Số hóa bởi trung tâm học liệu
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NGUYỄN THỊ HỒNG
NGHIÊN CỨU VIỆC LÀM CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG
TRONG NHỮNG HỘ BỊ THU HỒI ĐẤT TẠI MỘT SỐ
XÃ THUỘC KHU CÔNG NGHIỆP YÊN PHONG,
HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH Chuyên Ngành: Phát triển nông thôn
Mã số: 60 62 01 16 luËn v¨n th¹c sü khoa häc n«ng nghiÖp
Người hướng dẫn khoa học: TS. Bùi Đình Hòa
TS Bùi Đình Hòa – Trưởng Khoa Kinh tế và Phát triển Nông thôn Trường
Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên. Thầy đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình
thực hiện nghiên cứu và hoàn thành đề tài này. Tôi xin trân trọng cảm ơn tới
Ban Giám hiệu, Khoa Sau Đại học, Khoa Kinh tế và Phát triển Nông thôn
Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành
công tác và thực hiện đề tài này. Cảm ơn các Thầy Cô giáo đã giảng dạy,
truyền đạt kiến thức, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
cùng bạn bè đồng nghiệp và người thân đã quan tâm giúp đỡ và động viên tôi
trong quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Tôi xin trân trọng cảm ơn !
Tác giả Nguyễn Thị Hồng
Số hóa bởi trung tâm học liệu
iii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu chung 3
3. Mục tiêu cụ thể 3
Chƣơng 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1.Cơ sở lý luận 4
1.1.1. Các vấn đề về sở hữu ruộng đất, vai trò của ruộng đất và thu hồi
đất 4
1.1.2. CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn với vấn đề thu hồi đất 7
3.4.2. Thực trạng việc làm của người lao động trong hộ bị thu hồi đất 54
3.4.3. Ý kiến về khó khăn trong tìm kiếm việc làm của lao động trong các
hộ sau khi thu hồi đất 64
3.4.4. Nguyện vọng của người lao động sau khi bị thu hồi đất 71
3.5. Định hướng và đề xuất một số giải pháp tạo việc làm và giúp cho lao
động trong diện bị thu hồi đất tìm kiếm được việc làm phù hợp 75
3.5.1. Một số chủ trương, quan điểm của Đảng và Nhà nước về vấn đề tạo
việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân sau THĐ 75
3.5.2. Quan điểm, định hướng của huyện Yên Phong về những vấn đề của
người dân sau THĐ 77
3.5.3. Một số giải pháp chủ yếu nhằm tạo và tìm kiếm việc làm cho lao
động sau THĐ trên địa bàn KCN Yên Phong 79
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 87
1. Kết luận 87
2. Đề nghị 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Số hóa bởi trung tâm học liệu
v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BQ
CC
: Kinh doanh
: Khoa học kỹ thuật
: Kinh tế xã hội
: Nông nghiệp
: Lao động
: Phát triển nông thôn
: Thu hồi đất
: Trung học cơ sở
: Trung học phổ thông
: Số lượng
: Sản xuất
: Ủy Ban Nhân Dân
Số hóa bởi trung tâm học liệu
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 3.1: Tình hình biến động đất đai qua một số năm (2010– 2012) 27
Bảng 3.2: Tình hình sản xuất một cố cây trồng qua các năm 29
Bảng 3.3: Tình hình chăn nuôi của huyện Yên Phong 30
Bảng 3.4: Tình hình dân số và lao động của huyện Yên Phong qua các
năm ( 2010 – 2012) 32
Bảng 3.5: Thông tin cơ bản của các nhóm hộ điều tra 36
Bảng 3.6: Hiện trạng sử dụng đất trước và sau thu hồi đất của các hộ
điều tra 40
Bảng 3.7: Thực trạng sử dụng tiền đền bù của các nhóm hộ điều tra 43
Bảng 3.8: Độ tuổi lao động của các nhóm hộ điều tra 48
Bảng 3.9: Trình độ văn hoá, chuyên môn kỹ thuật của lao động ở các
nhóm hộ điều tra ở thời điểm sau thu hồi đất 51
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, trong những năm
qua quá trình đô thị hoá và công nghiệp hoá (CNH) diễn ra khá mạnh mẽ và
lan toả nhanh chóng từ các thành phố lớn ra các vùng phụ cận và nông thôn
Việt Nam. Biểu hiện của quá trình này đó là trong thời gian qua hàng trăm
khu công nghiệp (KCN), cụm công nghiệp đã được xây dựng, Theo số liệu
thống kê tính đến cuối tháng 12/2011 cả nước đã có 283 khu công nghiệp
được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên gần 76.000 ha, trong đó diện
tích đất công nghiệp có thể cho thuê đạt gần 46.000ha, chiếm trên 61% tổng
diện tích đất tự nhiên, quy mô trung bình của các khu công nghiệp là 268ha.
