1 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN THỊ YÊN SỬ DỤNG HỢP LÝ TIỀN ĐỀN BÙ GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG CỦA
NGƢỜI NÔNG DÂN TẠI THỊ XÃ TỪ SƠN,
TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
(QUẢN LÝ KINH TẾ)
nghiệp. Số nông hộ bị thu hồi đất của thị xã Từ Sơn chiếm tỷ lệ cao, người dân bị
thu hồi đất đang gặp nhiều khó khăn trong việc bắt đầu cuộc sống mới, xuất hiện
nhiều vấn đề nan giải, bất cập. Xuất phát từ nhu cầu cấp bách về việc làm, chuyển
đổi nghề nghiệp, ổn định cuộc sống sau mất đất của những hộ nông dân trên địa bàn
bị ảnh hưởng trực tiếp từ khu công nghiệp, việc nghiên cứu, đề xuất “Sử dụng hợp
lý tiền đền bù giải phóng mặt bằng của người nông dân tại thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc
Ninh” có ý nghĩa lý luận và thực tiễn.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
3 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn Đề tài nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nhằm giúp các hộ nông dân sử dụng
hợp lý tiền đền bù khi chuyển đổi nghề nghiệp, ổn định cuộc sống của nông hộ sau
khi bị thu hồi đất, đảm bảo tạo công ăn việc làm ổn định cho lao động nông thôn
trong tỉnh nói chung và cho lao động nông thôn vùng thu hồi đất của thị xã nói
riêng. Từ đó, góp phần ổn định xã hội nông thôn, thực hiện có hiệu quả kế hoạch
phát triển kinh tế-xã hội của thị xã giai đoạn 2011-2015 và những năm tiếp theo có
cơ sở khoa học.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống lý luận và thực tiễn về đền bù, sử dụng tiền đền bù, khung pháp lý
của việc đền bù đất, thu hồi đất nông nghiệp.
- Nghiên cứu tình hình sử dụng tiền đền bù của nông hộ tại Từ Sơn.
- Phân tích những yếu tố ảnh hưởng tới việc tiêu dùng tiền đền bù của hộ
nông dân.
- Đề xuất giải pháp mới phù hợp với địa phương nhằm trợ giúp các hộ nông
dân sử dụng hợp lý tiền đền bù khi chuyển đổi nghề nghiệp, ổn định cuộc sống của
bằng và việc sử dụng tiền đền bù của nông hộ tại Từ Sơn, đề tài đưa ra một số giải
pháp nhằm sử dụng hợp lý tiền đền bù của nông hộ.
Đề tài là công trình nghiên cứu khoa học có ý nghĩa thực tiễn thiết thực, là tài
liệu tham khảo giúp Ủy ban nhân dân thị xã Từ Sơn xây dựng quy hoạch mở rộng,
phát triển khu công nghiệp - đô thị gắn với công tác giải quyết việc làm cho lao
động vùng thu hồi đất, đồng thời xây dựng kế hoạch phát triển nguồn nhân lực là
lao động nông thôn.
Đề tài cũng là một tài liệu tham khảo hữu ích cho những người có cùng lĩnh
vực nghiên cứu.
5. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được
kết cấu thành 4 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác đền bù và sử dụng tiền đền bù của
nông hộ
Chương 2. Phương pháp nghiên cứu
Chương 3. Thực trạng sử dụng tiền đền bù của nông hộ tại thị xã Từ Sơn, tỉnh
Bắc Ninh
Chương 4. Một số giải pháp nhằm sử dụng hợp lý tiền đền bù giải phóng mặt bằng
của người nông dân tại thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh
5 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 6 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
7 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn chuyển đổi nghề nghiệp và ổn định sản xuất cho nông hộ, vì các khoản hỗ trợ này
không nhiều và chỉ mang tính chất hỗ trợ.
1.1.2. Mục đích của tiền đền bù đất nông nghiệp
* Mục đích của tiền đền bù đất nông nghiệp
Đất nông nghiệp vừa là tư liệu sản xuất đặc biệt của nông hộ, vì vậy khi thu
hồi đất nông nghiệp của nông hộ thì Nhà nước trả khoản tiền đền bù nhằm giúp
nông hộ tìm kiếm tư liệu sản xuất mới, chuyển đổi nghề nghiệp, ổn định cuộc sống
và ổn định sản xuất.
