ĐỒNG QUẢN LÝ NGUỒN LỢI THỦY SẢN Ở ĐẦM
PHÁ TAM GIANG –CẦU HAI THỪA THIÊN HUẾ
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Thừa Thiên Huế là một tỉnh duyên hải miền Trung có nhiều tiềm năng và lợi thế
trong việc phát triển thủy sản nhờ hệ thống đầm phá Tam Giang - Cầu Hai rộng lớn nhất
Việt Nam và Đông Nam Á. Với tổng diện tích khoảng 22.000 ha, vùng bờ biển kéo dài
126 km với tiềm năng lớn về đa dạng sinh học, các hệ sinh thái đa dạng, đầy đủ (chỉ thiếu
hệ sinh thái san hô) thì đây là một điểm hấp dẫn để các nhà khoa học, các nhà đầu tư và
gần 33 vạn dân cư sống ven đầm quan tâm và khai thác nhiều nhất trong những năm qua.
Những năm qua, kinh tế thủy sản có nhiều chuyển biến tích cực và đạt được nhiều thành
tựu đáng kể. Từ chỗ sản lượng thủy sản năm 2003 khoảng 25 ngàn tấn thì đến năm 2009
con số này gần 38 ngàn tấn, năm 2010 đạt 38,5 ngàn tấn. Theo đó, diện tích nuôi trồng
thuỷ sản trên địa bàn tỉnh đến nay khoảng 5.700 ha, gấp 1,5 lần so với năm 2005.
Tuy nhiên, tài nguyên đầm phá là một nguồn tài nguyên mở, khi nó được xem là
sở hữu chung của mọi người thì người dân thường có quan niệm theo kiểu “điền tư, ngư
chung”, từ đó họ mặc nhiên khai thác, vơ vét làm cho nguồn tài nguyên đầm phá ngày
càng bị suy giảm đang ảnh hưởng lớn đến kế sinh nhai lâu dài của cộng đồng ngư dân
ven phá.
Và chúng ta cũng thấy thực tế thì công tác quản lý nguồn lợi thuỷ sản Hệ đầm phá
Tam Giang hiện nay đang còn nhiều bất cập, và gặp phải nhiều vấn đề khó khăn như: Các
quy phạm quản lý (quy phạm pháp luật) về quản lý nguồn lợi thuỷ sản hiện nay rất ít, lại
thiếu sự thống nhất đồng bộ, thiếu các văn bản hướng dẫn nên không rõ ràng từ đó việc
áp dụng và thực hiện ở cơ sở gặp nhiều khó khăn. Và một trong các công cụ mà Đầm phá
sử dụng là đồng quản lý nguồn lợi thủy sản, đây là công cụ được nhiều tổ chức quan tâm
và có thể sẽ hướng đến áp dụng rộng rãi ở Đầm phá trong tương lai.
Trước tình hình đó chúng tôi quyết định nghiên cứu về công tác quản lý nguồn lợi thủy
sản ở Phá Tam Giang và đặc biệt là chúng tôi thiên về nghiên cứu “Công tác đồng quản
lý nguồn lợi thủy sản ở Tam Giang-Cầu Hai-Thừa Thiên Huế” nhằm đánh giá thực
trạng đồng quản lý để tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn, và từ đó đưa ra những giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc quản lý, để ngăn chặn sự suy giảm tài nguyên của
hệ Đầm phá.
hoạch phát triển kinh tế xã hội tổng thể.
• Quy định những hành vi cấm trong hoạt động thủy sản
• Quy định những nội dung về bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản: chú trọng bảo vệ
môi trường sống, bảo tồn, bảo vệ, tái tạo và phát triển nguồn lợi thủy sản.Có những quy
định về quy hoạch khu bảo tồn biển, vùng nước nội địa. Quy định về tài chính để tái tạo
nguồn lợi thủy sản.