Theo kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011-2015) và quy hoạch sử dụng đất đến
năm 2020 đã được Quốc hội khóa VIII phê duyệt, tổng diện tích đất khu công
nghiệp đến năm 2015 là 130.000ha và đến năm 2020 dự kiến là 200.000ha. [17]
Cũng chính quá trình này, đã dẫn tới việc chuyển đổi đất từ sản xuất
nông nghiệp sang phục vụ cho việc xây dựng các KCN và khu chế xuất, đồng
thời quá trình này cũng kéo theo quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động từ
nông nghiệp sang các lĩnh vực khác. Có thể nói việc thu hồi đất để xây dựng
các KCN là một yêu cầu khách quan, mang tính tất yếu của quá trình CNH,
hiện đại hoá (HĐH) đất nước. Mặc dù việc thu hồi đất phục vụ cho quá trình
CNH đã phần nào tạo điều kiện thuận lợi để phát triển công nghiệp dịch vụ
cũng như xây dựng khu đô thị mới, tạo điều kiện thu hút đầu tư, đẩy mạnh
quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tuy nhiên quá trình này cũng đã đặt ra
rất nhiều vấn đề bức xúc trong đời sống người dân bị thu hồi đất, đặc biệt là
vấn đề việc làm, đảm bảo đời sống kinh tế của các hộ nông dân bị thu hồi đất.
Điều này khiến cho cuộc sống của hàng triệu nông dân đang gặp rất nhiều khó
khăn sau khi bị THĐ, và một thực tế mà người dân đang phải đối mặt đó là:
Số hóa bởi trung tâm học liệu
2
3
Bắc Ninh nói chung, Yên Phong nói riêng, tôi đã lựa chọn và nghiên cứu đề
tài: “Nghiên cứu việc làm của người lao động trong những hộ bị thu hồi
đất tại một số xã thuộc khu công nghiệp Yên Phong, huyện Yên Phong,
tỉnh Bắc Ninh”.
2. Mục tiêu chung
Nghiên cứu thực trạng việc làm của người lao động trong những hộ bị
thu hồi đất tại khu công nghiệp Yên Phong, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh
để từ đó đưa ra những giải pháp và kiến nghị cần thiết.
3. Mục tiêu cụ thể
- Phản ánh tình hình thu hồi đất, chính sách đền bù, hỗ trợ việc làm cho
người lao động trong các hộ bị thu hồi đất trên địa bàn nghiên cứu.
- Phân tích thực trạng về vấn đề việc làm của người lao động tại các hộ
bị thu hồi đất trên địa bàn nghiên cứu.
- Tìm hiểu những khó khăn khi tìm kiếm việc làm mới và nguyện vọng
của người lao động sau khi thu hồi đất, từ đó đề ra những giải pháp giải quyết
việc làm cho người lao động trong hộ bị thu hồi đất.
và phát triển của con người, mà về phương diện kinh tế, đất đai tạo ra của cải
Số hóa bởi trung tâm học liệu
5
vật chất, nó có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Theo nhà kinh tế học cổ điển người
Anh Wiliam Petty đã từng nói “lao động là cha, đất là mẹ của mọi của cải”.
