Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
TẠ NGỌC YẾN MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG
ĐỂ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI HUYỆN LÂM THAO,
TỈNH PHÚ THỌ, GIAI ĐOẠN 2012-2020
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số : 60.34.04.10 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Phí Văn Kỷ THÁI NGUYÊN, NĂM 2013 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả đã nêu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, trung thực, xuất phát từ tình hình
thực tế về đào tạo nghề cho lao động nông thôn trong công cuộc xây dựng nông
thôn mới tại huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.
kinh nghiệm nghiên cứu còn hạn chế, nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót.
Tác giả mong nhận được sự cảm thông và góp ý của quý thầy, cô giáo, đồng nghiệp
và những người quan tâm đến đề tài này.
Thái Nguyên, tháng 02 năm 2013
Tác giả luận văn TẠ NGỌC YẾN
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iii
MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn i
Lời cam đoan ii
Mục lục iii
Danh mục các kí hiệu, các chữ viết tắt vii
Danh mục các bảng viii
MỞ ĐẦU 1
1. Sự cần thiết của đề tài cứu 1
2. Mục đích nghiên cứu 3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4. Những đóng góp mới của đề tài 3
5. Bố cục luận văn 3
Chƣơng 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NÔNG THÔN MỚI VÀ SỰ
CẦN THIẾT ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC 4
1.1. Một số vấn đề về nông nghiệp, nông thôn, nông dân và nông thôn mới 4
1.1.4.4 Các chính sách của Nhà nước liên quan đến đào tạo nghề 30
1.4. Hiệu quả kinh tế của đào tạo nghề 30
1.4.1. Nâng cao năng suất, sản lượng, chất lượng sản phẩm nông nghiệp 30
1.4.2. Tăng thu nhập hộ gia đình, phát triển kinh tế - xã hội 31
1.5. Những bài học thực tiễn 32
1.5.1. Các kinh nghiệm một số nước trên thế giới về đào tạo nguồn lao động cho
nông thôn - Những bài học rút ra cho Việt Nam 32
1.5.2 Các kinh nghiệm một số địa phương trong nước và những bài học rút ra cho
địa bàn nghiên cứu. 35
Chƣơng 2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38
2.1. Câu hỏi nghiên cứu 38
2.2. Phương pháp nghiên cứu 38
2.2.1.Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 38
2.2.2. Phương pháp thu thập thông tin 39
2.2.2.1.Thu thập tài liệu thứ cấp 39
2.2.2.1.Thu thập tài liệu sơ cấp 39
2.2.3. Phương pháp tổng hợp thông tin xử lý số liệu 40
2.2.4. Phương pháp phân tích thông tin 40
2.3. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 41
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
v
Chƣơng 3. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO
ĐỘNG NÔNG THÔN TẠI HUYỆN LÂM THAO, TỈNH PHÚ THỌ GIAI
ĐOẠN 2009 - 2011 43
3.1. Một số đặc điểm khái quát về huyện Lâm Thao - tỉnh Phú Thọ 43
3.1.1. Đặc điểm tự nhiên 43
3.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội 44
3.1.3 Đặc điểm về lao động 45
ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG ĐỂ XÂY DỰNG NTM Ở HUYỆN
LÂM THAO, TỈNH PHÚ THỌ GIAI ĐOẠN 2012 - 2020 74
4.1. Định hướng phát triển nông nghiệp và xây dựng NTM của huyện Lâm
Thao, tỉnh Phú Thọ từ nay đến 2020 74
4.1.1. Định hướng phát triển nông nghiệp 74
4.1.2. Định hướng xây dựng NTM 74
4.1.2.1 Nhóm tiêu chí về quy hoạch 74
4.1.2.2. Nhóm tiêu chí về hạ tầng kinh tế 75
4.1.2.3. Nhóm tiêu chí về tổ chức sản xuất 78
4.1.2.4. Nhóm tiêu chí về văn hóa - xã hội - môi trường 78
4.1.2.5. Nhóm tiêu chí về hệ thống chính trị 79
4.2. Dự báo và định hướng về nhu cầu đào tạo nghề cho lao động nông thôn
của huyện Lâm Thao trong thời gian tới. 80
4.3. Các giải pháp củng cố và phát triển công tác đào tạo nghề cho lao động
đáp ứng xây dựng MTM 82
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 98
