độ chăm sóc trước và sau mổ. Do đ
và cận lâm sàng của viêm phúc mạc do thủng đường tiêu hóa sơ sinh sẽ giúp chẩn
đoán sớm, can thiệp phẫu thuật kịp thời và hồi sức thích hợp nhằm cải thiện tỷ lệ
tử vong.
Số hóa bởi trung tâm học liệu www: \\lrc-tnu.edu.vn
5
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1. Đại cƣơng về viêm phúc mạc do thủng đƣờng tiêu hóa sơ sinh
1.1. Một số khái niệm và đặc điểm sinh lý của trẻ sơ sinh
Viêm phúc mạc là tình trạng viêm của khoang bụng, có thể do vi khuẩn
hoặc do hóa chất, nguyên phát hay thứ phát, diễn biến cấp tính hay mạn tính,
thương tổn lan tràn khắp khoang bụng hay khu trú tại một vùng. Thường gặp
là viêm phúc mạc cấp tính thứ phát [2].
Thời kỳ sơ sinh là thời kỳ được tính từ sau khi sinh tới 30 ngày tuổi [8].
Viêm phúc mạc do thủng đường tiêu hóa ở trẻ sơ sinh là viêm phúc
mạc do quá trình thông thương dịch tiêu hóa giữa lòng ống tiêu hóa và
khoang phúc mạc, quá trình này có thể xảy ra trong thời kỳ bào thai hoặc sau
khi sinh cho tới 30 ngày tuổi [10].
1.1.1. Đặc điểm về điều hòa nhiệt ở trẻ sơ sinh
Cơ thể trẻ sơ sinh luôn đẳng nhiệt và có tỷ lệ diện tích da so với trọng
lượng cơ thể cao. Quá trình biến đổi về tạo nhiệt liên quan đến trọng lượng cơ
thể, trong khi sự mất nhiệt là từ bề mặt của cơ thể [3]
Sự tạo nhiệt: Trẻ sơ sinh tạo nhiệt bởi các hoạt động chuyển hóa đường,
đạm, mỡ để chống lạnh và sự tạo nhiệt cũng trong một giới hạn nhất định. Theo
Freeman (1994) hiện tượng này có khả năng sinh nhiệt gấp đôi nhưng đáp ứng
này kém trong 12 giờ đầu sau sinh, đặc biệt ở những trẻ sinh ngạt hay ở trẻ bị
thiếu oxy [21]. Trong những trường hợp hạ thân nhiệt trầm trọng dưới 34°C, sự
bài tiết catecholamine sẽ làm co mạch ngoại biên, gây tăng chuyển hóa yếm khí
dẫn đến toan hóa, tiếp theo sau là co mạch phổi và tạo shunt phải-trái, hậu quả là
dễ bị toan hóa máu gây suy hô hấp, mất nước và suy dinh dưỡng. Sau ngày thứ
3 thận thải nước rất dễ dàng (50%) nên không ứ nước nếu dùng nhiều nước.
Số hóa bởi trung tâm học liệu www: \\lrc-tnu.edu.vn
7
Mất nước không nhìn thấy: không đo được, từ phổi và từ da, bao gồm
lượng nước mất do hoạt động bài tiết mồ hôi, lượng nước mất thường không
đáng kể [3], [21].
Mất nước qua biểu bì: theo Scheuplein (1976), sự hiện diện của keratin
trong tế bào sừng của biểu bì giúp ngăn chặn sự mất nước qua da. Keratin
trong tế bào tăng theo tuổi thai, do đó, sự mất nước qua biểu bì giảm khi tuổi
thai tăng. Ngay sau khi sinh, sự mất nước qua biểu bì tăng và giảm nhanh
trong 2 giờ đầu sau sinh. Theo Freeman, ở trẻ sơ sinh đủ tháng thì sự mất
nước qua biểu bì không đáng kể, còn ở trẻ sinh non thì mất nước qua biểu bì
cao hơn [21].