Khoản tiền đền bù giúp giải quyết những khó khăn của nông hộ do mất đất
nông nghiệp, khoản tiền đền bù chính là tiền vốn giúp nông hộ tạo ra thu nhập mới,
giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho nông hộ.
* Hoạt động sử dụng tiền đền bù của nông hộ: là hành vi chi tiêu, phân bổ
khoản tiền đền bù của nông hộ vào các mục đích khác nhau. Trong đó các khoản sử
dụng đúng mục đích và các khoản sử dụng không đúng mục đích.
- Sử dụng tiền đền bù đúng mục đích: Là số tiền đền bù được nông hộ sử
dụng để tạo ra thu nhập mới, giải quyết công ăn việc làm như: đầu tư vào phát triển
ngành nghề dịch vụ, học nghề, mua sắm phương tiện và tài sản phục vụ cho sản
xuất kinh doanh, mua tư liệu sản xuất,…
- Sử dụng tiền đền bù không đúng mục đích: Là các khoản chi tiêu trong quỹ
tiền đền bù của hộ mà không nhằm mục đích tạo thu nhập và giải quyết việc làm cho
nông hộ, như: xây dựng nhà cửa, mua đồ dùng sinh hoạt, trả nợ, chia cho con cháu,…
1.1.3. Các yếu tố ảnh hướng tới việc sử dụng tiền đền bù của hộ
Các yếu tố ảnh hưởng tới việc sử dụng tiền đền bù của hộ có thể được chia
thành nhóm yếu tố bên trong hộ và nhóm yếu tố bên ngoài hộ:
và nông nghiệp. Trong đó có sẵn các khu nhà máy cũng như các dịch vụ và tiện
nghi cho những người sinh sống.
Mục tiêu của nước sở tại khi xây dựng các KCNTT là:
+ Thu hút đầu tư trên quy mô lớn và phát triển kinh tế.
+ Thúc đẩy hoạt động xuất khẩu.
+ Tạo việc làm cho lao động.
+ Phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật.
+ Chuyển giao công nghệ mới.
+ Phát triển hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ đảm bảo sự phát triển kinh tế
xã hội trong vùng.
+ Kiểm soát được vấn đề ô nhiễm môi trường
* Đặc điểm của khu công nghiệp tập trung
+ Về mặt pháp lý:
KCNTT là phần lãnh thổ của nước sở tại nên các doanh nghiệp hoạt động
trong đó phải tuân thủ sự điều chỉnh của pháp luật nước sở tại. Ví dụ: các doanh
nghiệp (trong nước và vốn đầu tư nước ngoài) hoạt động sản xuất kinh doanh
trong các KCNTT của Việt Nam như:
- Quy chế về KCN.
10 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn - Luật đầu tư trong nước.
- Luật đầu tư nước ngoài.
- Luật Doanh nghiệp.
- Luật lao động.
- Luật thuế,
+ Về mặt kinh tế:
hậu và gây ô nhiễm môi trường.
- Giảm số lượng doanh nghiệp của vùng và địa phương.
1.3. Các quy định về bồi thƣờng hỗ trợ hộ nông dân có đất bị thu hồi để giải
phóng mặt bằng
Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành như: Nghị định số
197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ quy định việc bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; Nghị định số 84/2007/NĐ-
CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại đất đai; Nghị
định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 quy định bổ sung về quy hoạch
sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư chi tiết trong
khung chính sách về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất.
1.3.1. Bồi thường về đất
* Điều kiện để được bồi thường đất: Người bị Nhà nước thu hồi đất được bồi
thường đất nếu có một trong các điều kiện sau đây:
- Đất có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
- Đất có quyết định giao đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy
định của pháp luật về đất đai.
- Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định, được UBND cấp xã xác
nhận không có tranh chấp mà có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 và
khoản 5 điều 50 Luật Đất đai.
- Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy
định tại khoản 1 và khoản 5 điều 50 Luật Đất đai mà trên giấy tờ lại ghi tên người
khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất có chữ ký của các
bên có liên quan, nhưng đến thời điểm có quyết định thu hồi đất chưa thực hiện thủ
12
13 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn - Chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất mà đất đó
thuộc đối tượng không được bồi thường thì tuỳ từng trường hợp cụ thể được bồi
thường hoặc hỗ trợ tài sản.
- Nhà, công trình khác gắn liền với đất được xây dựng sau khi quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất công bố mà không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
cho phép xây dựng thì không được bồi thường.