1. Kết luận 98
2. Kiến nghị 99
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM
KHẢO
101
PHỤ LỤC
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
vii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Thao giai đoạn 2009 -2011 52
Bảng 3.10. Cơ cấu và số lượng NLĐ đào tạo nghề trình độ cao đẳng của huyện Lâm
Thao giai đoạn 2009 -2011 53
Bảng 3.11 Số lượng cán bộ, giáo viên tham gia dạy nghề cho lao động nông thôn của
các trường trên địa bàn huyện Lâm Thao năm 2011 56
Bảng 3.12. Cơ cấu giáo viên tham gia dạy nghề theo giới, thâm niên công tác và độ tuổi 57
Bảng 3.13. Cơ cấu giáo viên tham gia dạy nghề theo ngành nghề năm 2011 58
Bảng 3.15. Số học viên học nghề tốt nghiệp qua các năm 2009 - 2011 63
Bảng 3.16 Bảng kết quả thi lý thuyết nghề qua các năm 2009 - 2011 64
Bảng 3.17 Kết quả thi thực hành nghề qua các năm 2009 – 2011 64
Bảng 3.18 Đánh giá của người lao động về công tác đào tạo nghề 65
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài cứu
Ngay từ khi Đảng ta thành lâp, đất nước độc lập, trong các thời kỳ kháng chiến
chống ngoại xâm, đến thống nhất đất nước và xây dựng phát triển ngày nay, Đảng
và nhà nước luôn coi trọng nông nghiệp, nông thôn, nông dân. Đặt vị trí kinh tế
nông nghiệp, nông thôn là nền tảng của phát triển kinh tế quốc dân. Nông dân là lực
lượng tạo nên sức mạnh vĩ đại đánh thắng giặc ngoại xâm, khởi đầu cho mọi sự đổi
mới xây dựng đất nước.
Sau hơn 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới, nền kinh tế quốc dân và xã hội
mới. Đặc biệt đối với tỉnh Phú Thọ, phải tạo được bước đột phá trong lĩnh vực đào
tạo nguồn nhân lực bởi giáo dục - đào tạo, trong đó có đào tạo nghề là quốc sách
hàng đầu, là chìa khóa của mọi thành công.
Theo số liệu thống kê: Số người trong độ tuổi lao động của tỉnh hiện nay là:
81 vạn người; Số lao động làm việc trong lĩnh vực phi nông nghiệp: 34,6%; Số lao
động đã qua đào tạo chiếm tỷ lệ nhỏ; Số người thất nghiệp hoặc chưa có việc làm:
gần 2 vạn người. Những con số trên phản ánh một thực trạng đang diễn ra hiện nay
là sự mất cân đối trong cung và cầu về lao động: Mặc dù nhu cầu về sử dụng lao
động là rất lớn, nguồn lao động của tỉnh rất đồi dào, nhưng tỉ lệ lao động được giải
quyết việc làm lại không cao. Nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng thừa lao động,
thiếu việc làm như trên chính là do chất lựơng nguồn lao động của tỉnh còn thấp, lao
động của tỉnh chưa qua đào tạo nghề còn rất lớn.
Những năm gần đây Phú Thọ triển khai Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 của
BCH Trung ương Đảng (khoá X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã mang lại
sự chuyển biến to lớn cho nhiều vùng quê, dần đi vào cuộc sống. Lần đầu tiên nông
thôn Phú Thọ có bộ tiêu chí xây dựng mô hình nông thôn mới trên cơ sở phù hợp
với đặc điểm, điều kiện của tỉnh. Điều này cho thấy chủ trương của Đảng về phát
triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và nâng cao đời sống của nông dân là
rất đúng đắn. Để đạt được mục tiêu đó không thể thiếu một nguồn lực chất lượng
cao, biết ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, những người có trình độ quản
lý kinh tế, sản xuất hiệu quả. Chính vì vậy công tác đào tạo nguồn nhân lực được
đặt lên hàng đầu.
Với những nội dung nêu trên, để nâng cao hiệu quả công tác đào tạo nguồn
nhân lực, mà thực chất là đào tạo nghề cho lao động nông thôn, góp phần nhiều hơn
nữa trong công cuộc xây dựng nông thôn mới, công nghiệp hóa - hiện đại hóa của
tỉnh Phú thọ nói chung, của huyện Lâm Thao nói riêng. Chính vì vậy tác giả chọn
đề tài: “Một số giải pháp đào tạo nghề cho lao động để xây dựng nông thôn mới
tại huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, giai đoạn 2012- 2020”, làm đề tài luận văn
thạc sỹ kinh tế.
Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về nông thôn mới và sự cần thiết đào tạo
nguồn nhân lực.
Chƣơng 2: Phương pháp nghiên cứu.
Chƣơng 3: Thực trạng về công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại
huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ trong những năm qua.
Chƣơng 4: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho
lao động nông thôn để xây dựng NTM ở huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ giai đoạn
từ 2012 - 2020. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NÔNG THÔN MỚI VÀ SỰ
CẦN THIẾT ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC
1.1. Một số vấn đề về nông nghiệp, nông thôn, nông dân và nông thôn mới
1.1.1. Một số vấn đề về nông nghiệp, nông thôn, nông dân và nông thôn mới
Nghiên cứu về nông thôn có nhiều quan điểm, cách nhìn dưới góc độ khác
nhau của nhiều tác giả. Nhưng tựu trung nói về nông thôn là nói đến mối quan hệ
tổng hòa: Nông nghiệp, nông thôn và nông dân, trong đó nông dân giữ vai trò chủ
thể phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn.
Vậy nông thôn là vùng danh giới địa lý thôn, làng có cư dân chủ yếu là nông
dân, sản xuất nông nghiệp là chính. Về kinh tế có thể nói kinh tế nông thôn gồm
kinh tế nông nghiệp là chính ngoài ra kinh tế khác phi sản xuất nông nghiệp (công
nghiệp, TTCN, ngành nghề, thương mại, dịch vụ). Từ lâu đời nông thôn mà trong
đó cư dân nông thôn mà chủ yếu là nông dân dân sản xuất nông nghiệp lạc hậu, các
điều kiện sống về kinh tế - văn hóa - xã hội, dân trí thấp hơn đời sồng của cư dân
các đô thị.
Đảng và Nhà nước luôn khẳng định nông nghiệp là nền tảng kinh tế quốc dân, chú
trọng phát triển nông thôn, khẳng định nông dân lực lượng chủ lực đánh thắng giặc
ngoại xâm và xây dựng đất nước.
Trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng nhanh tỉ trọng giá trị sản
phẩm và lao động các ngành công nghiệp và dịch vụ; giảm dần tỉ trọng sản phẩm và
lao động nông nghiệp; xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quy hoạch phát
triển nông thôn, bảo vệ môi trường sinh thái; tổ chức lại sản xuất và xây dựng quan
hệ sản xuất phù hợp; xây dựng nông thôn dân chủ, công bằng, văn minh, không
ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân ở nông thôn. Đảng và
Nhà nước lấy xây dựng NTM làm giải pháp quan trọng hàng đầu để thực hiện
nhiệm vụ của CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn. Ưu tiên phát triển lực lượng sản
xuất, chú trọng phát huy nguồn lực con người. Hay nói một cách khác coi trọng
nguồn lao động nông thôn, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, là chủ thể xây dựng
NTM (dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra).
Kết hợp chặt chẽ các vấn đề kinh tế và xã hội trong quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn nhằm giải quyết việc làm, xóa đói giảm
nghèo, ổn định xã hội và phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa
của người dân nông thôn, nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa;
giữ gìn, phát huy truyền thống văn hoá, bản sắc dân tộc. Phát triển NTM bền vững Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
đang là xu hướng của nhiều quốc gia trên thế giới, muốn vậy phải giải quyết mối
quan hệ ba yếu tố : Kinh tế - xã hội - môi trường .