• Quy định những nội dung về hoạt động khai thác thủy sản: Các nguyên tắc khai thác thủy
sản, quản lí khai thác thủy sản xa bờ, ven bờ, thực hiện báo cáo khai thác thủy sản. Nhà
nước quản lí hoạt động khai thác thủy sản bằng việc cấp giấy phép đánh bắt, giấy phép
khai thác bị thu hồi khi không có đủ điều kiện để giữ giấy phép, vi phạm nghiêm trọng
Luật thủy sản, tẩy xóa nội dung giấy phép đánh bắt và các quy định khác.Quy định đối
với hoạt động nuôi trồng thủy sản: Nhà nước quy hoạch về nuôi trồng thủy sản, quản lí
về giống thủy sản, thức ăn thuốc và hóa chất dùng trong nuôi trồng thủy sản, và có trách
nhiệm trong quản lí và phòng trừ dịch bệnh.
• Quy định về quản lí nhà nước đối với các loại tàu đánh cá và cơ sở dịch vụ hoạt động
thủy sản.
• Nhà nước quản lí về hợp tác quốc tế trong hoạt động thủy sản.
2.2 Sử dụng mô hình SWOT để phân tích công cụ CAC:
Sự quản lí môi trường bằng các công cụ quản lí điều hành và kiểm soát của nhà nước
ngày càng phát huy tác dụng bổ sung cho sự điều tiết của thị trường. Bên cạnh những
thuận lợi, những điểm tích cực thi CAC cũng có nhũng mặt tồn tại. Sử dụng mô hình
Phân tích chính sách môi trường Page 2
SWOT để phân tích và áp dụng vào thực tiễn cho phù hợp hơn.
Điểm mạnh:
• Phương pháp truyền thống đã quen dùng vơi các cấp chính quyền
• Có sự tương đối chắc chắn về mặt hiệu quả môi trường, có thể dựa vào CAC để đạt được
mục tiêu chính sách đề ra.
• Việc ban hành luật lệ khá nhanh chóng do có sẵn bộ máy hành chính.
• Công cụ pháp luật mang tính bắt buộc, rõ rang, không được hiểu là “ quyền được gây ô
nhiễm” , do đó quy định hành vi của đối tượng.
phục hồi, dẫn đến mất cân bằng sinh thái. Đây là những tồn tại cần được xem xét và giải
quyết.
3. Các công cụ kinh tế và tài chính:
Phân tích chính sách môi trường Page 3
Các nhà kinh tế cho rằng phương pháp dựa vào thị trường để quản lí môi trường và các
nguồn lực là có hiệu quả hơn so với việc sử dụng công cụ mệnh lệnh và kiểm soát.
3.1.Thuế môi trường và các loại lệ phí khác:
Thuế môi trường và các loại phí khác là một trong những phương tiện để định giá môi
trường, lượng hóa giá trị môi trường và bảo tồn các nguồn lực. Trong ngành thủy sản
thuế và các loại phí góp phần bảo tồn nguồn lợi thủy sản, tránh đánh bắt và khai thác quá
mức. Đồng thời, đặt mục tiêu bảo vệ môi trường song hành cùng mục tiêu hiệu quả kinh
tế.
Một số loại thuế được áp dụng trong ngành thủy sản như thuế xuất, nhập khẩu
thủy sản, thuế chống bán phá giá hay tiền kí quỹ vào thị trường để dduocj phép xuất,
nhập khẩu. Một số loại phí như phí đánh bắt, phí tàu bè, phí đăng kiểm
3.2.Ký quỹ môi trường
Ký quỹ môi trường là công cụ kinh tế áp dụng cho các ngành kinh tế dễ gây ra ô
nhiễm môi trường.Nội dung chính của ký quỹ môi trường là yêu cầu các doanh nghiệp
trước khi đầu tư phải đặt cọc tại ngân hàng một khoản tiền nào đó đủ lớn để đảm bảo cho
việc thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ và công tác bảo vệ môi trường. Số tiền ký quỹ phải
lớn hơn hoặc xấp xỉ với kinh phí cần để khắc phục môi trường nếu doanh nghiệp gây ra ô
nhiễm hoặc suy thoái môi trường
Trong quá trình thực hiện đầu tư và sản xuất, nếu cơ sở có các biện pháp chủ động
khắc phục không ðể xảy ra ô nhiễm hoặc suy thoái ra môi trường đúng như cam kết thì số
tiền ký quỹ sẽ ð˝ợc hoàn trả lại cho doanh nghiệp nếu doanh nghiệp không thực hiện
đúng cam kết hoặc phá sản số tiền trên sẽ được rút ra từ tài khoản ngân hàng chi cho
công tác khắc phục sự cố ô nhiễm đồng thời với việc đóng cửa doanh nghiệp.
