TIỂU LUẬN TRIẾT Đề tài:SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI - Pdf 24

SVTH:Trần Thị Khánh Vân GVHD: TS Bùi Văn Mưa
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài:
SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA
TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ TRIẾT HỌC ẤN
ĐỘ CỔ ĐẠI
HVTH : TRẦN THỊ KHÁNH VÂN
STT :
NHÓM : NHÓM 8
LỚP : CAO HỌC ĐÊM 1 - K20
GV : TS. BÙI VĂN MƯA
K20-Đêm 1- Nhóm 8 Trang 1
SVTH:Trần Thị Khánh Vân GVHD: TS Bùi Văn Mưa
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
Chương 1:Tổng quan về triết học Hy Lạp cổ đại và triết học Ấn Độ cổ đại 2
1.1. Khái quát triết học Hy Lạp cổ đại 2
1.1.1 Điều kiện lịch sử ra đời 2
1.1.2 Sự phát triển của triết học Hy Lạp cổ đại 2
1.1.3 Những đặc điểm cơ bản 2
1.1.4 Các tư tưởng, trường phái triết học 3
1.1.4.1 Chủ nghĩa duy vật: 3
1.1.4.2 Chủ nghĩa duy tâm: 4
1.2. Khái quát chung về triết học Ấn Độ cổ đại 5
1.2.1. Điều kiện ra đời 4
1.2.1.1. Điều kiện kinh tế - xã hội 5
1.2.1.2. Điều kiện về khoa học và văn hóa … 5
1.2.2. Sự hình thành và phát triển của tư tưởng triết học Ấn Độ cổ đại 5
1.2.3. Đặc điểm của triết học Ấn Độ cổ đại 5
1.2.4. Các trường phái triết học Ấn Độ cổ đại 6
1.2.4.1. Tư tưởng triết học trong Upanisát 6

3. Phương pháp nghiên cứu:
Bài viết hình thành trên cơ sở phương pháp nghiên cứu lịch sử, phương pháp phân
tích tổng hợp và so sánh các nguồn tư liệu tham khảo với nhau để có được kết quả chính
xác nhất, tránh cách nhìn phiến diện.
K20-Đêm 1- Nhóm 8 Trang 3
SVTH:Trần Thị Khánh Vân GVHD: TS Bùi Văn Mưa
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ TRIẾT
HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI
1.1. Khái quát chung về triết học Hy Lạp cổ đại
1.1.1. Điều kiện lịch sử ra đời
Triết học Hy Lạp cổ đại ra đời trong bối cảnh diễn ra sự chuyển biến lâu dài và sâu
sắc các quan hệ xã hội. Đó là sự ra đời của xã hội có giai cấp đầu tiên trong lịch sử - chế
độ chiếm hữu nô lệ. Chế độ chiếm hữu nô lệ đã tạo ra cơ sở cho sự phân hóa lao động và
đề cao lao động trí óc, coi thường lao động chân tay. Điều này thúc đẩy sự hình thành
tầng lớp trí thức biết xây dựng và sử dụng hiệu quả tư duy lý luận để nghiên cứu triết học
và khoa học. Như vậy, có thể thấy rằng sự ra đời của triết học Hy Lạp cổ đại là một tất
yếu - đó là kết quả nội sinh của cả một dân tộc, một thời đại.
1.1.2. Sự phát triển của triết học Hy Lạp cổ đại
Triết học Hy Lạp cổ đại trải qua 3 giai đọan: Giai đoạn hình thành, giai đọan cực
thịnh và giai đọan suy tàn. Trong đó sự đấu tranh giữa hai khuynh hướng nhất nguyên
duy vật và nhất nguyên duy tâm của giai đọan cực thịnh đã để lại dấu ấn sâu đậm nhất
trong lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại.
1.1.3. Những đặc điểm cơ bản
- Thứ nhất: Triết học Hy Lạp thể hiện thế giới quan, ý thức hệ và phương pháp luận của
giai cấp chủ nô thống trị.