- Nhà, công trình khác gắn liền với đất được xây dựng sau ngày 07 tháng 7
năm 2004 mà tại thời điểm xây dựng đã trái với mục đích sử dụng đất đã được xác
định trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã xét duyệt thì không được bồi thường.
- Tài sản gắn liền với đất được tạo lập sau khi có quyết định thu hồi đất được
công bố thì không được bồi thường.
- Hệ thống máy móc, dây chuyền sản xuất có thể tháo dời và di chuyển được
thì chỉ được bồi thường các chi phí tháo dỡ, vận chuyển, lắp đặt và thiệt hại khi
tháo dỡ, vận chuyển, lắp đặt; mức bồi thường do UBND cấp tỉnh quy định phù hợp
với pháp luật hiện hành và thực tế ở địa phương.
Trong phạm vi điều chỉnh của khung chính sách về bồi thường, hỗ trợ và tái
định cư khi nhà nước thu hồi đất của Chính phủ áp dụng từ thời điểm 08/2011 quy
định rõ:
* Điều kiện để được bồi thường và các quy định cụ thể về bồi thường nhà,
công trình khác xây dựng trên đất
* Điều kiện bồi thường, hỗ trợ nhà, công trình đối với người đang sử dụng
nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước và những người đang thuê nhà không thuộc sở hữu
nhà nước
* Bồi thường về di chuyển mồ mả: mức tiền bồi thường được tính cho chi
hỗ trợ kinh phí để tháo dỡ, di chuyển và lắp đặt.
- Người bị thu hồi đất ở mà không còn chỗ ở khác thì trong thời gian chờ tạo
lập chỗ ở mới (bố trí vào khu tái định cư) được bố trí vào nhà ở tạm hoặc hỗ trợ tiền
thuê nhà ở.
Mức hỗ trợ di chuyển:
Mức hỗ trợ di chuyển cụ thể đối với từng trường hợp do UBND cấp tỉnh căn
cứ tình hình cụ thể tại địa phương quy định cho phù hợp.
1.3.3.2. Hỗ trợ tái định cư
15 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn Nhà ở, đất ở tại nơi tái định cư được thực hiện theo nhiều cấp nhà, nhiều mức
diện tích khác nhau phù hợp với mức bồi thường và khả năng chi trả của người
được tái định cư.
Đối với hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất ở mà không có chỗ ở
nào khác thì được giao đất ở hoặc nhà ở tái định cư. Trường hợp hộ gia đình, cá
nhân nhận đất ở, nhà ở tái định cư mà số tiền được bồi thường, hỗ trợ nhỏ hơn giá
trị một suất tái định cư tối thiểu do UBND cấp tỉnh căn cứ vào điều kiện cụ thể tại
địa phương quy định thì được hỗ trợ khoản chênh lệch đó; trường hợp không nhận
đất ở, nhà ở tại khu tái định cư thì được nhận tiền tương đương với khoản chênh
lệch đó.
Hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất ở phải di chuyển chỗ ở mà tự
lo chỗ ở thì được hỗ trợ một khoản tiền bằng suất đầu tư hạ tầng tính cho một hộ gia
đình tại khu tái định cư tập trung trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân đã được nhận
khoản tiền hỗ trợ tái định cư quy định tại khoản 1 điều 19 Nghị định số
69/2009/NĐ-CP.
1.3.3.3. Hỗ trợ ổn định đời sống và ổn định sản xuất
đ) Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất sử dụng
vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản (không bao gồm đất
rừng đặc dụng, rừng phòng hộ) của các nông, lâm trường quốc doanh khi Nhà nước
thu hồi mà thuộc đối tượng là cán bộ, công nhân viên của nông, lâm trường quốc
doanh đang làm việc hoặc đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc được
hưởng trợ cấp đang trực tiếp sản xuất nông, lâm nghiệp; hộ gia đình, cá nhân nhận
khoán đang trực tiếp sản xuất nông, lâm nghiệp; hộ gia đình, cá nhân nhận khoán
đang trực tiếp sản xuất nông nghiệp và có nguồn sống chủ yếu từ sản xuất nông thì
được hỗ trợ bằng tiền.