Ký quỹ môi trường tạo ra lợi ích đối với nhà nước không phải đầu tư kinh phí
khắc phục môi trương từ ngân sách, khuyến khích xí nghiệp hoạt động bảo vệ môi
trường. Xí nghiệp sẽ có lợi ích do lấy lại vốn khi không xảy ra ô nhiễm hoặc suy thoái
Chi Cục Thuỷ sản hoặc Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản của các
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cấp, thu hối giấy phép đối với các tổ chức, cá nhân
có tàu cá đăng ký tại tỉnh, trừ các tàu cá thuộc các tổ chức do Cục Khai thác và Bảo vệ
nguồn lợi thuỷ sản cấp.
Sử dụng mô hình SWOT để phân tich các công cụ kinh tế:
Điểm mạnh:
+ Có hiệu quả
+ Ít chi phí hành chính
+ Mềm dẻo, linh hoạt
+ Thúc đẩy cải tiến công nghệ
Điểm yếu:
+ Chỉ đạt được hiệu quả khi phối hợp thực hiện với các công cụ khác
+ Nhiều nhà hoạch định chính sách chưa quen với phương pháp mới.
+ Một số công cụ được xem là công cụ bán quyền được gây ô nhiễm.
Cơ hội
Thúc đẩy cải tiến công nghệ để phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường.
Thách thức
Đây là hình thức trao quyền cho người gây ô nhiễm, do đó, các nhà kinh tế có thể không
nắm được mức ô nhiễm thực tế là bao nhiêu.
Phân tích chính sách môi trường Page 5
4. Tuyên truyền , giáo dục:
Công cụ tuyên truyền, giáo dục thường được sử dụng kết hợp với các công cụ
mệnh lệnh và kiểm soát. Mục đích chính của công cụ là nhằm giúp cho các cá nhân và
cộng đồng có những kiến thức căn bản về các vấn đề môi trường. Từ đó, nhận thức được
ý nghĩa, tầm quan trọng, giá trị của môi trường, có ý thức bảo vệ môi trường.
• Giáo dục môi trường: Thông qua hoạt động giáo dục giúp con người có sự hiểu biết và ý
thức trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ môi trường, hướng tới sự phát triển bền
vững. Giáo dục môi trường gồm một số nội dung chủ yếu như:
+ Đưa giáo dục môi trường vào trong trường học
+ Cung cấp thong tin cho những người có quyền ra quyết đinh
2. GIẤY PHÉP ĐÁNH BẮT
Phân tích chính sách môi trường Page 6
Theo Điều 16 luật thuỷ sản 2005, các tổ chức và cá nhân tham gia các hoạt động
thuỷ sản phải có giấy phép đánh bắt thuỷ sản ngoại trừ các cá nhân đánh bắt bằng thuyền
có tải trọng dưới 0,5 tấn hoặc không sử dụng tàu thuyền đánh bắt.
Về nguyên tắc, việc quy chiếu đến “các hoạt động thuỷ sản” cũng kéo theo phạm
vi áp dụng cơ chế này trên một vùng đầm phá, do các hoạt động thuỷ sản phải được hiểu
như “việc đánh bắt các tài nguyên thuỷ sản ở vùng đầm phá” (như đã quy định tại Điều 2,
Luật Thuỷ sản) và do ở Thừa Thiên Huế, ngư dân vùng đầm phá đánh cá bằng thuyền có
tải trọng lớn hơn hoặc nhỏ hơn.
Nhưng các thuật ngữ “tổ chức” và “cá nhân” phải được hiểu một cách phù hợp với
Điều 17 tiếp theo, quy định các điều kiện để cấp giấy phép đánh bắt. Cụ thể là, các tổ
chức và cá nhân được cấp giấy phép đánh bắt nếu họ “đăng ký ngành nghề đánh bắt”
Do vậy, chỉ có các “tổ chức kinh tế” (và những cá nhân tham gia các hoạt động
thuỷ sản mang tính chất thương mại) được cấp giấy phép đánh bắt. Và điều này có nghĩa
rằng ngư dân đánh bắt với quy mô nhỏ, thành phần phỏ biến nhất trong số những người
sử dụng diện tích mặt nước đầm phá, bị loại ra khỏi hệ thống cấp phép này.