- Thứ hai: Triết học Hy Lạp có sự phân chia và sự đối lập rõ ràng giữa các trào lưu,
trường phái duy vật - duy tâm, vô thần - hữu thần và gắn liền với cuộc đấu tranh chính trị
- tư tưởng
- Thứ ba: Triết học Hy Lạp đã xây dựng nên phép biện chứng chất phác.Các nhà triết
học Hy Lạp cổ là “những nhà biện chứng bẩm sinh”. Họ nghiên cứu và sử dụng phép

ôn hoà, không hại mình, không hại người.
o Quan điểm về chính trị - xã hội:
 XH tốt nhất được cai trị bởi nhà nước dân chủ chủ nô
  Quản lý nhà nước là một nghệ thuật mang lại hạnh phúc, vinh quang, tự do &
dân chủ cho con người.
K20-Đêm 1- Nhóm 8 Trang 5
SVTH:Trần Thị Khánh Vân GVHD: TS Bùi Văn Mưa
1.1.4.2. Chủ nghĩa duy tâm:
Trường phái Pytago: Do ảnh hưởng của toán học ông cho rằng “con số” là bản
nguyên của thế giới, là bản chất của vạn vật. Chính trường phái Pytago đã đặc nền móng
ban đầu cho trào lưu duy tâm thời cổ đại của triết học Hy Lạp.
Trường phái Êle: Do Xenophan thành lập trên tinh thần duy vật, nhưng sau đó được
Pacmenit phát triển theo hướng duy lý ngả về duy tâm
Trường phái duy tâm khách quan của Xocrat – Platong: do Xocrat đặt nền móng
và Platong, học trò của ông hoàn thiện
o Xocrat: Xuất phát từ đạo đức học duy lý, ông cho rằng, hiểu biết là cơ sở của điều
thiện, ngu dốt là cội nguồn của cái ác; chỉ có cái thiện mới là cơ sở của đạo đức, tiêu
chuẩn của đức hạnh.
o Platong: xây dựng chủ nghĩa duy tâm khách quan với nội dung chính là “thuyết ý
niệm”, với giá trị bên trong là phép biện chứng của khái niệm và nhiều tư tưởng sâu sắc
khác về đạo đức, chính trị, xã hội.Quan điểm chính trị - xã hội của Platong đầy mâu
thuẫn và bảo thủ. Ông vừa đòi hỏi xóa bỏ tư hữu, lại vừa đòi bảo vệ chế độ đẳng cấp và
sự bất bình đẳng trong xã hội; vừa kêu gọi xây dựng nhà nước cộng hòa lý tưởng, lại vừa
bảo vệ địa vị và lợi ích của chủ nô quý tộc.
Triết học nhị nguyên của Arixtốt: Arixtốt là người tổng kết Triết học Hy Lạp cổ đại,
người đặt nền móng vững chắc cho chủ nghĩa duy lý, góp phần thúc đẩy lý trí Hy Lạp
nẩy nở, khoa học, văn minh phương Tây phát triển.
o Quan niệm về sinh thể, con người, linh hồn & nhận thức:
 Sinh thể (cả con người) đều có thể xác & linh hồn
 Con người là sinh thể có lý trí, luôn khát vọng nhận thức, bản chất con người

- Triết học thời kỳ cổ điển hay thời kỳ Bàlamôn – Phật giáo (khoảng thế kỷ VI TCN đến
thế kỷ VI): được hình thành và phát triển trong truyền thống Vêđa nhưng các trường phái
triết học Ấn Độ lại sung đột lẫn nhau
K20-Đêm 1- Nhóm 8 Trang 7
SVTH:Trần Thị Khánh Vân GVHD: TS Bùi Văn Mưa
1.2.3. Đặc điểm của triết học Ấn Độ cổ đại
- Thứ nhất: triết học ấn độ cổ đại phát triển rất phong phú nhưng không mang tính cách
mạng; các nhà triết học thường kế tục mà không gạt bỏ hệ thống triết học có trước, không
đặt cho mình nhiệm vụ phải sáng tạo ra một hệ thống triết học mới. Điều đó phản ánh sự
trì trệ của xã hội ấn độ cổ đại.