Do vậy, không thể có của cải nếu thiếu lao động hoặc thiếu đất đai, không
những thế đất đai là một trong những yếu tố đầu vào quan trọng không thể
thay thế trong sản xuất nông nghiệp, nó còn là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới
vấn đề tạo việc làm cho lao động nông thôn, bởi đất đai nó là cơ sở tự nhiên,
là tiền đề trước tiên của mọi quá trình sản xuất, nó tham gia vào mọi quá trình
sản xuất của xã hội, song tuỳ vào từng ngành, từng giai đoạn mà vai trò của
nó được thể hiện khác nhau. Tuy nhiên, trong lĩnh vực nông nghiệp, đối với
người dân nông thôn thì ruộng đất không chỉ tham gia với tư cách là yếu tố
đầu vào thông thường mà nó còn là yếu tố tích cực trong sản xuất, ảnh hưởng
trực tiếp tới năng suất, sản lượng mà người dân thu được trong quá trình sản
xuất. Hơn nữa, đất đai mặc dù bị giới hạn về không gian nhưng sức sản xuất
của nó là vô hạn, điều này lý giải rõ vấn đề khác nhau về tỷ lệ đất đai ở mỗi
quốc gia, và sự khác nhau này nó dẫn đến tốc độ phát triển kinh tế của mỗi
nước cũng khác nhau. Nước ta là một nước có thể coi là đất chật, người đông,
với dân số xấp xỉ 86 triệu người, dân số sống ở nông thôn chiếm hơn 70%.
Tuy nhiên, diện tích đất nông nghiệp chiếm khá lớn 9.345,4 nghìn ha (29,4%
tổng diện tích cả nước), do vậy nếu sử dụng hợp lý diện tích đất lớn này cho
phép khai thác cả chiều rộng và chiều sâu để đáp ứng những nhu cầu của
người dân, góp phần ổn định, nâng cao thu nhập và đảm bảo cuộc sống của
họ. Ngoài ra, đất đai còn là tư liệu sản xuất không bị hao mòn, không bị đào
thải trong quá trình sản xuất.
Ruộng đất có ý nghĩa to lớn trong sản xuất nông nghiệp nói chung, đối
với việc tạo việc làm, giải quyết lao động dư thừa trong nông thôn nói riêng.
phường, thị trấn.
- Hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất: là việc nhà nước giúp đỡ người bị thu
hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di
dời đến địa điểm mới.
Số hóa bởi trung tâm học liệu
7
Đặc trưng của thu hồi đất: Thu hồi đất là một trong những nội dung
quan trọng của quản lý Nhà nước về đất đai. Vì vậy, để thực thi nội dung này,
quyền lực của Nhà nước được thể hiện nhằm đảm bảo lợi ích không chỉ của
Nhà nước mà của toàn xã hội, để đảm bảo được những lợi ích trên thì việc
THĐ phải bao gồm những đặc trưng sau:
- THĐ phải là quyết định hành chính của người có thẩm quyền nhằm
chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai và thẩm quyền này phải tuân thủ theo điều
44 của luật đất đai 2003. [10]
- Việc THĐ phải xuất phát từ nhu cầu của Nhà nước về KT- XH hoặc là
những biện pháp chế tài được áp dụng nhằm xử lý các hành vi vi phạm pháp
luật đất đai của người sử dụng (Sở Giáo dục & Đào tạo Hà nội, 2006). [11]
Thu hồi đất là một trong những nội dung quan trọng trong khâu quản lý
của Nhà nước về đất đai. Tuy nhiên, để có thể ổn định và phát triển KT- XH
sau thu hồi đất và lập lại trật tự kỷ cương trong quản lý Nhà nước về đất đai
đang là một vấn đề nổi cộm, khó giải quyết. Đặc biệt, trong quá trình CNH -
HĐH đất nước, Nhà nước với tư cách là chủ đầu tư lớn nhất có nhiệm vụ xây
dựng các cơ sở kinh tế, hạ tầng xã hội, sử dụng đất vào mục đích công cộng,
lợi ích cộng đồng, bảo vệ chủ quyền quốc gia cùng với các chủ đầu tư khác có