Như ta đã biết thì đa số các ngư dân khai thác thuỷ sản ở đầm phá Tan Giang đều
hoạt động nhỏ lẻ vì vậy việc cấp giấy phép đánh bắt cho các ngư dân ở đây là rất khó
thực hiện.
3. QUY HOẠCH
Nhằm giảm áp lực nghề cá đầm phá làm tiền đề phát triển bền vững khai thác thuỷ
sản đầm phá, ổn định sinh kế cho ngư dân; Tạo độ thông thoáng cho đường giao thông
thủy; Tăng động lực dòng chảy và sự di chuyển của các loài thủy sinh ở vùng phá Tam
Giang; Phân vùng bảo tồn các loại thủy sinh và đa dạng sinh học; Xây dựng kế hoạch
phân vùng tái sắp xếp ngư cụ cố định trên mặt nước đầm phá. Ngày 18 tháng 3 năm 2011
UBND tỉnh Thừa Thiên Huế đã ký quyết định quy hoạch nuôi trồng thuỷ sản tỉnh Thừa
Thiên Huế đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020.
Theo quyết định thì:
Quy hoạch 30 ha tại vùng cát ven biển huyện Phong Điền để xây dựng nhóm trại
nâng cao nhận thức về thực trạng đầm phá và cập nhật tình hình tài nguyên đầm phá; bên
cạnh đó còn có các chương trình truyền thanh địa phương, băng cờ biểu ngữ ở các nơi
cộng cộng của xã và thôn…Nhưng thực trạng về việc tuyên truyền này đem lại hiệu quả
không mấy khả quan, vì đa số tâm lý của con người sẽ đặt lợi ích kinh tế của cá nhân lên
hang đầu, họ chỉ quan tâm đến lợi ích trước mắt mà quên đi cái bền vững sau này.
Chính vì thế nều chỉ tuyên truyền, hay sử dụng những công cụ pháp luật không
thôi thì chưa đủ sức thuyết phục để người dân sẵn sang từ bỏ lợi ích cá nhân của mình để
bảo vệ quyền lợi chung và cụ thể ở đây là bảo về nguồn lợi thuỷ sản ở đầm phá, vì người
dân ở nơi đây cái bụng chưa no thì làm sao họ có thể nghĩ đến chuyện gì ngoài chuyện
làm sao để được những người than của họ, bản than họ được ăn no, mặc ấm. vậy sẽ phải
như thế nào để có thể bảo vệ được nguồn lợi thuỷ sản ở đầm phá Tam Giang, một hệ đầm
phá lớn bậc nhất Đông Nam Á đang dần bị suy kiệt. Và mô hình dưới đây sẽ giải quyết
phần nào những khó khăn đó.
IV. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐỒNG QUẢN LÝ NGUỒN LỢI THUỶ SẢN Ở ĐẦM
PHÁ TAM GIANG.
1. Giới thiệu
Phá Tam Giang là hệ đầm phá lớn nhất Đông Nam Á và có nguồn tài nguyên thuỷ
sản vô cùng phong phú và đa dạng, trước đây thì các loại thuỷ sản như tôm, cua, cá,
mực…rất nhiều và người dân ở quanh vùng sinh sống chủ yếu dự vào khai thác thuỷ sản.
ngư dân chỉ dùng một số ngư cụ đơn giản để khai thác thuỷ sản, nhưng những năm gần
đây nguồn lợi thuỷ sản bị suy giảm ngiêm trọng thì khi đó những ngư dân đã sử dụng một
số ngư cụ nguy hiểm hơn như là bom, mìn…điều này làm suy kiệt nguồn tài nguyên thuỷ
sản và đồng thời làm ô nhiễm môi trường một cách trầm trọng. pháp luật cũng đã vào
cuộc nhưng không đạt hiệu quả cao. Và năm 2003 thì IDRC giới thiệu phương pháp
nghiên cứu thực hiện mô hình mới về đồng quản lý nguồn lợi thuỷ sản ở Quảng Thái
(Tuyển,2007). Điều này mở ra một hướng không chỉ giúp giải quyết xung đột và đảm bảo
Phân tích chính sách môi trường Page 8
tiếp cận tài nguyên công bằng hơn mà còn cải thiện cách nhìn nhận để quản lý nguồn tài
nguyên đầm phá tốt hơn trong tương lai.