- Thứ hai : triết học ấn độ cổ đại gắn bó chặt chẽ với tôn giáo, trên cơ sở tín ngưỡng tôn
giáo hình thành nên các hệ thống triết học - tôn giáo.
- Thứ ba: các hệ thống triết học - tôn giáo ở ấn độ cổ đại đều quan tâm tới vấn đề nhân
sinh quan, đặc biệt là vấn đề luân hồi, nghiệp báo.
1.2.4. Các trường phái triết học Ấn Độ cổ đại
1.2.4.1. Tư tưởng triết học trong Upanisát:
- Sự xuất hiện của Upanisát đánh dấu bước chuyển tiếp từ thế giới quan thần thoại tôn
giáo sang tư duy triết học. Tư tưởng đó được thể hiện trong các vấn đề chủ yếu sau: Brát-
man (đại ngã), Átman (tiểu ngã), Giải thoát và thực trạng giải thoát.
1.2.4.2. Trường phái triết học chính thống: Trường phái Vêđanta. Samkhya,
Yoga, Mimansa, Nyaya, Vaisêsika
- Nguyên nhân dẫn đến sự luân hồi của mỗi cá nhân là vì linh hồn cá biệt nơi mỗi người
thường bị những ham muốn dục vọng che lấp, nên linh hồn rơi vào vòng ám muội của
thế giới vật chất, thường biến, hữu hình, hữu hạn, không giữ được bản lai thanh tịnh của
mình.
- Theo trường phái này, không thể giải thoát bằng cách lễ bái, tích lũy khổ hạnh hay tin
tưởng vào sự cứu rõi của đấng tối cao. Đối với họ, phương pháp đưa đến sự giải thoát là
phải chế dục theo pháp Yoga, diệt trừ nghiệp lực và phải thấu triệt sáu nguyên lý tạo
thành vũ trụ. Nếu thực hiện được như thế thì linh hồn cá biệt mới đạt đến sự giải thoát
hoàn toàn

tộc khác nhau, nhưng về chủng tộc có hai loại chính là người Đraviđa và người
Arya
oBên cạnh đó, Hy Lạp cổ đại cũng là một quốc gia có khí hậu ôn hoà và rộng lớn
gồm nhiều bán đảo ở Bancăng, miền ven biển phía Tây Tiểu Á và nhiều hòn
đảo ở biển Êgiê với nhiều dãy núi ngang dọc và những đồng bằng rộng lớn phì
nhiêu thuận lợi cho việc trồng trọt. Vùng biển phía đông của bán đảo Bancăng
khúc khuỷ tạo nên nhiều vịnh , hải cảng thuận lợi cho ngành hàng hải phát
triển. Các đảo trên biển Êgiê là nơi trung chuyển cho việc đi lại , buôn bán giữa
Hy Lạp với các nước ở Tiểu Á và Bắc Phi. Còn vùng ven biển Tiểu Á là đầu
mối thông thương giữa Hy Lạp và các nước phương Đông…
K20-Đêm 1- Nhóm 8 Trang 10
SVTH:Trần Thị Khánh Vân GVHD: TS Bùi Văn Mưa
- Về điều kiện lịch sử xã hội, cả hai nền Triết học này cùng ra đời trong bối cảnh xã
hội có sự phân chia giai cấp rất khắc nghiệt, đặc biệt là sự đàn áp đối với tầng lớp nô
lệ.
o Ở Ấn độ cổ, các công xã nông thôn sớm được khẳng định hình thành bốn đẳng
cấp với sự phân biệt giai cấp rất rõ rệt : ruộng đất thuộc quyền sở hữu nhà nước
và các đế vương; nhà nước kết hợp với tôn giáo thống trị nhân dân và bóc lột
nông nô công xã ; tôn giáo bao trùm mọi mặt đời sống xã hội; con người sống
nặng nề về tâm linh tinh thần và khao khát được giải thoát
o Trong khi đó ở Hy Lạp, chế độ chiếm hữu nô lệ kéo dài đến thế kỷ thứ IV ,
đúng như Ph.Ăngghen nhận xét: “Không có chế độ nô lệ thì không có quốc
gia Hy Lạp, không có nghệ thuật và khoa học Hy Lạp, không có chế độ nô lệ
thì không có đế quốc La Mã mà không có cái cơ sở là nền văn minh Hy Lạp
và đế quốc La Mã thì không có Châu Âu hiện đại được”.