nhu cầu sử dụng đất rất lớn, trong khi những diện tích Nhà nước có nhu cầu
sử dụng lại do những tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đang có quyền sử dụng
đất. Chính vì thế khi thu hồi đất sẽ không thể tránh khỏi những tác động tiêu
cực tới đời sống của các chủ thể bị thu hồi đất, do đó một trong những việc
các KCN, khu đô thị ngày một tăng, mặc dù đây là một quy luật mang tính tất
yếu, khách quan của xã hội. Cũng chính quá trình này đã dẫn tới muôn vàn
khó khăn mà người dân ở nhiều địa phương đang gặp phải sau THĐ. Theo
thống kê, cứ mỗi năm có tới 73000 ha đất nông nghiệp bị thu hồi để xây dựng
các khu, cụm công nghiệp. Tuy nhiên, bà con không giàu lên mà trái lại 53%
số hộ nghèo đi, nhiều người phải đối mặt với nguy cơ thất nghiệp, thiếu việc
làm và nghèo đói. Theo khảo sát của Bộ lao động – thương binh và xã hội thì
trung bình mỗi hộ bị thu hồi đất có 1,5 lao động rơi vào tình trạng không có
Số hóa bởi trung tâm học liệu
9
việc làm, và trung bình mỗi ha đất nông nghiệp bị thu hồi có 13 lao động mất
việc làm. Qua đây có thể nói, việc thu hồi đất phục vụ phát triển các khu công
nghiệp đang đặt ra rất nhiều vấn đề bức xúc, đặc biệt trong lĩnh vực giải quyết
việc làm, thu hút lao động, ổn định đời sống kinh tế của người dân sau THĐ.
Tuy nhiên, trong những năm tới để thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà
nước đó là đẩy mạnh và thực hiện có hiệu quả quá trình CNH, HĐH nông
nghiệp nông thôn thì việc THĐ nông nghiệp để phục vụ xây dựng các khu
công nghiệp, khu đô thị là một yêu cầu khách quan không thể tránh khỏi, đây
cũng có thể được coi là một cơ hội để thay đổi bộ mặt nông thôn hiện nay.
Tuy nhiên, để tận dụng cơ hội này một cách hiệu quả thì Đảng và Nhà nước
phải có những giải pháp thiết thực để tiến hành chuyển dịch cơ cấu lao động
hợp lý, giải quyết triệt để vấn đề lao động việc làm cho người dân trong vùng
THĐ đảm bảo họ có thu nhập cao, ổn định và có cuộc sống tốt hơn trước.
1.1.3. Lao động, việc làm và các vấn đề liên quan
1.1.3.1.Lao động và các vấn đề liên quan đến lao động
Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật
chất và các giá trị tinh thần của xã hội (Quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ
Nghĩa Việt Nam, 2006) [9]. Do vậy, lao động có năng suất, chất lượng và
1.1.3.2. Việc làm và các vấn đề liên quan đến việc làm
* Việc làm
Theo điều 13 Bộ luật lao động nước Việt nam (2006), thì việc làm được
định nghĩa như sau: “ Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không
bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”. [9]
Theo định nghĩa trên, các hoạt động được xác định là việc làm bao gồm:
+ Các hoạt động tạo ra của cải, vật chất và giá trị tinh thần, không bị
pháp luật cấm, được trả công dưới dạng bằng tiền hoặc hiện vật.
+ Những công việc tự làm mang lại lợi ích cho bản thân hoặc tạo ra thu
nhập cho gia đình và cho cộng đồng kể cả những việc trả công bằng tiền hoặc
hiện vật.
Số hóa bởi trung tâm học liệu
11
- Người có việc làm: Là những người thuộc lực lượng lao động mà
trong tuần lễ trước tính đến thời điểm điều tra:
+ Đang làm công việc để nhận tiền lương, lợi nhuận hay hiện vật
+ Đang làm công việc không được tiền lương hay lợi nhuận trong các
công việc sản xuất, kinh doanh của hộ gia đình mình.
