PHẦN I. MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Môn hóa học trong trường THCS có vai trò quan trọng trong việc hình
thành và phát triển trí dục của học sinh. Ở chương trình THCS đến lớp 8 học
sinh mới bắt đầu làm quen với môn hóa học. Mặc dù mới học môn hóa học
nhưng thực tế không dễ tí nào, học sinh phải tiếp thu hàng loạt các khái niệm
trừu tượng như nguyên tử, nguyên tố, phân tử…Giáo viên thường nghĩ môn
hóa học 8 dễ, kiến thức lý thuyết nhiều, các dạng bài tập còn ít nhưng thực tế
những kiến thức, khái niệm ở lớp 8 là nền tảng để hình thành, phát triển hóa
học 9, 10…nếu giáo viên không chú ý hình thành tốt các khái niệm cho học
sinh, học sinh rất dễ nhầm lẫn những kiến thức trên không phân biệt rõ ràng
giữa các khái niệm dễ dẫn đến không hiểu bài dễ bị hổng kiến thức, chán học.
Để hình thành những khái niệm về chất ở hóa 8 là một quá trình làm
việc cật lực giữa thầy và trò. Thầy phải tìm những từ ngữ hình ảnh thật tốt để
mô tả, diễn giải cho học sinh dễ hiểu. Học sinh thì phải tư duy cao, có trí
tưởng tượng tốt. Nhưng nếu thầy có một số hình ảnh động, một số đoạn phim
flash mô phỏng nguyên tử, phân tử thì giúp cho quá trình học nhanh hơn và
gây hứng thú học tập cho người học.
Phương pháp, công cụ giáo dục ngày nay rất đa dạng, phong phú,
người giáo viên phái biết luôn đổi mới, học hỏi và kết hợp tốt những phương
pháp, công cụ dạy học sao cho hiệu quả. Khi thầy dạy hấp dẫn thì trò sẽ say
mê học tập, trò tiến bộ thì thầy càng phấn khởi, tìm mọi cách để dạy tốt hơn.
Tôi cũng như các giáo viên khác luôn trăn trở, học hỏi để có phương
pháp dạy học tốt hơn, hiệu quả hơn để nâng cao chất lượng giáo dục.
Qua nghiên cứu về mặt lí thuyết, tiếp xúc với thực tế, qua các tiết dạy của
bản thân, tiết dạy của các giáo viên khác khi dự giờ tôi đã tích lũy một số
kinh nghiệm cho bản thân và thực hiện tương đối hiệu quả . Cùng với phong
trào thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, tôi đã mạnh dạn trình bày một
số kinh nghiệm của mình trong quá trình giảng dạy hình thành các khái niệm
về chất ở chương trình hóa học lớp 8.
II. CƠ SỞ NGHIÊN CỨU:
cũng không có đồ dùng dạy học mô tả được sự vật, sự việc trên.
Trước đây để hình thành những khái niệm trên cho học sinh tôi cũng gặp rất
nhiều khó khăn mà không mấy thành công. Nhưng khi biết sử dụng giáo án điện
tử, một số phần mềm, sử dụng Internet, đổi mới phương pháp dạy học thì việc
hình thành các khái niệm trên không còn khó khăn như trước. Trong bài giảng
của tôi có một số hình ảnh Flash, đoạn phim mô tả sinh động hình ảnh nguyên
tử hay phân tử giúp học sinh dễ hiểu bài hơn
Tôi thấy việc ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy kết hợp với đổi
mới, sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học là cơ sở để dạy học thành
công.
2. Nội dung:
Sau đây là một số kinh nghiệm để hình thành khái niệm về chất mà tôi đã sử
dụng thành công:
Các khái niệm về chất thể hiện ở các bài nguyên tử, nguyên tố hoá học, đơn
chất-hợp chất- phân tử
a) Bài: NGUYÊN TỬ:
Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh
Đầu tiên tôi sẽ cho học sinh biết thông
tin “1 mm sắt có 4 triệu nguyên tử
sắt”. Theo em nguyên tử có kích
thước như thế nào?
Tôi nói với học sinh “ các em hãy
hình dung nguyên tử là một quả cầu
cực bé có đường kính là
8
1
0,00000008
10
cm=
. Sau đó mới hình
Em nhìn mô hình cấu tạo nguyên tử
- Nguyên tử được cấu tạo từ những loại
hạt nào? Có đặc điểm gì?
-Em hãy đếm số hạt electron và số hạt
Proton trong nguyên tử và trả lời câu
hỏi: Vì sao nguyên tử lại trung hòa về
điện?
+ Phần lớp electron:
Giáo viên cho học sinh xem đoạn phim
flash về nguyên tử flo.
-Qua mô hình em thấy hạt electron có
+Nguyên tử được cấu tạo từ 3 loại hạt:
P, N, E. Hạt P: mang điện tích dương,
hạt E: mang điện tích âm, hạt N không
mang điện.