Tuy nhiên trong bối cảnh này cả hai nền triết học Ấ Độ và Hy Lạp đều đạt được
những thành tựu đáng kể:
o Ở Ấn Độ: Chữ viết đã xuất hiện từ thời văn hoá Harapap, các bộ kinh Vêđa và
sử thi sớm xuất hiện, nghệ thuật tạo và nhiều thành tựu trong khoa hoc tự
nhiên , sản sinh ra nhiều tôn giáo lớn như đạo Bàlamôn – Hindu, đạo Phật …

O Ấn Độ:
K20-Đêm 1- Nhóm 8 Trang 12
SVTH:Trần Thị Khánh Vân GVHD: TS Bùi Văn Mưa
 Phái Nyaga về mặt nhận thức luận thừa nhận đối tượng nhận thức tồn tại
khách quan cần phải tìm tòi thông qua bốn phương thức là cảm giác, kết
luận, tương tự và bằng chứng.
 Phái Nyaga và Vaisêsika đều xây dựng những phương thức logich hoc.
O Hy Lạp:
 Đêmôcrit đề cao nhận thức lý tính, muốn khám phá bản chất của sự vật cần
tiến hành nhận thức lý tỉnh, đó là một quá trình khó khăn và phức tạp và đòi
hỏi phải có một năng lực tư duy tìm tòi khám phá của con người.
 Đêmôcrit cũng tiến hành xây dựng những phương pháp nhận thức logich
học như quy nạp, so sánh, giả thuyết, định nghĩa
2.1.4. Ấn độ và Hy Lạp cổ đại có cả hai trường phái duy vật và duy tâm :
o Ấn Độ:
 Duy vật : Gaimini,Gotama,Kanada,
 Duy tâm : Upanisad(bratman,atman)
o Hy Lạp:
 Duy vật : Talet,Anaximen,Hecraclit,Democrit,…
 Duy tâm : Pitago,Pacmenic,Xocrat ,Platong,…
2. 1.5. Tương đồng trong mối quan tâm về con người và đều tìm cách đem lại cho
con người cuộc sống hạnh phúc:
- Trải qua nhiều thời kỳ phát triển, tất cả đều nghiên cứu về vai trò của con người và tự
nhiên, mỗi thời kỳ có một sự quan tâm khác biệt nhưng cùng tô màu vẽ sắc cho các
nền triết ấy, cả hai nền triết học đề khẳng định con người là tinh hoa cao quý nhất của
K20-Đêm 1- Nhóm 8 Trang 13
SVTH:Trần Thị Khánh Vân GVHD: TS Bùi Văn Mưa
tạo hoá . Vì vậy, đây chính là nền tảng, tiền đề cho sự phát triển của 2 nền Triết học
này trong các giai đoạn sau.
oẤn Độ: giải quyết các vấn đề thuộc lĩnh vực nhân sinh (bản chất, ý nghĩa cuộc

luận còn thấp, nên khoa học tự nhiên chưa đạt tới trình độ mổ xẻ, phân tích tự nhiên để
đi sâu vào bản chất sự vật, mà nó nghiên cứu tự nhiên trong tổng thể để dựng nên bức
tranh tổng quát về thế giới.
Hy Lạp cho rằng: “triết học là khoa học của mọi khoa học”, triết học được coi
như “người mẹ” của các ngành khoa học,. Triết học mang lại cho chúng ta năng lực
hiểu biết, “người mẹ” đó nuôi “con” bằng tư duy lý luận, vì nếu không có tư duy lý
luận nhà khoa học không thể trở thành nhà khoa học đúng nghĩa
o Bên cạnh đó nét nổi bật của văn hóa Ấn Độ cổ đại là mang dấu ấn sâu đậm về tín
ngưỡng tôn giáo. Do đó, triết học Ấn Độ cổ đại là một nền triết học chịu ảnh hưởng
lớn của những tư tưởng tôn giáo. Giữa triết học và tôn giáo rất khó phân biệt. Tư
tưởng triết học ẩn giấu sau các lễ nghi huyền bí, chân lý thể hiện qua các bộ kinh
Vêđa, Upanisát.