Mất nước qua khoang thứ 3: đối với những trẻ được phẫu thuật, cơ thể
có sự thay đổi lớn về lượng dịch ở khoang thứ 3 gồm nước trong mô, nước
trong phúc mạc và nước trong màng phổi. Lượng nước mất liên quan đến sự
tăng giảm của áp lực keo gây thoát mạch của protein huyết tương, đặc biệt là
albumin. Sự thoát mạch gặp ở những trẻ bị nhiễm trùng, giảm oxy máu và
toan hóa, nhất là trên bệnh nhân bị viêm ruột hoại tử. Do đó, trong thời kỳ hậu
phẫu cần bù đủ lượng dịch bị mất cộng thêm lượng dịch của nhu cầu của cơ
thể [21].
1.1.3. Đặc điểm cân bằng kiềm toan ở trẻ sơ sinh
Những cơ quan đáp ứng chính để duy trì trạng thái cân bằng kiềm toan
của dịch cơ thể là thận, những cơ chế bù trừ của hệ hô hấp và hệ thống đệm.
Bất kỳ sự tăng hay giảm của H
2
CO
mất HCl dẫn tới thừa HCO3
-
. Toan chuyển hóa do sự tích tụ acid lactic từ
chuyển hóa yếm khí hay gặp ở trẻ thiếu oxy máu và trẻ nhiễm trùng nặng. Toan
hô hấp hay gặp ở những trẻ suy hô hấp có tăng carbon dioxit máu [21], [42].
1.1.4 Đặc điểm sinh lý về miễn dịch ở trẻ sơ sinh
* Trẻ sơ sinh có sức đề kháng giảm sút [4]:
Cơ chế miễn dịch thể dịch chưa được hoàn chỉnh, IgM xuất hiện vào
tuần thứ 10 của thai kỳ, IgG có vào tuần thứ 12 và IgA xuất hiện vào tuần thứ
30 của thai kỳ nhưng rất ít và không hiệu quả.
Cơ chế miễn dịch tế bào cũng như khả năng thực bào vi khuẩn, siêu
vi còn yếu. Miễn dịch tế bào từ tháng thứ 2 của thai kỳ nhưng khả năng
diệt khuẩn trực tiếp rất kém, phải đến 2 tuổi khả năng này mới hoàn chỉnh.
Tổng hợp bổ thể: có từ tháng thứ 2 của thai kỳ nhưng số lượng chỉ đạt
50-60% so với người lớn khi được 6 tháng tuổi.
* Da và niêm mạc dễ bị tổn thương
Da trẻ sơ sinh mỏng, dễ bị xây xát nên vi khuẩn dễ dàng xâm nhập qua
da. Động tác hút dịch không đúng cách có thể gây tổn thương niêm mạc mũi
và họng. Đặt ống thông dạ dày và tiêm truyền tĩnh mạch đều là những đường
vào của vi khuẩn [8], [41].
Số hóa bởi trung tâm học liệu www: \\lrc-tnu.edu.vn
9
1.2. Viêm phúc mạc do thủng đường tiêu hóa sơ sinh.
1.2.1 Sơ lược lịch sử bệnh viêm phúc mạc do thủng đường tiêu hóa sơ sinh
Năm 1761, Morgani [2] đã mô tả trường hợp viêm phúc mạc phân
su đầu tiên.
Năm 1825, Siebold [2] cũng mô tả trường hợp viêm phúc mạc sơ sinh
do thủng dạ dày đầu tiên.
sinh đã thấy viêm phúc mạc sơ sinh gồm hai loại là viêm phúc mạc hóa học
và viêm phúc mạc do vi khuẩn. Viêm phúc mạc hóa học là viêm phúc mạc
phân su, viêm phúc mạc vi khuẩn bao gồm thủng ruột tự phát, hoại tử ruột do
thiếu máu cục bộ, viêm ruột, viêm phúc mạc do biến chứng ngoại khoa sau
mổ, nhiễm trùng, tràn máu ổ bụng [19].