Đồng quản lý là một thuật ngữ chung trong đó quản lý có sự tham gia của người
phát từ vấn đề này. Mặc dù năng lực sản xuất nói chung của đầm phá cho đếm nay tiếp
tục tăng nhưng hiện đã có các bằng chứng rõ ràng chứng minh rằng giới hạn phát triễn đã
và đang đến ngưỡng.
Việc nhanh chóng giảm “khu vực mở” ở đầm phá không chỉ hạn chế cơ hội đánh
bắt mà còn cản trở giao thông đi lại và lưu thông nước cần để duy trì một môi trường hữu
ích cho nguồn lợi thuỷ sản. Các cơ quan nhà nước ngày càng ý thức về nhu cầu duy trì
môi trường cho các hoạt động kinh tếvới 300.000 sống phụ thuộc. Những ý kiến đề xuất
của họ (ví dụ duy trì đường thuỷ mở, hạn chế sáo khoanh ở các khu vực mở còn lại) ảnh
Phân tích chính sách môi trường Page 9
hưỏng đến các gia đình nhiều nhất, những người ít có lợi từ sự phát triển kinh tế gần đây
ở đầm phá.
Ứng phó với việc khai thác quá mức và sự xuống cấp của nguồn tài nguyên thiên
nhiên phong phú ở đầm phá Tam Giang và các khu vực ven biển khác ở Việt Nam, thì
năm 2003 tổ chức IDR thực hiện thí điểm một mô hình mới về lập kế hoạch có sự tham
gia và đồng quản lý nguồn lợi ở Quảng Thái.
Sau một năm là năm 2004 kế hoạch đồng quản lý đã được nhân rộng thành công ở
đầm phá Quảng Lợi nơi có bối cảnh tương tự Quảng Thái.
Cùng thời gian này, 2004-2005, lập kế hoạch vềmđồng quản lý cũng được tiến
hành và phát triển ở Sam Chuồn, đầm nằm ở giữa hệ thống đầm phá rộng lớn bao gồm
bốn xã bao quanh.
Và kết quả nghiên cứu và xây dựng năng lực về Quản lý Tài nguyên Thiên nhiên
Dựa vào cộng đồng /hoặc đồng quản lý đã được ủng hộ thành công về mặt pháp lý với
một quy định mới của tỉnh về quản lý khai thác ban hành tháng 12 năm 2005 (theo quyết
định số 4260/2005/QD-UBND). Quy định này công nhận Quản lý Dựa vào cộng đồng là
chiến lược quản lý chính thức nguồn tài nguyên thuỷ sản đầm phá và công nhận các chi
hội Nghề cá mới thành lập là các đối tác cộng đồng phù hợp về mặt pháp lý trong đồng
quản lý.
Các sáng kiến và bài học về Quản lý Tài nguyên ven bờ dựa vào cộng đồng/hoặc
đồng quản lý ở đầm phá Tam Giang là những đóng góp quan trọng trong nghiên cứu và
áp dựng phương pháp có sự tham gia trong quản lý nguồn lợi ven bờ ở các vùng khác ở
sinh ví dụ như nuôi tôm, đánh bắt tự nhiên được xếp ngay sau hoạt động nông nghiệp.
Tuy nhiên, ở cấp thôn ở những nơi đánh bắt truyền thống, vấn đề này được xếp ở mức
mưu tiên số một và hai. Ở tất cả các xã đều thống nhất về nguyên tắc hỗ trợ cộng đồng
trong việc tham giai giải quyết những vấn đề quản lý đầm phá quan trọng nhất bao gồm
lập kế hoạch, bệnh tôm, tổ chức lại nò sáo và đánh bắt huỷ diệt. Phát triên đồng quản lý
bao gồm thành lập CHNC nhìn chung là khả thi ở 11 xã. Tuy nhiên, nhóm đã ưu tiên lựa
chọn sáu xã làm điểm của IMOLA để hỗ trợ thành lập CHNC và xây dựng mô hình đồng
quản lý. Sáu xã được lựa chọn làm điểm của IMOLA về đồng quản lý bao gồm Vinh
Hiền, Lộc Bình, Lộc Điền, Lộc Trì, Quảng Công và Hải Dương.