Người Ấn Độ cổ tin và giải thích rằng trong vũ trụ tồn tại đồng thời 3 thế lực liên
quan nhau là thần linh, con người và quỹ ác ứng với 3 cõi vũ trụ bao la là thiên giới,
trần thế và địa ngục. Họ đã phân tích các hiện tượng tự nhiên và lý giải chúng qua biểu
tượng của thế giới thần linh phong phú, chia nhau chi phối sự biến hóa của vũ trụ vạn
vật theo sự điều khiển của nguyên lý rita ( chân xác, thích hợp, trật tự vận hành vũ
trụ), “Toàn thể vũ trụ được thành lập trên nguyên lý rita và vận hành trong nó”(Kinh
Rig – Vêđa, I, 156). Do đó, người Ấn Độ cổ đại rất sùng bái, tín ngưỡng, cầu nguyện
và hiến tế.
Tôn giáo Ấn Độ cổ đại có xu hướng “hướng nội”, đi sâu tìm hiểu đời sống tâm linh,
tinh thần để phát hiện ra sức mạnh của linh hồn cá nhân con người. Triết học Ấn Độ
cổ đại coi linh hồn vũ trụ là thực tại tinh thần tối cao, là bản chất, là nguồn sống vĩnh
K20-Đêm 1- Nhóm 8 Trang 15
SVTH:Trần Thị Khánh Vân GVHD: TS Bùi Văn Mưa
hằng, là cội nguồn chi phối mọi sự sinh thành và hủy diệt của mọi cái trong thế giới,
còn linh hồn cá nhân bị vây hãm, rang buộc bởi những ham muốn nhục dục của thể
xác. Con người phải dốc lòng tu luyện , chiêm nghiệm tâm linh để nhận ra bản tính
thần thánh của mình mà quay về với linh hồn vũ trụ. Vì vậy, triết học Ấn Độ cổ đại
mang nặng tính chất duy tâm, chủ quan, thần bí.

học duy vật của Đêmôcrit và trào lưu triết học duy tâm của Platông. Hai học thuyết đó
ảnh hưởng sâu đậm đến đời sống phương Tây. Học thuyết Đêmôcrit ảnh hưởng sâu đậm
đến đời sống tinh thần, còn học thuyết Platông để lại dấu ấn sâu đậm đến đời sống tinh
thần
Platông đã xây dựng học thuyết ý niệm để đối lập lại học thuyết nguyên tử của
Đêmôcrit. Platông chia thế giới thành hai: thế giới ý niệm và thế giới lý tính tồn tại trên
trời mang tính phổ biến, bất biến, vĩnh hằng duy nhất, còn thế giới sự vật là thế giới
cảm tính dưới trần gian. Sau khi chia thế giới thành hai, ông ta mới bắt đầu xác định các
mối quan hệ giữa chúng và xác định theo tinh thần duy tâm khách quan, cho rằng ý
niệm là cái có trước, cái sản sinh, nguyên nhân, bản chất của mọi sự vật, còn sự vật là
cái có sau, mô phỏng, sao chép lại từ ý niệm, có quan hệ ràng buộc với ý niệm.
Còn Đêmôcrit dựa vào thuyết nguyên tử thừa nhận sự ràng buộc lẫn nhau theo quy
luật nhân quả tính khách quan trong tính tất yếu của sự vật, hiện tượng tự nhiên. Song
ông lại phủ nhận tính ngẫu nhiên, ông coi ngẫu nhiên là một hiện tượng không có
nguyên nhân.Đêmôcrit bác bỏ quan nhiệm về sự sản sinh ra sự sống và con người của
thần thánh. Theo ông sự sống là kết quả của quá trình biến đổi dần dần từ thấp đến cao
của tự nhiên. Sinh vật đầu tiên sống ở dưới nước, sau đó chuyển lên cạn, cuối cùng con
người được ra đời. Ông coi cái chết là sự phân tích của các nguyên tử tạo nên xác và
của những nguyên tử cấu tạo lên linh hồn chứ không phải linh hồn rời khởi thể xác.