1.2.2.1 Viêm phúc mạc do thủng đường tiêu hóa ở thời kì bào thai
Viêm phúc mạc bào thai còn gọi là viêm phúc mạc phân su hay viêm
phúc mạc hóa học, xảy ra do thủng đường tiêu hóa trong thời gian từ 4-5
tháng cuối của thai kỳ đến vài giờ sau sinh, khi đường tiêu hóa chưa có vi
khuẩn [21].
Nguyên nhân thủng đường tiêu hóa có thể là teo ruột, xoắn ruột, tắc
ruột phân su, thoát vị nội, tắc ruột do dây chằng, thủng túi thừa Meckel,
thủng ruột thừa, lồng ruột, tổn thương mạch máu mạc treo ruột, do chọc ối
[12], [15], [21], [22].
1.2.2.2. Viêm phúc mạc do thủng đường tiêu hoá sau thời kỳ bào thai
* Thủng đường tiêu hóa tự phát
Thủng dạ dày tự phát:
Nguyên nhân thủng dạ dày ở trẻ sơ sinh được các tác giả cho là vô căn
[1], [16], [27], [39], [47].
Rosser [41] đưa ra giả thuyết thủng dạ dày là do thiếu vắng bẩm sinh lớp
cơ dạ dày và giả thuyết này đã được xác nhận bởi Kneiszl [28] và Tam [47].
Số hóa bởi trung tâm học liệu www: \\lrc-tnu.edu.vn
11
Tuy nhiên, ở một số trường hợp người ta có thể tìm thấy các yếu tố
đi kèm như: teo thực quản, tắc tá tràng, tụy nhẫn, xoắn dạ dày, thoát vị
hoành, sự căng phồng quá mức của dạ dày do thở oxy qua mũi hoặc qua
thông nội khí quản xảy ra ở trẻ có hay không có rò khí quản - thực quản, trẻ
có cân nặng sơ sinh thấp, do chấn thương khi sinh qua đường âm đạo [16].
thương tổn, Zahraa và một số tác giả khác đã đưa ra giả thuyết nguyên nhân của
viêm ruột hoại tử là bẩm sinh hay tự phát [14], [32], [50].
Thủng ruột non thường gặp ở đoạn cuối hồi tràng. Alkan M (2009) giải
thích về vị trí thủng thường gặp này có liên quan đến hai quá trình tiến hóa của
thời kì phôi thai. Tác giả cho rằng:
Do bất thường trong quá trình phát triển thành lớp cơ từ tế bào trung
mô của nhiều túi thừa ở đoạn cuối hồi tràng trong thời kỳ phôi giai đoạn 7-
40mm, do sự thoái triển bất thường của ống noãn hoàn gây khiếm khuyết lớp
cơ tại túi thừa Meckel [10].
* Viêm phúc mạc do thủng đường tiêu hóa thứ phát
- Thủng đường tiêu hóa thứ phát chủ yếu là biến chứng của bệnh tắc
nghẽn đường tiêu hóa gây căng chướng quá mức đoạn ruột phía trên chỗ tắc,
kết quả là hoại tử và gây thủng [17], [21].
Thủng dạ dày: dạ dày bị căng chướng quá mức khi được hổ trợ hô hấp, do
teo thực quản có dò khí-thực quản hay do teo tá tràng [22], [26].
Thủng tá tràng: do teo tá tràng.
Thủng ruột non: do teo ruột non bẩm sinh, do tắc ruột phân su hay do
viêm thủng túi thừa Meckel.
Thủng đại tràng: do bệnh Hirschsprung vô hạch dài, viêm ruột thừa,
xoắn đại tràng xích ma, dị tật hậu môn-trực tràng.