+Học sinh sẽ trả lời được ngay, từ đó
cho học sinh thấy: trong nguyên tử số P
= số E.
Proton
(+)
Electron
(-)
Mô hình cấu tạo nguyên tử hidro
đặc điểm gì?
Sau khi học sinh trả lời, giáo viên chú ý
cho học sinh: Các hạt electron chuyển
động xung quanh hạt nhân với vận tốc
rất lớn, nhưng nó sắp thành từng lớp
khác nhau.
Sau đó gió viên lấy ví dụ về sự phân lớp
rất nhiều.
+Rất nhiều. Không đếm được
loại kia thì ta nói nguyên tố này,
nguyên tố kia.
Mà nguyên tử cùng loại học sinh đã học
rồi, từ đó học sinh hình thành nên khái
niệm nguyên tố.
-Yếu tố nào đặc trưng cho một nguyên
tố hóa học?
Học sinh hình thành khái niệm nguyên
tố
-Đặc trưng cho nguyên tố hóa học là
số proton.
Khái niệm hơi khó trong bài này là: Nguyên tử khối
Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh
Nguyên tử có kích thước như thế nào?
Theo em nguyên tử có khối lượng như
thế nào?
1 nguyên tử có khối lượng bằng gam là
bao nhiêu?
Trong khoa học người ta dùng 1 đơn vị
khác để biểu thị nguyên tử, đó là đơn
vị cacbon
- Rất nhỏ bé
- Học sinh nghĩ ngay: khối lượng rất nhỏ
bé
- Học sinh tìm hiểu thông tin sách giáo
khoa cho biết 1 nguyên tử có khối lượng
tính bằng gam là 1,9926.10
-23
Ta nói nguyên tử khối của N là 14 đvC.
Vậy nguyên tử khối là gì?
Nhấn mạnh cho hs: từ tên nguyên tố thì
tìm ra khối lượng, từ khối lượng thì tìm
ra tên nguyên tố. Ví dụ sắt có nguyên tử
khối = 56 và ngược lại
+ 1 H= 1 dvC
Hs theo dõi
Hs xem bảng sgk trang 42
Mg=24, Al = 27, Fe = 56
Hình thành khái niệm nguyên tử khối.
Giáo viên sẽ cho học sinh củng cố bằng bài tập sau:
1) 1 nguyên tử X có khối lượng gấp 2 lần khối lượng nguyên tử Oxi. Tìm
khối lượng nguyên tử X, kí hiệu hóa học của nguyên tố.
2) Các cách viết sau có ý nghĩa gì ?
2Ca, 7N, 3O, 4H
3) Dùng chữ số và kí hiệu biểu diễn các ý sau:
Bốn nguyên tử hidro
Ba nguyên tử nhôm
Năm nguyên tử sắt
Bảy nguyên tử cacbon
Học sinh phải thảo luận nhóm để hoàn thành.
c) Bài: ĐƠN CHẤT- HỢP CHẤT – PHÂN TỬ
- Khái niệm về đơn chất - hợp chất:
Trong sách giáo khoa tách riêng khái niệm đơn chất, hợp chất còn tôi thường
gộp vào 1 phần.
Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh
Cô có một số chất được cấu tạo từ các
nguyên tố như sau:
- Khí hidro được cấu tạo từ 1 nguyên tố
viên.
Đáp án: Phân thành 2 nhóm:
Nhóm 1: Khí hidro, oxi, sắt
Nhóm 2: Nước, muối ăn, đá vôi
Nhóm 1: Vì các chất trên chỉ được cấu
tạo từ 1 nguyên tố
Nhóm 2: Các chất được cấu tạo từ 2
nguyên tố trở lên.
-Học sinh rút ra khái niệm đơn chất, hợp
chất
Fe
O
-Tên của đơn chất thường trùng với tên
nguyên tố
Hs thảo luận nhóm nhỏ trả lời câu hỏi:
-Chia thành 2 nhóm:
N1: Than, oxi: Không dẫn điện, nhiệt,
không có ánh kim
N2: Sắt, nhôm: đẫn điện, dẫn nhiệt, có
GV nhận xét
Những chất nhóm 1 được gọi là kim loại
Những chất nhóm 2 được gọi là phi kim
? Vậy đơn chất được chia làm mấy loại?
Yêu cầu học sinh cho ví dụ về đơn chất
kim loại, phi kim.
Gv cho ví dụ về một số hợp chất:
Muối ăn được cấu tạo từ 2 nguyên tố:
Na, Cl
Khí mêtan được cấu tạo từ 2 nguyên tố:
C,H
- Đơn chất: chỉ được cấu tạo từ một loại nguyên tử. Trong đó đơn chất kim loại các
nguyên tử sắp xếp khít nhau theo trật tự xác định. Đơn chất phi kim thì các nguyên
tử thường liên kết với nhau theo một số nhất định.