Ông cho rằng đối tượng của nhận thức là vật chất, là thế giới xung quanh con người và
nhờ sự tác động của đối tượng nhận thức vào con người nên con người mới nhận thức
K20-Đêm 1- Nhóm 8 Trang 17
SVTH:Trần Thị Khánh Vân GVHD: TS Bùi Văn Mưa
được. Đêmôcrit phân chia nhận thức thành nhận thức mờ tối và nhận thức chân lý. Nhận
thức mờ tối do các giác quan đem lại còn nhận thức chân lý là do sự phân tích sâu sắc
về sự vật để nắm bắt bản chất bên trong của nó. Triết học duy vật của Đêmôcrit đã đóng
vai trò quan trọng trong chủ nghĩa vô thần. Ông cho rằng sự tồn tại của thần chẳng qua
là sự nhân cách hoá những hiện tượng của tự nhiên hay những thuộc tính của con người.
O Do chịu ảnh hưởng bởi tinh thần Vêđa mà triết học Ấn Độ cổ đại được chia
thành hệ thống chính thống và hệ thống không chính thống. Trong các trường phái triết

Qua đó có thể thấy, trong triết học Ấn Độ cổ đại sự phân chia các trường phái triết
học chỉ có tính đại thể, còn khi đi sâu vào những nội dung cụ thể thì có mặt duy vật, có
mặt duy tâm, sơ kỳ là duy vật thì hậu kỳ là nhị nguyên hay duy tâm. Điều đó thể hiện rõ
sự thiếu nhất quán trong thế giới quan, sự thiếu triệt để của triết học vì phân kỳ lịch sử
trong các xã hội Ấn Độ không mạch lạc như phương Tây.
2.2.3. Triết học Hy Lạp cổ đại đi từ gốc lên ngọn là từ thế giới quan, vũ trụ quan,
bản thể luận…từ đó xây dựng nhân sinh quan con người, ngược lại triết học Ấn Độ
đi từ ngọn xuống gốc là nhân sinh quan làm gốc, đặc biệt là vấn đề luân hồi, nghiệp
báo, vấn đề cách sống , lối sống sau đó mới là vũ trụ quan và bản thể luận
Các nhà triết học Hy Lạp đầu tiên có khuynh hướng chung là suy tư về bản chất và
khởi thuỷ của thế giới. Họ lấy một thực thể bản nguyên tượng trưng làm nguồn gốc của
tất cả mọi vật. Chẳng hạn đối với Talet đó là nước, đối với Anaximăngđrơ đó là cái vô
hạn bất định, đối với Anaxago đó là tinh thần. Pytago tìm cái chìa khoá phổ quát của
hiện thực trong các con số, Pacmênic cho rằng bản chất của thực thể nằm trong tồn tại;
Lơxip và Đêmôcrit phỏng đoán mọi sự vật đều được tạo thành từ những nguyên tử, là
những phần tử nhỏ nhất, không thể phân chia được nữa và số lượng của chúng là vô
hạn. Hêraclit đưa ra quan niệm mọi sự vật của thế giới luôn thay đổi, sự kết hợp của các
yếu tố vật chất là vô hạn, vì vậy cái bất biến trong thế giới chỉ có thể được thừa nhận
chính là sự biến đổi, chuyển hoá vĩnh hằng đó.