* Mức hỗ trợ ổn định đời sống và ổn định sản xuất:
- Mức hỗ trợ ổn định đời sống và ổn định sản xuất đối với hộ gia đình, cá
nhân đang sử dụng đất nông nghiệp được giao theo Nghị định số 64/NĐ-CP, Nghị
định số 02/NĐ-CP, Nghị định số 85/1999/NĐ-CP, Nghị định số 163/1999/NĐ-CP
và Nghị định số 181/2004/NĐ-CP được tính bằng tiền tương đương 30 kg gạo trong
01 tháng cho mỗi nhân khẩu theo thời giá trung bình tại thời điểm hỗ trợ của địa
phương cụ thể như sau:
a) Thu hồi từ 30% đến 70% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng thì được
hỗ trợ ổn định đời sống trong thời gian 6 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và
17 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn trong thời gian 12 tháng nếu phải di chuyển chỗ ở; trường hợp phải di chuyển đến
các địa bàn có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn hoặc có điều kiện kinh tế - xã hội
đặc biệt khó khăn thì thời gian hỗ trợ tối đa là 24 tháng;
b) Thu hồi trên 70% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng thì được hỗ trợ
ổn định đời sống trong thời gian 12 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và trong
thời gian 24 tháng nếu phải di chuyển chỗ ở; trường hợp phải di chuyển đến các địa
nông nghiệp mà không có đất để bồi thường và không thuộc các trường hợp liệt kê
dưới đây thì thuộc đối tượng được hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm:
- Đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở trong khu dân cư nhưng không
được công nhận là đất ở;
- Đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở riêng lẻ;
+ Đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở dọc kênh mương và dọc tuyến
đường giao thông;
+ Đất nông nghiệp trong địa giới hành chính phường, trong khu dân cư thuộc
thị trấn, khu dân cư nông thôn;
+ Thửa đất nông nghiệp tiếp giáp với ranh giới phường, ranh giới khu dân cư;
* Hình thức, mức hỗ trợ và thẩm quyền quyết định hình thức, mức hỗ trợ:
- Hình thức hỗ trợ: bằng tiền hoặc bằng đất ở hoặc nhà ở hoặc đất sản xuất,
kinh doanh phi nông nghiệp.
- Mức hỗ trợ cụ thể như sau:
a) Hỗ trợ bằng tiền từ 1,5 đến 5 lần giá đất nông nghiệp đối với toàn bộ diện
tích đất nông nghiệp bị thu hồi; diện tích được hỗ trợ không vượt quá hạn mức giao
đất nông nghiệp tại địa phương;
b) Hỗ trợ một lần bằng một suất đất ở hoặc một căn hộ chung cư hoặc một
suất đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp. Việc áp dụng theo hình thức này
được thực hiện đối với các địa phương có điều kiện về quỹ đất ở, quỹ nhà ở và
người được hỗ trợ có nhu cầu về đất ở hoặc căn hộ chung cư hoặc đất sản xuất, kinh
doanh phi nông nghiệp mà giá trị được hỗ trợ theo quy định tại điểm a khoản này
lớn hơn hoặc bằng giá trị đất ở hoặc căn hộ chung cư hoặc đất sản xuất, kinh doanh
phi nông nghiệp; phần giá trị chênh lệch được hỗ trợ bằng tiền.
- Thẩm quyền quyết định hình thức, mức hỗ trợ: UBND cấp tỉnh quyết định
cụ thể hình thức hỗ trợ và mức hỗ trợ cho phù hợp với thực tế của địa phương.
- Trường hợp người được hỗ trợ bằng tiền hoặc bằng một suất đất ở hoặc một
căn hộ chung cư hoặc một suất đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp nếu họ có
19
công trình công cộng có hành lang bảo vệ an toàn phải di chuyển chỗ ở mà không
có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi.
20 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn - Trường hợp trong hộ gia đình có nhiều thế hệ (nhiều cặp vợ chồng) cùng
chung sống đủ điều kiện tách hộ hoặc có nhiều hộ gia đình có chung quyền sử dụng
một (01) thửa đất ở bị thu hồi thì UBND cấp tỉnh căn cứ vào điều kiện thực tế tại
địa phương để quy định diện tích đất, diện tích nhà ở để bố trí tái định cư.
* Giá đất ở tại nơi tái định cư
Giá đất tính thu tiền sử dụng đất tại nơi tái định cư do UBND cấp tỉnh quyết
định theo quy định của Chính phủ về phương pháp xác định giá đất và khung giá
các loại đất.