- Thủng đường tiêu hóa thứ phát sau can thiệp thủ thuật, phẫu thuật:
Số hóa bởi trung tâm học liệu www: \\lrc-tnu.edu.vn
13
Thủng thực quản, dạ dày, tá tràng sau đặt ống thông mũi-dạ dày hay đặt
sonde trong phẫu thuật mở thông dạ dày [2], [15], [19].
Thủng trực tràng do sinh thiết, do kỹ thuật thụt tháo đại tràng hay do
đặt nhiệt kế qua hậu môn [13], [35], [40].
- Thủng đường tiêu hóa thứ phát do viêm ruột hoại tử. Theo một số báo
+ Thoát vị nội.
+ Thoát vị hoành.
+ Nhiễm Salmonella và amip.
+ Thoát vị Richter.
+ Do thuốc như Indomethacin.
1.2.2.3. Viêm phúc mạc do thủng đường tiêu hóa ở trẻ sơ sinh có acid trong ổ bụng
Năm 1983, Stringel G đã báo cáo về viêm phúc mạc do thủng đường mật
sau tắc nghẽn bẩm sinh [21], [46].
Viêm phúc mạc do thẩm thấu nước tiểu: do van niệu đạo sau, do vỡ bàng
quang, do u quái cùng cụt to chèn ép ở trẻ nam hay do chấn thương thận [20].
1.2.2.4 Đặc điểm vi trùng học trong viêm phúc mạc do thủng đường tiêu hóa
sơ sinh
Freeman đã đưa ra 4 giả thuyết dựa theo tác nhân gây viêm phúc mạc
do thủng đường tiêu hóa ở trẻ sơ sinh [21].
Viêm phúc mạc thứ phát: tình trạng nhiễm trùng cấp tính như viêm
phúc mạc do thủng đường tiêu hóa, sau mổ hay do chấn thương.
Áp xe trong ổ bụng: nguyên phát, thứ phát.
Số hóa bởi trung tâm học liệu www: \\lrc-tnu.edu.vn
15
Elhalaby cho rằng nhiễm trùng trong phẫu thuật thường do vi khuẩn
gram âm [17].
Theo Freeman [21], ưu thế về vi khuẩn yếm khí trong đường tiêu hóa
chỉ tồn tại vài ngày, đến cuối tuần đầu tiên của cuộc sống sẽ có sự cân bằng
và ổn định lâu dài giữa quần thể vi khuẩn kỵ khí - hiếu khí.
2. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của viêm phúc mạc do thủng
đƣờng tiêu hóa sơ sinh
2.1. Đặc điểm lâm sàng của viêm phúc mạc do thủng đường tiêu hóa sơ sinh
Viêm phúc mạc do thủng đường tiêu hóa ở trẻ sơ sinh xảy ra từ thời kỳ
Hình 1.2: Dấu hiệu “quả bóng”[32].
+ Trên phim chụp thế thẳng đứng: hình ảnh liềm hơi dưới hoành hoặc
“túi hơi hình yên ngựa” (Saddle bag).
+ Trên phim chụp thế nghiêng: hình ảnh khí dưới thành bụng.
+ Hình ảnh tràn dịch ổ bụng: mờ toàn bộ ổ bụng.
+ Hình ảnh nốt canxi hóa trong ổ bụng hay ở bìu là dấu tích của viêm
phúc mạc bào thai.
+ Có thể thấy dấu Rigler’s (hơi trong thành ruột).
Số hóa bởi trung tâm học liệu www: \\lrc-tnu.edu.vn
17
Hình 1.3: Hình ảnh hơi tự do trong ổ bụng và hơi trong thành ruột [18].
+ Ngoài ra có thể thấy hình ảnh tràn khí màng phổi, các quai ruột giãn,
hình ảnh “bóng đôi” gợi ý nguyên nhân tắc tá tràng.