Kết hợp chặt chẽ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
trong việc xây dựng NTM, từ đó phát huy tạo ra tiềm lực để thực hiện chiến lược,
quy hoạch, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của các ngành,
tạo việc làm, tăng thu nhập cho cư dân nông thôn Khác với nông thôn truyền
thống, sản xuất nông nghiệp của nông thôn mới bao gồm cơ cấu các ngành nghề
mới, các điều kiện sản xuất nông nghiệp hiện đại hoá, ứng dụng phổ biến khoa học
kỹ thuật tiên tiến và xây dựng các tổ chức nông nghiệp hiện đại. Cần phân tách rõ
nông thôn với thành thị; các đặc điểm riêng của thành thị và làng xã; phân công hợp
lý thành thị với nông thôn, tức là nhấn mạnh nông thôn phục vụ thành thị, ngược lại
thành thị hỗ trợ nông thôn. Đó chính là cơ sở quan trọng để thực hiện thành thị và
nông thôn phát triển hài hoà. Trong quá trình hình thành nên đô thị đã xuất hiện 2
loại hiệu ứng: hiệu ứng kinh tế khu vực và hiệu ứng tập hợp, 2 hiệu ứng này quyết
định thành thị thích hợp để phát triển công nghiệp, do vậy mà chức năng của thành
thị cũng được thực hiện xuất phát trên cơ sở 2 loại hiệu ứng này. Còn với nông thôn
thì có thể nói nông nghiệp là chức năng tự nhiên của nông thôn. Xây dựng nông
thôn mới không có nghĩa là biến nông thôn trở thành thành thị. Hướng tư duy áp
dụng mô hình phát triển của thành thị vào xây dựng nông thôn phần nào đã phủ
nhận những giá trị tự có của nông thôn và khả năng phát triển trên cơ sở giữ vững
bản sắc riêng nông thôn.
1.1.3.2 Chức năng giữ gìn văn hóa truyền thống dân tộc
Bản sắc văn hóa làng quê cũng đồng nghĩa với bản sắc từng dân tộc, giữ gìn nó
là giữ gìn văn hóa truyền thống đa dạng của các dân tộc, của từng quốc gia. Làng
quê nông thôn Việt Nam khác so với các nước xung quanh, ngay cả ở Việt Nam,
làng quê dân tộc Thái khác với các dân tộc Mông, Ê-đê, Ba-na, Kinh Nếu quá
trình xây dựng nông thôn mới làm phá vỡ chức năng này là đi ngược lại với lòng
dân và làm xóa nhòa truyền thống văn hóa muôn đời của người Việt.
Nền văn hoá truyền thống mang đậm màu sắc thôn quê này đã được sản sinh
trong một hoàn cảnh đặc biệt. Các phương thức sản xuất, sinh sống cũng như cơ cấu
tổ chức mang tính đặc thù của xã hội nông thôn chính là nhân tố quyết định nền văn
hoá mang đậm màu sắc dân tộc Việt Nam. Học giả Dương Trung Quốc cho rằng, xã
hội làng xã Việt Nam mang đặc tính quê hương và xã hội người thân. Quy tắc hành
vi của xã hội gồm những người quen này là những phong tục tập quán đã được hình
cà phê, tiêu , hệ thống tưới tiêu, hồ đập thủy lợi cho đến bờ dậu làm cho con
người gần gũi, gắn chặt với thiên nhiên.
Trong nông thôn truyền thống, con người và tự nhiên sinh sống hài hoà với
nhau, chức năng người tôn trọng tự nhiện, bảo vệ tự nhiên và hình thành nên thói Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
quen làm việc theo quy luật tự nhiên. Trong quá trình thực hiện CNH - HĐH và đô
thị hóa với tốc độ nhanh đời sống, sinh hoạt nông thôn có thay đổi lớn. Tuy vậy
công nghiệp hóa cơ cấu kinh tế nông thôn chuyển đổi: Làng nghề, TTCN, khu công
nghiệp địa phương, trung ương phát triển, cùng với các sản phẩm công nghiệp hóa
chất nhanh chóng đưa vào sản xuất nông nghiệp, ô nhiễm môi trường ngày càng gia
tăng: chất thải công nghiệp ô nhiễm nặng nguồn nước, không khí, …thuốc bảo vệ
thực vật, phân bón hóa học. Nhiều vùng quê chịu ô nhiêm gây ảnh hưởng đến sức
khỏe cộng đồng.
Có một nhà tâm lý học thành thị đã cho rằng, nhu cầu cấp thiết nhất của nhân
loại là khắc phục khoảng cách giữa con người với tự nhiên và con người với con
người. Các cảnh quan tự nhiên tươi đẹp cùng với môi trường sinh thái có thể đáp
ứng được nhu cầu trở về với tự nhiên của con người. Nông thôn có thể bù đắp được
những thiếu hụt sinh thái của thành thị. Môi trường tự nhiên yên tĩnh có thể điều
hoà cân bằng tâm lý con người. Môi trường sinh vật phong phú khiến con người có
thể cảm thụ được những điều tốt đẹp từ cuộc sống. Sự chung sống hài hoà giữa con
người với tự nhiên có tác dụng thanh lọc và làm đẹp tâm hồn. Đây cũng chính là
nguyên nhân khiến cho các khu du lịch sinh thái xung quanh các khu đô thị ngày
càng phát triển rầm rộ. Do vậy, phải nên xây dựng nông thôn mới với những đóng
góp tích cực cho sinh thái. Có thể coi chức năng sinh thái chính là thước đo một khu
xã có thể coi là nông thôn mới hay không. Môi trường sinh thái, đây cũng là một
trong các tiêu chí NTM.