Giá bán nhà tái định cư do UBND cấp tỉnh quyết định trên cơ sở suất đầu tư
nhà ở và thực tế tại địa phương.
Giá cho thuê nhà do UBND cấp tỉnh quyết định cho phù hợp với thực tế tại
địa phương.
Hộ gia đình, cá nhân được giao đất, mua nhà, thuê nhà tại nơi tái định cư
phải nộp tiền sử dụng đất, tiền mua nhà, tiền thuê nhà theo quy định của pháp luật
và được trừ vào tiền bồi thường, hỗ trợ; nếu có chênh lệch thì thực hiện thanh toán
bằng tiền phần chênh lệch đó theo quy định, trừ trường hợp hỗ trợ tái định cư quy
định tại khoản 1 Điều 19 của Nghị định số 69/2009/NĐ-CP.
1.4. Chủ trƣơng, biện pháp giải quyết việc làm cho hộ nông dân sau khi chuyển
đổi đất nông nghiệp phục vụ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị
hoá ở Việt Nam
Là một nước có gần 80% số dân sống bằng nông nghiệp và sống ở nông
thôn, do vậy, các chính sách về đất đai của Đảng và Nhà nước có ảnh hưởng trực
đến đó. Đền bù, giải phóng mặt bằng theo giá của Nhà nước quy định và tính đến
yếu tố giá cả thị trường trong từng thời điểm nhất định, theo hướng tạo điều kiện
thuận lợi cho nông dân, cho người có đất được thu hồi [Vũ Ngọc Kỳ, 3/2005].
- Tổ chức tốt việc tái định cư cho hộ nông dân sau khi thu hồi đất đến ở các
vùng xen kẽ với các hộ nông dân trong làng, xã (nếu còn quỹ đất sản xuất), tạo cơ
hội cho họ có một phần đất sản xuất của nông dân khác nhường lại, giúp họ yên tâm
sản xuất. Các khu tái định cư cũng nên gần làng quê, dòng họ của các hộ nông dân
đã sống, gắn bó nhiều đời.
- Đối với hộ nông dân không còn đất sản xuất, hoặc ít đất, không đủ để sản
xuất ra các sản phẩm bảo đảm cho cuộc sống gia đình, các cấp uỷ, chính quyển các
cấp, các đoàn thể nhân dân cần quan tâm, chăm lo, tạo điều kiện cho họ có việc làm
mới để có thu nhập ngay trên địa bàn như: chuyển nghề mới, cho họ vào làm việc
22 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn tại các nhà máy, xí nghiệp ngay trên mảnh đất họ đã giao cho Nhà nước hoặc lân
cận trong vùng với phương châm: “Ly nông bất ly hương”. Nhà nước giao cho Hội
nông dân chủ trì phối hợp với các ngành để đào tạo nghề mới miễn phí cho nông
dân, để họ có thể chuyển sang lao động trong lĩnh vực khác. Cải cách chính sách
cho vay vốn ưu đãi để họ chuyển nghề ưu tiên con cái họ về học tập, công ăn, việc
làm sau khi ra trường. Hội nông dân cần phối hợp với chính quyền, các doanh
nghiệp được giao đất vận động hộ nông dân dùng tiền đền bù đất tham gia đóng góp
cổ phần vào xí nghiệp, nhà máy trên vùng đất của họ trước đây hoặc giúp đỡ, hỗ trợ
họ sử dụng vốn hiệu quả, đầu tư sản xuất vào nghề mới. Các hộ nông dân có nhu
cầu tới các vùng quê khác, cần có chính sách hỗ trợ trong việc di dân, định canh,
định cư. Hội nông dân Việt Nam, đại diện lợi ích thiết thực của giai cấp nông dân
cần tham gia tích cực để vận động, tư vấn, giúp đỡ hội viên, nông dân nói chung và
với cơ quan nhà nước; đảm bảo hành vi công chức là hợp pháp, góp phần nâng
cao trách nhiệm của cán bộ, công chức; tăng cường môi trường pháp luật bình đẳng.
Ở Hàn Quốc, vào những năm 70 của thế kỷ trước, trước tình trạng di dân ồ ạt
từ các vùng nông thôn vào đô thị, thủ đô Xơ-un đã phải đối mặt với tình trạng thiếu
đất định cư trầm trọng trong thành phố. Để giải quyết nhà ở cho dân nhập cư, chính
quyền thành phố phải tiến hành thu hồi đất của nông dân vùng phụ cận. Việc đền bù
được thực hiện thông qua các công cụ chính sách như hỗ trợ tài chính, cho quyền
mua căn hộ do thành phố quản lý và chính sách tái định cư.