Dự án đã thực hiện một số hoạt động như: Tạo điều kiện học tập và nâng cao năng
lực cho các cán bộ cơ sở và cán bộ CHNC cơ sở; Nâng cao nhận thức về thực trạng đầm
phá và quản lý dựa vào cộng đồng; Phát triển tập huấn về Chi hội nghề cá và xây dựng
Đồng Quản lý. Năm phần tập huấn bao gồm (1) thành lập và phát triển chi hội nghề cá,
(2) lập kế hoạch và học tập có sự tham gia của cộng đồng trong quản lý đầm phá, (3) kế
hoạch phát triển và kế hoạch nghề cá, (4) Xây dựng chương trình tín dụng và tiết kiệm,
và (5) Đồng quản lý tài nguyên đầm phá.
Và trên thực tế hiện tại dự án IMOLA đang hỗ trợ 22 Chi hội Nghề cá ở 8 xã, bao
gồm xã Quảng Công, Hải Dương, Hương Phong, Vinh Hiền, Lộc Bình, Lộc Điền, Lộc
Trì và Thị trấn Phú Lộc.
Tính đến tháng 6 năm 2011 tỉnh Thừa Thiên - Huế đã thành lập được 57 chi hội
nghề cá với 4.500 hội viên. Hoạt động của các chi hội bước đầu đã góp phần quan trọng
trong việc quản lý chặt chẽ nghề cá với mục tiêu là phát triển bền vững để bảo vệ tài
nguyên nguồn lợi thủy sản trên đầm phá Tam Giang - Cầu Hai.
Sau một thời gian hoạt động thì Các chi hội nghề cá cũng đã mang lại một số kết
quả như, kịp thời ngăn chặn, bắt giữ bàn giao cho chính quyền địa phương xử lý 45
trường hợp khai thác thủy sản trái phép. Đây là kết quả đáng khích lệ để khuyến khích
cộng đồng nghề cá tham gia giám sát các hoạt động đánh bắt và bảo vệ nguồn lợi thuỷ
sản. Nhờ những động thái tích cực của tỉnh trong quản lý môi trường và nguồn lợi thủy
sản nên trong các năm trở lại đây số lượng tôm, cá ở đầm phá Tam Giang – Cầu Hai ngày
càng tăng. Đơn cử, trong vụ cá Nam vừa qua, ở vùng Tam Giang, đầm Thuỷ Tú, đầm
sở (khoảng một nửa trong tổng số CHNC của cả tỉnh) ở 8 xã và Tỉnh hội Nghề cá
hướng đến đồng quản lý Đầm phá, dự án đã góp phần tạo điều kiện cho quá trình chuyển
đổi quan trọng trong lĩnh vực quản lý đâm phá từ cơ chế tiếp cận mở sang đồng quản lý
thuỷ sản theo vùng.
Bên cạnh đó cũng có IDRC đã hỗ trợ một dự án Quản lý Tài nguyên ven bờ dựa
vào cộng đồng tại Miền trung Việt Nam nhằm hỗ trợ xây dựng các hình thức Tổ chức
Dựa vào cộng đồng khác nhau, làm phương tiện để nâng cao nhận thức, xúc tiến sự tham
gia của địa phưuơng và tạo thuận lợi cho việc học hỏi và hành động nhằm quản lý nguồn
tài nguyên đầm phá.
Trong bối cảnh Đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, đồng quản lý được xem như bản
đồ hướng đến quyết định và thực hiện quá trình quản lý cùng với sự thống nhất và hợp
tác tích cực của các bên liên quan. Việc thiết lập mô hình quản lý là việc chuẩn bị cho
Phân tích chính sách môi trường Page 12
việc tổ chức hợp tác, điều phối giữa chính quyền địa phương, và các bên liên quan. Việc
áp dụng này làm tăng hiệu quả quản lý bằng việc huy động sự tham gia của cộng đồng và
người dân. Ngoài ra, chính quyền có thể chia sẻ vai trò quản lý của mình với cộng đồng.