thuộc vào dân. Chỉ khi nào người dân tự nguyện, tích cực và trực tiếp tham gia xây
dựng nông thôn mới thì khi đó các mục tiêu của đề án mới trở thành hiện thực.
Người dân không chỉ tham gia vào một khâu trong quá trình xây dựng nông thôn
mới mà tham gia vào tất cả các khâu, từ xây dựng chủ trương, góp ý kiến về quy
hoạch đến việc xác định công trình, hạng mục đầu tư, giám sát quá trình triển khai
Có rất nhiều cách để người dân tham gia vào quá trình xây dựng nông thôn mới:
Đóng góp ý kiến, đóng góp ngày công lao động, ủng hộ kinh phí, hiến đất
Vai trò của nông dân trong xây dựng NTM văn minh, hiện đại, được thể hiện
là: (1) chủ thể tích cực tham gia vào quá trình xây dựng quy hoạch và thực hiện quy
hoạch xây dựng NTM; (2) chủ thể chủ động và sáng tạo trong xây dựng kết cấu hạ
tầng kinh tế - xã hội ở nông thôn; (3) chủ thể trực tiếp trong phát triển kinh tế và tổ
chức sản xuất CNH- HĐH nông nghiệp, nông thôn; (4) chủ thể tích cực, sáng tạo
trong xây dựng và gìn giữ đời sống văn hoá - xã hội, môi trường ở nông thôn; (5) là
nhân tố góp phần quan trọng vào xây dựng hệ thống chính trị - xã hội vững mạnh,
bảo đảm an ninh trật tự xã hội ở cơ sở. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
Vai trò chủ thể của nông dân trong xây dựng nông thôn mới còn được thể
hiện ở chỗ, nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới không phải là nhất thành bất biến,
làm một lần là xong mãi mãi mà đó là quá trình phấn đấu liên tục, lâu dài. Có tiêu
chí cũng có thể thay đổi theo sự phát triển của xã hội.
1.2. Nguồn nhân lực, đào tạo nguồn lực lao động
1.2.1. Các nội dung cơ bản về nguồn nhân lực, chất lượng nguồn lao động
Thuật ngữ nguồn nhân lực và nguồn lao động có nội dung cơ bản giống
nhau, đều tính đến lao động của con người. Tuy vậy khi nói đến nguồn nhân lực là
tính đến cả người đã đến tuổi lao động được bổ sung cho lực lượng lao động xã hội
và cả người lao động xã hội hết tuổi lao đông nhưng còn tham gia lao động. Có thể
Giáo dục được hiểu là các hoạt động học tập để chuẩn bị cho con người bước
vào một nghề nghiệp hoặc chuyển sang một nghề mới thích hợp hơn cho tương lai.
Phát triển là các hoạt động học tập vươn ra khỏi phạm vi công việc trước mắt
của người lao động, nhằm mở ra cho họ những công việc mới dựa trên cơ sở những
định hướng tương lai của doanh nghiệp, tổ chức. Phát triển nguồn nhân lực là quá
trình tạo ra sự biến đổi về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực nhằm nâng cao
hiệu quả sử dụng chúng để đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu phát triển kinh tế- xã
hội của đất nước, của vùng. Phát triển nguồn nhân lực chính là nâng cao vai trò của
nguồn lực con người trong sự phát triển kinh tế - xã hội, qua đó làm gia tăng giá trị
của con người.
Như vậy, Phát triển nguồn nhân lực là quá trình nâng cao năng lực của con
người về mọi mặt để tham gia một cách hiệu quả vào quá trình phát triển quốc gia.