- Người có đủ việc làm: Bao gồm những người có số giờ làm việc trong
tuần lễ tính đến thời điểm điều tra ≥ 40 hoặc ≤ 40 nhưng ≥ số giờ quy định đối
với những người làm công việc nặng nhọc, độc hại theo quy định hiện hành.
- Phân loại việc làm: Việc làm được phân loại theo các mức độ sau
+ Phân loại việc làm dựa theo mức độ đầu tư thời gian cho việc làm
Việc làm chính: Là công việc mà người thực hiện dành nhiều thời gian
nhất hoặc có thu nhập cao hơn so với công việc khác
Việc làm phụ: Là những việc làm mà người lao động dành nhiều thời
gian nhất sau việc làm chính
+ Phân loại việc làm dựa theo mức độ sử dụng thời gian lao động, năng
kiếm việc làm (Bộ Giáo dục & Đào tạo, 2007). [2]
Thất nghiệp là một hiện tượng phức tạp cần phải được phân loại để hiểu
rõ về nó. Thất nghiệp có thể được chia thành các loại như sau:
- Xét về nguồn gốc thất nghiệp có thể chia thành:
+ Thất nghiệp tạm thời: Xảy ra khi có một số người đang trong thời gian
tìm kiếm công việc hơặc nơi làm tốt hơn, phù hợp với ý muốn riêng, hoặc
những người mới bước vào thị trường lao động đang tìm kiếm việc hoặc chờ
đợi đi làm.
+ Thất nghiệp cơ cấu: Xảy ra khi có sự mất cân đối cung - cầu giữa các
loại lao động (không đồng bộ giữa tay nghề và cơ hội có việc làm khi động
thái của nhu cầu và sản xuất thay đổi) (Nguyễn Văn Ngọc, 2007). [7]
+ Thất nghiệp do thời vụ: Xuất hiện như là kết quả của những biến động
thời vụ trong các cơ hội lao động.
Số hóa bởi trung tâm học liệu
13
+ Thất nghiệp chu kỳ: Là loại thất nghiệp xảy ra do giảm sút giá trị tổng
sản lượng của nền kinh tế. Trong giai đoạn suy thoái của chu kỳ kinh doanh,
tổng giá trị sản xuất giảm dần dẫn tới hầu hết các nhà sản xuất giảm lượng
cầu đối với các yếu tố đầu vào trong đó có lao động (Nguyễn Văn Ngọc,
2007). [7]
- Xét về tính chủ động của người lao động, thất nghiệp bao gồm:
+ Thất nghiệp tự nguyện: Là loại thất nghiệp xảy ra khi người lao động
bỏ việc để tìm công việc khác tốt hơn hoặc chưa tìm được việc làm phù hợp
với nguyện vọng.
+ Thất nghiệp không tự nguyện: Là thất nghiệp xảy ra khi người lao
động chấp nhận làm việc ở mức tiền lương, tiền công phổ biến nhưng vẫn
không tìm được việc làm.
