Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
-
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS.
THÁI NGUYÊN - 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu của tôi. Các số liệu,
kết quả nghiên cứu trong luận án này là hoàn toàn trung thực và chưa từng
được ai công bố, sử dụng để bảo vệ một học vị nào. Các thông tin, tài liệu trích
dẫn trong luận án này đã được ghi rõ nguồn gốc.
4 năm 2014
Tác giả Phạm Thị Tuyết Mai
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ii
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ vi
MỞ ĐẦU 1
1. Đặt vấn đề 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Đặc tính cỏ hòa thảo 3
1.1.1. Đặc tính sinh thái 3
1.1.2. Đặc tính sinh vật học 4
1.1.3. Đặc tính sinh lý 5
1.1.4. Đặc tính sinh trưởng 6
1.1.5. Sức sống cỏ hòa thảo 11
1.1.6. Sản lượng chất xanh 12
1.1.7. Giá trị kinh tế của cỏ hòa thảo 13
1.2. Lý do phải trồng cây thức ăn cho chăn nuôi trong hệ thống nông
nghiệp bền vững ở nông hộ 14
1.3. Đặc điểm giống cỏ làm thí nghiệm - cỏ voi (Pennisetum purpureum) 15
1.3.1. Nguồn gốc 15
1.3.2. Đặc điểm sinh vật học 15
1.3.3. Đặc tính sinh thái học 15
1.3.4. Tính năng sản xuất 16
1.3.5. Sử dụng 17
1.4. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 18
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4.1.2. Đặc điểm đất đai 41
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên v
4.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của nước đến khả năng sinh trưởng, tái sinh
của cỏ voi 44
4.2.1. Tốc độ sinh trưởng của giống cỏ nghiên cứu 45
4.2.2. Khả năng đẻ nhánh của giống cỏ nghiên cứu 46
4.2.3. Tốc độ tái sinh của giống cỏ nghiên cứu 47
4.2.4. Chiều cao thảm cỏ ở các lứa cắt 48
4.2.5. Theo dõi số cây chết trên 2 ô 49
4.3. Năng suất giống cỏ nghiên cứu 50
4.3.1. Năng suất và cấu trúc năng suất phần trên mặt đất 50
4.3.1.1. Năng suất chất xanh 50
4.3.1.2. Năng suất vật chất khô 52
4.3.1.3. Cấu trúc năng suất phần trên mặt đất của giống cỏ nghiên cứu 54
4.3.2. Năng suất phần dưới mặt đất 57
60
64
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 66
1. Kết luận 66
2. Kiến nghị 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
PHỤ LỤC Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Bảng 4.1. Điều kiện khí hậu vùng nghiên cứu trong thời gian thí nghiệm 40
Bảng 4.2. Thành phần hóa học của đất thí nghiệm 42
Bảng 4.3. Lượng nước trong 100g đất tát ngập nước và đất ô TN 43
Bảng 4.4. Tốc độ sinh trưởng của cỏ theo giai đoạn (cm/ngày đêm) 46
Bảng 4.5. ) 47
Bảng 4.6. Khả năng tái sinh của cỏ sau 1 lứa cắt (cm/ngày đêm) 48
Bảng 4.7. Chiều cao thảm cỏ của các lứa cắt (cm) 48
Bảng 4.8. Năng suất chất xanh của cỏ voi (kg/m
2
/lứa) 50
Bảng 4.9. Năng suất VCK của cỏ nghiên cứu (kg/m
2
) 52
Bảng 4.10. Tỷ lệ % năng suất vật chất khô/ năng suất chất xanh của
cỏ voi 54
Bảng 4.11. Tỷ lệ thân lá của cỏ voi qua các lứa cắt 55
Bảng 4.12. Diện tích bề mặt lá của cỏ voi (m
2
/m
2
đất/lứa) 56
Bảng 4.13. Năng suất phần dưới mặt đất của cỏ voi 57
(kg/m
2
) 60
4.15. D 63 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
phát huy khả năng của các giống gia súc nhập nội được lai tạo với tính năng
sản xuất cao, ta cần có giải pháp tích cực để giải quyết vấn đề thức ăn trong
chăn nuôi.