- Hợp chất: được cấu tạo tử nhiều loại nguyên tử khác nhau. Nguyên tử của các
nguyên tố liên kết với nhau theo một tỉ lệ và thứ tự nhất định.
Sau khi học sinh thảo luận báo cáo kết quả. Gv nhận xét, chú ý sử dụng mô
hình, tranh ảnh giải thích rõ đặc điểm cấu tạo của chất hoặc cho học sinh giải thích.
Phần này có thể ghi bảng như sau:
I. Đơn chất, hợp chất:
Đơn chất Hợp chất
1. Định nghĩa
- Là chất được cấu tạo từ 1 nguyên tố
hóa học
- Là chất được cấu tạo từ 2 nguyên tố
hóa học trở lên
2. Phân loại
Chia thành 2 loại:
- Đơn chất kim loại
Ví dụ: sắt, nhôm, đồng
- Đơn chất phi kim
Ví dụ: Lưu huỳnh, than
Chia thành 2 loại:
- Hợp chất vô cơ
Ví dụ: Muối ăn, nước, vôi sống
- Hợp chất hưu cơ:
Ví dụ: Đường ăn, tinh bột
3. Đặc điểm cấu tạo
- Đơn chất kim loại: Các nguyên tử
sắp xếp khít nhau theo một trật tự xác
định.
Nước có hạt hợp thành gồm 2H, 1O
-Học sinh rút ra được khái niệm về phân
tử.
II. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:
1. Kết quả nghiên cứu:
Sau khi học xong mỗi bài tôi thường sử dụng bài kiểm tra 5-10 phút để củng cố
kiến thức hay kiểm tra bài cũ của học sinh để xem khả năng hiểu bài của học
sinh như thế nào và kết hợp với trao đổi thân thiện với các em về phương pháp
học tập để cô và trò có cách học phù hợp hơn. Kết quả kiểm tra cho tôi thấy các
em có hiểu bài, tỉ lệ học sinh không làm được bài thấp, học sinh có tiến bộ trong
học tập và rất thích phương pháp dạy của giáo viên đặc biệt rất thích giáo viên
dạy giáo án điện tử có hình ảnh, đoạn phim mô phỏng sinh động.
1. Với bài nguyên tử: tôi sử dụng bài tập sau:
a) Nguyên tử A có 6p 7n 6e
Nguyên tử B có 7p 7n 7e
Nguyên tử C có 6p 6n 6e
Nguyên tử D có 6p 8n 6e
Những nguyên tử nào là nguyên tử cùng loại?
b) Viết sơ đồ cấu tạo nguyên tử của nguyên tử B.
Kết quả thu được sau khi kiểm tra :
Lớp TSHS
kiểm
tra
Giỏi % Khá % Trung
bình
% Yếu+
Kém
%
8A1 42 15 36 21 50 4 9.5 2 4.5
2. Với bài nguyên tố: Tôi sử dụng bài tập sau:
tra
Giỏi % Khá % Trung
bình
% Yếu+
Kém
%
8A1 42 18 43 20 47.6 4 9.4 0
PHẦN III. KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ
1/. Kết luận:
- Qua thời gian nghiên cứu giải pháp khoa học của đề tài, tôi nhận thấy chất
lượng học tập của học sinh ngày một tiến bộ hơn, học sinh dần dần yêu thích bộ
môn Hóa học hơn trước, học sinh yếu kém giảm dần và số lượng học sinh khá, giỏi
tăng lên rõ rệt.
- Bài tập hóa học giúp học sinh mở mang tầm hiểu biết, giáo dục tư tưởng, đạo
đức và rèn luyện phong cách làm việc của người lao động mới, làm việc có kế
hoạch, có phân tích phương hướng trước khi làm việc cụ thể. Đặc biệt là qua những
bài tập cơ bản rèn luyện cho học sinh tác phong cần cù, cẩn thận, tính chính xác,
độc lập sáng tạo trong công việc.
- Bài tập hóa học tính theo phương trình hóa học là kiến thức căn bản hết sức
quan trọng, nó làm nền tảng cho học sinh trong việc giải bài toán tính theo phương
trình hóa học ở những cấp học sau.
- Thông qua việc giải bài tập, giáo viên kiểm tra được kiến thức, kỹ năng của
học sinh làm bộc lộ những khó khăn, sai lầm của học sinh trong học tập môn Hóa
học. Đồng thời giáo viên có biện pháp giúp học sinh vượt qua khó khăn và khắc
phục sai lầm.
- Đề tài đã được áp dụng thành công tại trường THCS xxx năm học 2xxx-2xxx
và có thể triển khai áp dụng đại trà.
2. Kiến nghị
Rèn cho học sinh kỹ năng học tập môn hóa học là một yếu tố rất quan trọng
trong quá trình giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh. Qua nghiên cứu
tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được ý kiến đóng góp quý báu của hội
đồng khoa học các cấp để kinh nghiệm của bản thân được nâng cao và giải pháp
khoa học của tôi được hoàn thiện hơn.