Những yêu cầu của đồng quản lý đó là sự công nhận và tin tưởng vào vai trò của và khả
năng của cộng đồng trong quản lý.
Việc phát triển quản lý dựa vào cộng đồng hoặc Đồng Quản lý ở đầm phá Tam
Giang - Cầu Hai được báo động là khai thác quá mức và làm suy thoái nguồn tài nguyên
thiên nhiên phong phú. Việc IDRC giới thiệu phương pháp nghiên cứu có sự tham gia do
dự án hỗ trợ đã giúp thực hiện mô hình mới về lập kế hoạch có sự tham gia và đồng quản
lý nguồn lợi ở Quảng Thái năm 2003. Điều này không chỉ giúp giải quyết xung đột và
đảm bảo tiếp cận tài nguyên công bằng hơn mà còn cải thiện cách nhìn nhận để quản lý
nguồn tài nguyên đầm phá tốt hơn trong tương lai. Nghiên cứu tiếp theo là nhằm xác định
các quá trình và phương tiện nhằm nâng cao quy mô áp dụng lập kế hoạch có sự tham gia
liên quan đến hệ sinh thái và sự tham gia rộng rãi của cộng đồng. Những sáng kiến và bài
học về Quản lý Dựa vào Cộng đồng và/hoặc Đồng quản lý ở đầm phá Tam giang Cầu
Hai đã đưa ra những đóng góp quan trọng cho công tác nghiên cứu và áp dụng phương
pháp có sự tham gia trong quản lý nguồn lợi ven bờ ở các khu vực khác ở Miền Trung
lực giúp xác định quyền sử dụng đánh bắt và một nhân tố thay đổi bên ngoài để bắt đầu
quá trình đồng quản lý. Ở cấp độ cộng đồng, ranh giới, hội viên nhóm sử dụng, quyền sở
hữu, và các mục tiêu, tất cả đều cần xác định rõ ràng, trong khi sự lãnh đạo địa phương,
hỗ trợ của chính quyền, sự tham gia của cộng đồng và nguồn lực tài chính bền vững được
xem là cấn thiết cho sự thành công. Nói tóm lại, ở cấp độ cá nhân, những người tham gia
cần có động lực để xem xét chi phí so với lợi nhuận.
Đồng quản lý nhấn mạnh đến việc ra quyết định và hành động trên cơ sở cộng
đồng và điều này mất thời gian và sẽ phải đi từng bước một. Một kế hoạch vội vàng có
thể dẫn đến việc đưa ra các quyết định ít thông tin và áp dụng không thực tế.
Nhóm nghiên cứu đã gặp khó khăn trong việc xác định quá trình và phương tiên
khi nhân rộng phương pháp lập kế hoạch có sự tham gia như một phần trong việc ứng
dụng Quản lý Tài nguyên ven bờ dựa vào cộng đông. Việc nhân rộng được tiến hành từ
một cộng đồng đơn giản bao gồm quản lý hệ sinh thái xã hội lớn hơn với sự tham gia của
nhiều cộng đồng. Việc thực thi này chỉ đơn giản dựa trên hướng dẫn của huyện mà không
có bằng chứng chắc chắn nào hoặc một cơ sở pháp lý ví dụ như phân vùng rõ ràng có một
cơ quan có thẩm quyền thông qua. Ví dụ: bối cảnh sinh thái xã hội ở Sam Chuồn rất phức
tạp với rất nhiều nghề khai thác khác nhau và xung đột ví dụ như giữa xã và người sử
dụng tài nguyên. Ở khu vực này, việc lập kế hoạch có sự tham gia đã được phát triển
thêm với các hoạt động học hỏi thích ứng khác nhau.