2.2.2 Siêu âm ổ bụng
+ Hình ảnh bụng chướng hơi do nhiều hơi tự do trong ổ bụng
+ Hình ảnh dịch ổ bụng không thuần nhất.
+ Hình ảnh hơi tự do: dấu hiệu “rèm cửa”.
+ Có thể thấy hình ảnh hơi trong tĩnh mạch cửa, hơi trong thành ruột
gợi ý chẩn đoán nguyên nhân viêm ruột hoại tử.
+ Bệnh Hirschsprung.
+ Teo ruột non.
+ Dị tật hậu môn – trực tràng
+ Tắc ruột phân su.
+ Xoắn ruột.
Số hóa bởi trung tâm học liệu www: \\lrc-tnu.edu.vn
19
3. Kết quả điều trị viêm phúc mạc do thủng đƣờng tiêu hóa sơ sinh và các
yếu tố liên quan tới tử vong.
3.1 Các phương pháp điều trị viêm phúc mạc do thủng đường tiêu hóa sơ sinh
Viêm phúc mạc do thủng đường tiêu hóa sơ sinh là cấp cứu ngoại nhi,
phẫu thuật là phương pháp điều trị duy nhất. Tuy nhiên, cần điều chỉnh các rối
loạn ở trẻ trước khi tiến hành phẫu thuật nhằm hạn chế những tai biến trong
và sau mổ [17], [19], [21], [36].
3.1.1 Điều trị trước phẫu thuật
Phần lớn trẻ đều trong tình trạng thở nhanh do bụng chướng làm ảnh
hưởng đến hô hấp, do đó cần giảm áp ổ bụng bằng đặt sonde dạ dày và sonde
hậu môn [17].
Vì trẻ sơ sinh chủ yếu thở bằng mũi do đó nên đặt sonde dạ dày qua
đường miệng và hút liên tục dưới áp lực thấp.
Trẻ sơ sinh rất dễ bị mất nhiệt và rối loạn về điều hòa thân nhiệt. Để
chống lạnh, trẻ chủ yếu dựa vào chuyển hóa các chất đạm, mỡ, đường để cung
cấp năng lượng cần thiết, nhưng các chất này dự trữ rất ít, do đó nên giữ nhiệt
độ môi trường ở 28-30
o
C đối với trẻ sinh đủ tháng và 30-33
o
sạch hay bẩn và nguyên nhân gây viêm phúc mạc mà lựa chọn các phương
pháp sau:
+ Khâu lỗ thủng đơn thuần.
+ Cắt nối ruột ngay thì đầu.
+ Làm hậu môn nhân tạo.
+ Dẫn lưu ổ bụng đơn thuần.
- Ngoài ra, việc xử trí các thương tổn đi kèm cũng được tiến hành song
song như tắc tá tràng, teo thực quản, thoát vị rốn, xoắn trung tràng…
3.1.3 Biến chứng sau phẫu thuật viêm phúc mạc do thủng đường tiêu hóa ở trẻ
sơ sinh.
* Các biến chứng có thể xảy ra sau mổ như:
- Do suy hô hấp sau gây mê
- Rò miệng nối.
- Hoại tử dạ dày-ruột tiến triển.
Số hóa bởi trung tâm học liệu www: \\lrc-tnu.edu.vn
21
- Tắc ruột.
- Nhiễm trùng huyết.
- Nhiễm trùng vết mổ.
- Viêm phổi.
3.2. Một số nghiên cứu về điều trị viêm phúc mạc do thủng đường tiêu hóa
sơ sinh trên thế giới
Mặc dù viêm phúc mạc sơ sinh đã được biết đến từ hơn một thế kỷ nay
nhưng lúc đầu ít được chú ý tới mãi cho đến năm 1850 Churchil quan sát thấy
viêm phúc mạc sơ sinh chiếm khoảng 6% trong những trẻ sơ sinh chết tại
bệnh viện Enfants Trouves [36].