K20-Đêm 1- Nhóm 8 Trang 19
SVTH:Trần Thị Khánh Vân GVHD: TS Bùi Văn Mưa
Từ thế giới quan, các nhà triết học Hy Lạp cổ đại mới đi đến vấn đề nhân sinh quan,
đạo đức, xã hội. Mỗi con người là thước đo sự vật cho mình, không phải chỉ sự vật được
nhận thức, mà cả sự vật thuộc thiện, ác trong xã hội. Platông và Xôcrat chống lại "chủ
nghĩa cá nhân" và "chủ nghĩa tương đối" cực đoan này của các nhà ngụy biện. Cấu trúc
xã hội và cấu trúc linh hồn (hay tự ngã) của con người phản ảnh lẫn nhau và phụ thuộc
lẫn nhau. Bản chất của con người là lý trí và được tìm thấy trong một xã hội được xếp
đặt theo trật tự duy lý. Cái tư tưởng hiện đại cho rằng cá nhân không thể tách khỏi xã
hội và "nhân tính" là hình thành do xã hội và phát triển trong xã hội, tư tưởng đó không
lớn mạnh trong tư tưởng Hy Lạp Xôcrat và Platông thì chỉ rõ xã hội là sự phóng rọi

sinh quan của Phật
Từ đó cho thấy xu hướng cơ bản trong triết học Ấn Độ cổ đại là quan tâm giải quyết
các vấn đề nhân sinh dưới gốc độ tâm linh tôn giáo với xu hướng “hướng nội”. Có thể
nói sự phản tỉnh nhân sinh là một nét trội và là ưu thế của nhiều học thuyết triết học Ấn
Độ cổ đại.
2.2.4. Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại tách chủ thể với khách thể để nhận xét
khách quan còn triết học Ấn Độ nhấn mạnh sự thống nhất trong mối quan hệ giữa
con người và vũ trụ.
O Các nhà triết học Hy Lạp đã nhấn mạnh tách con người ra khỏi vũ trụ, coi con
người là chủ thể để nghiên cứu, chinh phục vũ trụ - thế giới khách quan. Và cũng chính
từ thế giới khách quan khác nhau nên dẫn đến hướng nghiên cứu tiếp cận cũng khác
nhau. Đặt trọng tâm nghiên cứu vào thế giới – tính chất hướng ngoại; còn vấn đề con
người chỉ được nghiên cứu để giải thích thế giới mà thôi. Cho nên triết học Hy Lạp cổ
đại thể hiện đậm nét về bản thể luận của vũ trụ.
Triết học Hy Lạp có hai hình thức chủ đạo. Hình thức thứ nhất là triết học đồng
nhất với đạo đức học. Nghĩa là triết gia là người tìm hiểu căn nguyên sự vật không phải
để biết mà còn để sống, để hành động cho phù hợp với đạo trời. Do đó, bầu khí của thời
đại này mang đầy tính cách thánh thiêng và thuần thần. Hình thức thứ hai : triết học
K20-Đêm 1- Nhóm 8 Trang 21
SVTH:Trần Thị Khánh Vân GVHD: TS Bùi Văn Mưa
chính là tri thức. Hình thái này chủ chương muốn thực hành đạo đức, nhất thiết phải biết
tri thức là gì, căn nguyên của tri thức từ đâu mà có và tại sao con người phải thi hành
những bổn phận đó? Nhờ vậy, con người có thể tự mình suy tư và tự mình giải thích vũ
trụ bằng lý trí của mình.
Bước tiến vĩ đại đó được thể hiện một cách cụ thể nơi Protagoras khi ông khẳng
định rằng : “Con người là thước đo của vạn vật”. Với chủ trương người ta không thể
suy tư về những điều gì không hiện hữu, ông đã dùng giác quan của mình để tri thức
vạn vật. Bất kỳ sự vật nào đâp vào mắt tôi thì chủ thể tôi đánh giá và xác định theo lăng
kính của tôi, chứ không phải theo một qui tắc chung ngoại tại nào. Từ trong tôi, tôi có
quyền quyết định giá trị, sự hiện hữu của sự vật. Do đó ông muốn chứng minh cho cái

tâm giải quyết các vấn đề thuộc về lĩnh vực nhân sinh quan (bản chất, ý nghĩa, đời sống,
nguồn gốc, nổi khổ của con người” gắn liền với quan điểm tôn giáo nhằm tìm kiếm con
đường, phương tiện, cách thức giải thoát con người, mà không thấy mối quan hệ giữa
con người trong lao động sản xuất.