Phát triển nguồn nhân lực, do vậy, luôn luôn là động lực thúc đẩy sự tiến bộ và tác
động đến mọi mặt của đời sống xã hội. Kinh nghiệm của nhiều nước công nghiệp
hóa trước đây cho thấy phần lớn thành quả phát triển không phải nhờ tăng vốn sản
xuất mà là hoàn thiện trong năng lực con người, sự tinh thông, bí quyết nghề nghiệp
và quản lý. Khác với đầu tư cho nguồn vốn phi con người, đầu tư cho phát triển con
người là vấn đề liên ngành, đa lĩnh vực và tác động đến đời sống của các cá nhân,
gia đình, cộng đồng của họ và đến toàn bộ xã hội nói chung.
1.1.3. Tính nhu cầu đào tao lao động
Trước hết công tác đào tạo nguồn lao động phải phục vụ cho sự phát triển
kinh tế xã hội ở nông thôn. Tính toán nhu cầu lao động đề có kế hoạch nguồn lực về
số lượng, về về các nghề đáp ứng sản xuất nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, ) và
sản xuất phi nông nghiệp (TTCN, dịch vụ, thương mại,…). Để tính lao động đào tạo
các loại nghề cho lao động nông thôn phải dựa trên cơ sở : Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
+ Ở Việt Nam, nhiều định nghĩa nghề được đưa ra song chưa được thống
nhất, chẳng hạn có định nghĩa được nêu: "Nghề là một tập hợp lao động do sự Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
phân công lao động xã hội quy định mà giá trị của nó trao đổi được. Nghề
mang tính tương đối, nó phát sinh, phát triển hay mất đi do trình độ của nền
sản xuất và nhu cầu xã hội. Mặc dù khái niệm nghề được hiểu dưới nhiều góc
độ khác nhau, song chúng tôi thấy đều thống nhất ở một số nét đặc trưng nhất
định như sau:
- Đó là hoạt động, là công việc về lao động của con người được lặp đi lặp lại.
- Là sự phân công lao động xã hội, phù hợp với yêu cầu xã hội.
- Là phương tiện để sinh sống.
- Là lao động kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt có giá trị trao đổi trong xã hội đòi hỏi
phải có một quá trình đào tạo nhất định. Hiện nay xu thế phát triển của
nghề chịu tác động mạnh mẽ của tác động khoa học kỹ thuật và văn minh nhân loại
nói chung và về chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia nói riêng. Bởi
vậy phạm trù "Nghề" biến đổi mạnh mẽ và gắn chặt với xu hướng phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước.
1.3.1.2. Trình độ lành nghề
Trình độ lành nghề liên quan chặt chẽ tới lao động phức tạp. Lao động có
trình độ lành nghề là lao động có chất lượng cao hơn, là lao động phức tạp hơn.
Trong cùng một đơn vị thời gian, lao động lành nghề thường tạo ra một giá trị lớn
hơn so với lao động giản đơn.
Để đạt tới trình độ lành nghề nào đó, trước hết phải đào tạo nghề cho nguồn
nhân lực, tức là giáo dục kỹ thuật sản xuất cho người lao động để nắm vững một
nghề, một chuyên môn, bao gồm cả người đã có nghề, có chuyên môn rồi hay học
để làm nghề, chuyên môn khác.
Đài Loan đạt 900.000USD/ha .
Nếu so sánh với Mỹ thì Việt Nam:
- Ở Việt Nam: 1 lao động nông nghiệp tạo ra 1,3 tấn lương thực/năm, 77 kg
thịt hơi các loại / năm .
- Ở Mỹ : 1 lao động nông nghiệp tạo ra 100 tấn lương thực /năm, 10 tấn thịt
các loại /năm .
Có sự khác nhau lớn như vậy về năng suất lao động chính là chất lượng lao động
trong nông nghiệp (trình độ nghề nghiệp) của Việt Nam thua kém các nước khác.
Thực tế điều tra ở một số địa phương lao đông nông thôn qua đào tao rất thấp
Cả nước lao động nông nghiệp hiện nay trên 22,9 triệu, trong đó chưa qua đào tạo
nghề 97,53%; Công nhân kỹ thuật: 1,35%, Trung cấp : 0,89%, Cao đẳng : 0,13%
và đại học: 0,11% .
Đối với cán bộ chủ chốt địa phương (xã, thôn, bản và hợp tác xã ), các chủ
hộ, chủ trang trại chưa được đào tạo chuyên môn, quản lý chiếm tỷ lệ khá lớn .