Các hộ bị thu hồi đất khi sử dụng tiền đền bù có quyền mua hoặc nhận căn hộ
do thành phố quản lý, được xây tại khu đất được thu hồi có bán kính cách Xơ-un
khoảng 5 km. Vào những năm 70 của thế kỷ trước, khi thị trường bất động sản bùng
nổ, hầu hết các hộ có quyền mua căn hộ có thể bán lại quyền mua căn hộ của mình
với giá cao hơn nhiều lần so với giá gốc [Nguyễn Thị Dung, 2009].
1.5.1.2. Kinh nghiệm của Trung Quốc
Trung Quốc là nước đông dân nhất thế giới, với trên 1,3 tỷ dân nhưng gần
70% dân số vẫn còn ở khu vực nông thôn, hàng năm có tới hơn 10 triệu lao động
đến tuổi tham gia vào lực lượng lao động xã hội nên yêu cầu giải quyết việc làm trở
nên rất gay gắt. Trước đòi hỏi bức bách của thực tế, ngay từ năm 1978, sau khi cải
24 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn cách và mở cửa nền kinh tế, Trung Quốc thực hiện phương châm: “Ly nông bất ly
hương, nhập xưởng bất nhập thành” thông qua chính sách khuyến khích phát triển
mạnh mẽ công nghiệp Hưng Trấn nhằm phát triển và đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu
kinh tế và phân công lại lao động ở nông thôn, rút ngắn khoảng cách giữa nông thôn
và thành thị. Coi việc phát triển công nghiệp nông thôn là con đường để giải quyết
vấn đề việc làm.
càng tăng.
25 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn Do tốc độ công nghiệp hoá và đô thị hoá nhanh, cộng với nhiều nơi không có
quỹ đất dự phòng, số nhân khẩu nông nghiệp tăng nhanh sự chuyển dịch lao động
nông nghiệp sang ngành nghề khác chậm dẫn tới một bộ phận nông dân thiếu đất
hoặc không có đất sản xuất. Mức độ phát triển công nghiệp và đô thị hoá ở các
vùng, các tỉnh, thành cũng khác nhau, do đó số nông dân không còn đất sản xuất
cũng khác nhau. Ở các thành phố lớn, các tỉnh có tốc độ đô thị hoá nhanh, số hộ
nông dân không còn chiếm tỷ lệ lớn như cả nước, như thành phố Hồ Chí Minh, Hà
Nội, Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Hải Dương, Hưng Yên Theo thống kê, hàng năm,
bình quân cả nước có hàng ngàn hécta đất nông nghiệp do Nhà nước thu hồi để xây
dựng khu công nghiệp, khu đô thị mới. Theo báo cáo chưa đầy đủ của 57 Hội Nông
dân các tỉnh, thành phố, có hơn 30 vạn hộ nông dân không còn đất sản xuất hoặc có
nhưng sản xuất không ổn định: An Giang có 17% số hộ nông nghiệp không có đất,
Long An là 7,8%, Sóc Trăng là 5,6%, Bến Tre là 6,62%,
Thực hiện chủ trương của Đảng, thi hành Luật đất đai và các Quyết định của
Chính phủ, trong những năm qua, các cấp, các ngành đã chú trọng quản lý, sử dụng
đất đai có hiệu quả; thực hiện nhiều chính sách đối với hộ nông dân được thu hồi
đất, trong đó có việc bố trí lại đất đai (nơi còn đất) cho hộ nông dân không có đất. Ở
các tỉnh Tây Nguyên, hàng vạn hộ đã được giải quyết sản xuất. Hệ thống kết cấu hạ
tầng ở nông thôn được xây dựng khá hơn, việc xác lập và xác định các khu tái định
cư cũng như các chính sách đền bù tương đối thoả đáng. Những yếu tố đó đã góp
phần thúc đẩy sản xuất và ổn định chính trị, kinh tế, xã hội ở nông thôn.
Tuy nhiên, ở một số nơi chưa thực hiện tốt chủ trương của Đảng cũng như
việc thi hành Luật đất đai và các quyết định của Chính phủ, cộng với quá trình công