2.2.5. Triết học Hy Lạp ngã về tư duy duy lý, phân tích mổ xẻ trong khi đó triết
học Ấn Độ cổ ngã về dùng trực giác
o Thế mạnh của Hy Lạp là khoa học, kỹ thuật và nhận thức luôn hướng đến nhận
thức cái chân lý vô hạn cùng. Triết học Hy Lạp đi gần mãi đến chân lý qua hàng loạt
những trừu tượng, khái niệm, quy luật của toàn thể vũ trụ, liên tiếp đi từ cấp độ bản
chất thấp đến mức độ bản chất cao hơn cũng do vậy họ có xu hướng cô lập hoá, cách
ly hoá, làm mất đi tính tổng thể. Phương tiện nhận thức của triết học Hy Lạp là khái
niệm, mệnh đề, biểu thức lôgíc để đối tượng mô tả rõ ràng, thống nhất hơn.
Triết học Hy Lạp nghiêng về sự đấu tranh và vận động, phát triển theo hướng đi lên.
Một nét nữa của triết học Hy Lạp thiên về hướng ngoại, chủ động, tư duy lý luận, đấu
tranh sống còn, hiếu chiến, cạnh tranh, bành trướng, cá thể, phân tích, tri thức suy luận,
khoa học, tư duy cơ giới, chú ý nhiều đến thực thể
K20-Đêm 1- Nhóm 8 Trang 23
SVTH:Trần Thị Khánh Vân GVHD: TS Bùi Văn Mưa
o Triết học Ấn Độ dùng trực giác tức là đi thẳng đến sự hiểu biết, vào cái sâu thẳm
bản chất của cái tổng thể mà tư duy, phân tích Trường phái Mimansa coi cảm giác là
nguồn gốc duy nhất của nhận thức.Nhận thức trong triết học Ấn Độ bắt đầu từ luân lý
đạo đức, nhận thức gắn liền với đạo đức. Trong nhận thức, triết học Ấn Độ đề cao việc
tự nhận thức, tự hiểu. Điều này quy định tính chất trực nhận, trực giác trong triết học
Ấn Độ. Từ đó một logic kéo theo là công cụ, phương tiện nhận thức lại nghiêng về ẩn
dụ, hình ảnh. Tuy nhiên triết học cổ Ấn Dộ có tiềm tang nhược điểm là không phổ biến
rộng được và không phải lúc nào trực giác cũng đúng
2.2.6. Trong triết học Hy Lạp cổ đại có sự đấu tranh giữa các trường phái mang
tính chất quyết liệt, triệt để, có sự phát triển về chất khá rõ rệt còn trong triết học
Ấn Độ cổ đại thường tôn trọng và có khuynh hướng phục cổ, không có những bước
nhảy vọt về chất

chủ nghĩa duy tâm khách quan của Platôn. Ông là đại biểu lớn nhất của chủ nghĩa duy
tâm thời cổ đại Hy Lạp. Ông đã xây dựng học thuyết về ý niệm để chống lại chủ nghĩa
duy vật. Theo ông, giới tự nhiên bắt nguồn từ ý niệm.
Dao động giữa đường lối duy vật của Đêmôcrít và đường lối duy tâm của Platôn là
Arixtốt. Ông là một nhà triết học lớn, bộ óc bách khoa thời cổ đại Hy Lạp - La Mã,
nhưng là một nhà triết học không triệt để. Một mặt, ông bác bỏ thuyết ý niệm của
Platôn; mặt khác ông lại chủ trương hình thức là bản chất của mọi sự vật, mà hình thức
của mọi hình thức là tư duy (hình thức thuần tuý).
 Thời kỳ thứ ba (từ thế kỷ thứ III TCN): Đây là thời kỳ khủng hoảng và suy
vong của chế độ chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp - La Mã. Cùng với sự suy tàn đó, nền văn
hoá mà nó sản sinh ra cũng suy tàn theo. Vào cuối thế kỷ này, chỉ còn Êpiquya và học
trò của ông là Lucơrexơ là tiếp tục đường lối duy vật của Đê-mô-crít.
Triết học Hy Lạp - La Mã cổ đại đã đặt ra hầu hết các vấn đề triết học mà người ta
thường thấy mối quan hệ của nó với các khuynh hướng, các trào lưu triết học sau này.
K20-Đêm 1- Nhóm 8 Trang 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status