Năng lực của cán bộ thực hiện dự án còn nhiều hạn chế, đặc biệt là cán bộ địa
phương. Do đó việc truyền tải thông tin đến các hộ dân chưa được rõ rang và còn nhiều
bất cập
VI. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
Như trên đã phân tích thì việc thực hiện đồng quản lý nguồn lợi thuỷ sản ở Đầm
phá Tam Giang có trất nhiều thuận lợi và đem lại hiệu quả khá cao, tuy nhiên bên cạnh
đó thì cũng gặp không ít khó khăn. Vậy để công tác đồng quản lý ở Đầm phá được hoàn
thiện và đem lại những kết quả tốt hơn thì nhóm chúng tôi giới thiệu một số giải pháp với
hy vọng công tác đồng quản lý có thể trở thành một công cụ quản lý được áp dụng phổ
biến không những ở Đầm phá mà còn trên toàn quốc.
a) Nhóm giải pháp kỹ thuật - nghiệp vụ:
vùc.
- Khuyến khích tập trung hoá ngư trường và sử dụng tập thể; chống chia nhỏ, manh mún
vùng sản xuất đầm phá
- Miễn thuế và hỗ trợ quản lý, chuyển đổi sinh kế ban đầu cho các cá nhân, tổ chức thực
hiện sắp xếp theo quy hoạch.
- Thành lập, khuyến khích các Hội nghề cá cơ sở hoạt động; nâng cao năng lực cho đội
ngũ quản lý nhà nước ở khu vực Đầm Phá, thực hiện việc thu phí ô nhiễm môi trường.
d) Quy hoạch sản xuất thuỷ sản đầm phá nói chung:
- Hợp lý hoá sản xuất và chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp, sinh kế:
+ Hạn chế tối đa nuôi tôm ao đất cả cao triều và hạ triều; áp dụng kỹ thuật nuôi tôm thân
thiện với môi trường cho toàn bộ khu vực.
+ Đa dạng hoá đối tượng nuôi trồng thuỷ sản, đặc biệt có chính sách khuyến khích nuôi
trồng rong câu trên mọi loại hình sản xuất như nghề nuôi sinh thái.
+ Nuôi chắn sáo chuyển đổi thành nuôi sinh thái theo hai loại hình: quy mô lớn theo kiểu
của tổ chức cộng đồng hay công ty, quy mô nhỏ theo kiểu hộ gia đình với không gian
tách biệt.
+ Chuyển đổi mở rộng vùng khai thác mở cộng đồng trên cơ sở quản lý tốt, khuyến khích
sinh kế bền vững.
- Tăng cường quản lý:
+ Quản lý chặt chẽ kế hoạch sản xuất của các đơn vị và hộ gia đình trên toàn bộ thuỷ vực;
chống triệt để nạn khai thác bằng các loại nghề huỷ diệt nguồn lợi thuỷ sản.
Phân tích chính sách môi trường Page 15
+ Tăng cường năng lực quản lý nói chung, quản lý thuỷ sản dựa vào cộng đồng nói riêng;
khuyến khích các Hội nghề cá cơ sở hoạt động tích cực, góp phần cùng Nhà nước quản lý
thuỷ sản.
+ Giảm thiểu, hạn chế, khắc phục ô nhiễm môi trường; thực hiện thu phí theo quy định
đối với loại hình sản xuất gây ô nhiễm, trước mắt là nuôi tôm.
- Cải tạo hệ sinh thái:
+ Bảo vệ bãi cỏ biển và bãi giống, bãi đẻ tự nhiên; tăng cường các vùng cư trú nhân tạo
cho thuỷ sản sinh sản và phát triển.
IDRC là tổ chức do Quốc hội Canada thành lập nhằm mục đích giúp đỡ những
người làm công tác nghiên cứu và các cộng đồng thuộc khối các nước đang phát triển tìm
kiếm những giải pháp thích hợp để gải quyết các vấn đề về kinh tế, xã hội và môi trường
ở những nước này.
IMOLA là dự án quỹ uỷ thác cho Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp
Quốc (FAO), do chính phủ Ý và chính phủ Việt Nam đồng tài trợ triển khai hoạt động từ
tháng 8/2005. Mục tiêu của dự án là hỗ trợ tỉnh Thừa Thiên Huế phát triển sinh kế của
ngư dân địa phương thông qua quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên tại đầm phá Tam
Giang - Cầu Hai, hệ đầm phá lớn nhất Đông Nam Á.
Phân tích chính sách môi trường Page 17