- Ngoài ra ở các nước đang phát triển, người ta còn chia thất nghiệp
hiện nay. Mặt khác, trong những năm qua việc THĐ thường tập trung vào
những vùng đất tốt và thuận tiện giao thông, đây cũng là những nơi tạo việc
làm và cho thu nhập chính của người dân. Chính vì vậy, việc THĐ ảnh hưởng
rất lớn tới việc làm và đời sống kinh tế của người dân. Do đó, tạo việc làm
cho người dân sau THĐ là việc làm rất cần thiết, yêu cầu phải được thực hiện
đồng bộ và có sự kết hợp chặt chẽ giữa các bộ ngành.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Tình hình lao động, việc làm của Việt Nam hiện nay
Đến thời điểm 1/7/2011, cả nước có 51,4 triệu người từ 15 tuổi trở lên
thuộc lực lượng lao động, chiếm 58,5% tổng dân số, bao gồm 50,35 triệu
người có việc làm và 1,05 triệu người thất nghiệp. Lực lượng lao động của
khu vực nông thôn chiếm 70,3%. Tốc độ tăng dân số bình quân trên 10 năm là
1,7%, mức tăng trung bình của số người trong độ tuổi lao động 2,6%/ năm
(khu vực nông thôn 2,5%/ năm). Tuy tốc độ tăng dân số trong độ tuổi lao
động cao, tuy nhiên chất lượng lao động vẫn còn thấp. Trong tổng số hơn
50,35 triệu người từ 15 tuổi trở lên đang làm việc của cả nước, chỉ có gần
7,8 triệu người đã được đào tạo, chiếm 15,4%. Có sự chênh lệch đáng kể về
Số hóa bởi trung tâm học liệu
15
tỷ lệ lao động đang làm việc đã qua đào tạo giữa thành thị và nông thôn,
mức chênh lệch này là 21,9 điểm phần trăm (thành thị là 30,9% và nông
thôn là 9%).[13]
Qua đây ta thấy tỷ lệ dân số chưa qua đào tạo còn rất cao, do vậy lao
động ở nông thôn hiện nay chủ yếu là lao động phổ thông, trình độ tay nghề
thấp. Tuy vậy, trong những năm gần đây, do thực hiện chủ trương của Đảng
đó là đẩy mạnh CNH- HĐH nông nghiệp nông thôn nên diện tích đất canh tác
nông nghiệp ngày càng giảm để phục vụ phát triển công nghiệp. Chính điều
này đã dẫn tới vấn đề là ngày càng nhiều lao động nông thôn rơi vào cảnh thất
xây dựng các khu đô thị ngày càng gia tăng. Thống kê cho thấy, tỷ lệ ĐTH
tăng 1,5% thì nhu cầu sử dụng đất tăng 1%. Do vậy, từ năm 1979 – 1997
Trung Quốc đã thu hồi 18 triệu ha đất để xây dựng các KCN, các khu đô thị
và các nhà máy, xí nghiệp. Chỉ tính riêng từ năm 2000 đến tháng 6/2005 diện
tích canh tác của Trung Quốc lên tới 7,3 triệu ha. Điều này ảnh hưởng rất lớn
tới đời sống của người dân bị THĐ, theo thống kê thì hiện nay số nông dân bị
THĐ ở Trung Quốc lên tới 40 triệu người, mỗi năm số nông dân bị THĐ tăng
lên 2,5 đến 3 triệu người. Thực trạng này cũng gây ra rất nhiều khó khăn đối
với tình hình phát triển KT- XH của Trung Quốc, do là một nước có nông
nghiệp phát triển mạnh nên chính phủ Trung Quốc luôn nhận thức rằng muốn
phát triển thì phải giải quyết tốt vấn đề “tam nông”, muốn làm được tốt “tam
nông” thì phải giải quyết ổn thoả vấn đề ruộng đất cho nông dân. Chính vì
vậy, ngay từ đầu thực hiện quá trình CNH-HĐH chính phủ Trung Quốc luôn
coi trọng đến vấn đề giải quyết lao động, việc làm, nâng cao thu nhập cho
người dân trong vùng THĐ, điều này thể hiện thông qua một loạt các giải
pháp mà chính phủ Trung Quốc đã làm như sau:
+ Phát triển các xí nghiệp địa phương để thu hút lao động, tạo công ăn
việc làm thông qua các chính sách khuyến khích phát triển xí nghiệp địa
phương đã thu hút được sự đầu tư của kinh tế tư nhân vào khu vực phi nông
nghiệp, thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp địa phương, hơn nữa các
doanh nghiệp này lại đóng vai trò chính trong việc thu hút lao động dôi dư ở
Số hóa bởi trung tâm học liệu
17
nông thôn trong quá trình ĐTH, chính vì thế trong những năm đầu đã có tới
20% tổng thu nhập của người dân nông thôn Trung Quốc từ doanh nghiệp địa
phương. Năm 1992, số lao động làm việc trong khu vực này tăng lên tới vài
trăm triệu người, thấy được dấu hiệu thành công này Trung Quốc đã coi đây
là giải pháp quan trọng để giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người