Năm 1939 Thelender thấy tỷ lệ tử vong là 99% trong số 85 bệnh nhân
thủng ruột ở lứa tuổi sơ sinh [37].
+ Sinh non.
+ Sinh nhẹ cân.
+ Sinh ngạt.
+ Dị tật kèm theo
+ Tình trạng sốc trước phẫu thuật
3.3 Một số nghiên cứu về điều trị viêm phúc mạc do thủng đường tiêu hóa
sơ sinh tại Việt Nam.
Năm 1984 Nguyễn Thanh Liêm, Nguyễn Xuân Thụ, Hoàng Bội Cung
đưa ra một số nhận xét về lâm sàng nguyên nhân của viêm phúc mạc sơ sinh
thông qua 75 bệnh án trong vòng bảy năm. Nhưng đề tài này chưa hề đề cập
tới vấn đề điều trị và các yếu tố tiên lượng nặng của bệnh [5].
Năm 1985 Chu Văn Tường đã đối chiếu lâm sàng và kết quả mổ tử thi
22 trường hợp thủng ruột do viêm ruột hoại tử, đồng thời tác giả tìm được một
số yếu tố có khả năng liên quan đến tử vong là suy hô hấp, ngạt trong khi đẻ,
suy dinh dưỡng độ I, II, chế độ nuôi nhân tạo.
Số hóa bởi trung tâm học liệu www: \\lrc-tnu.edu.vn
23
Cũng năm 1985 Tô Thanh Hương và cộng sự qua đối chiếu kết quả mổ
tử thi 72 bệnh nhân viêm ruột hoại tử sơ sinh Các yếu tố thuận lợi gây viêm
ruột hoại tử sơ sinh là tuổi thai thấp, cân nặng thấp, ăn nhân tạo. Trong đề tài
này tác giả chưa đề cập đến chỉ định điều trị nội khoa cũng như ngoại khoa
đối với viêm ruột hoại tử sơ sinh [4].
Năm 1993 Nguyễn Thu Hương đã nghiên cứu nguyên nhân viêm phúc
mạc sơ sinh và thấy 49/59 bệnh nhân viêm phúc mạc sơ sinh có nguyên nhân
do thủng đường tiêu hóa, tỷ lệ tử vong là 63,3% [5].
Năm 2006 Nguyễn Thanh Liêm, Trần Ngọc Sơn đã nghiên cứu 46 bệnh
nhân Viêm phúc mạc do thủng đường tiêu hóa sơ sinh thấy tỷ lệ tử vong là
21,6 % nhưng chưa phân loại kết quả sớm điều trị viêm phúc mạc do thủng
1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
- Bệnh nhân sơ sinh đã phẫu thuật viêm phúc mạc do thủng đường
tiêu hóa ở tuyến trước
- Hồ sơ không ghi nhận đầy đủ các dữ kiện cần nghiên cứu
2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.1 Thời gian nghiên cứu
Từ 01/01/2010 đến 30/06/2013.
2.2 Địa điểm nghiên cứu
Khoa ngoại - Bệnh viện Nhi trung ương
3. Phƣơng pháp nghiên cứu
3.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả, thiết kế nghiên cứu cắt ngang
3.2. Mẫu nghiên cứu
* Cỡ mẫu: sử dụng công thức ước tính 1 tỷ lệ:
2
(1 /2)
2
(1 )
( . )
pp
nZ
p
Số hóa bởi trung tâm học liệu www: \\lrc-tnu.edu.vn
nhân khác
- Tiền sử sản khoa:
+ Đẻ thiếu tháng: dưới 37 tuần thai
+ Đủ tháng: từ 37 đến dưới 41 tuần thai
+ Già tháng: lớn hơn hoặc bằng 41 tuần thai
+ Đẻ ngạt (sau đẻ trẻ xuất hiện tím tái, suy hô hấp, cần hỗ trợ hô hấp)