Trong những năm gần đây, với các chương trình phát triển khoa học kĩ
thuật và hợp tác chăn nuôi với các tổ chức quốc tế, nước ta đã nhập hàng trăm
cây thức ăn hòa thảo và họ đậu có nguồn gốc nhiệt đới từ các chương trình
CSIO, CIAT từ các nước như Philipin, Inđônêxia, Thái Lan. Một số giống cỏ
nhập nội đã được đánh giá ban đầu là đạt kết quả tốt. Một trong số đó phải kể
đến là giống cỏ voi.
Thái Nguyên là vùng trung du miền núi trong mấy năm gần đây nông
dân ở khắp các huyện thị đã tiến hành trồng cỏ voi để chăn nuôi gia súc. Trong
đó có một số cơ sở lớn như trung tâm nghiên cứu và phát triển chăn nuôi miền
núi - Viện chăn nuôi, nơi đã và đang cung cấp không những cỏ voi mà còn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 2
nhiều giống cỏ trồng cho nông dân trong và ngoài tỉnh.
Để tạo ra các đồng cỏ có năng suất cao, chất lượng cao cần có biện pháp
chăm sóc hợp lý như là bón phân, tưới nước. Để cỏ sinh trưởng và phát triển tốt
nhất thì cần đảm bảo đất phải có độ ẩm hợp lý. Theo Andreef, với đồng cỏ độ
ẩm hợp lý của môi trường đất là 70 - 80% của độ ẩm bão hòa. Cỏ voi là loài cỏ
nhiều năm, nhưng do khai thác và môi trường sống khắc nghiệt nên trong quá
trình khai thác cỏ chết nhiểu ngay từ những năm đầu vì thế năng suất giảm
mạnh nên hiện nay cỏ trồng tại trại ngựa Bá Vân chỉ khai thác khoảng 4 năm
rồi cũng phải trồng lại. Với ý đồ kéo dài khả năng sản suất của chúng, chúng tôi
ngoài tiến hành bón phân định kỳ như đã làm thì còn cung cấp đủ độ ẩm cho cỏ
và theo dõi sự sinh trưởng, phát triển của cỏ năm cuối ngoài chu kỳ khai thác.
Xuất phát từ cơ sở trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh
Cỏ hòa thảo có khả năng phân bố rộng rãi, có thể thích ứng được ở nhiều
vùng và trong những điều kiện đất đai khác nhau.
Cỏ hòa thảo có thể sinh trưởng được ở vùng đất khô, mùa khô kéo dài,
độ ảm trung bình 20 - 30%, mùa đông nhiệt độ thấp nhưng chúng vẫn có thể
sinh trưởng và phát triển được như cỏ xương cá, cỏ lông đồi, cỏ Andropogon,
cỏ Braciaria decumbens,…
Có loài sinh trưởng ở vùng ẩm thấp, độ ẩm từ 60-80%, có loài lại có khả
năng sinh trưởng được ở những nơi đất lầy thụt ngập nước như cỏ môi, cỏ bấc,
cỏ lông para…[14]. Một số loài lại sống được ở nơi đất chua, số khác sống ở
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 4
nơi đất mặn.
Như vậy có thể nói thực vật trong đồng cỏ tồn tại trong những điều kiện
khác nhau của các yếu tố sinh thái cơ bản trong vùng và khác nhau ở cả hai
phần trên và dưới mặt đất (ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm, muối khoáng, CO
2
…) nó
biểu thị rõ rệt theo chiều thẳng đứng và chiều nằm ngang.
1.1.2. Đặc tính sinh vật học
Cỏ hòa thảo là cây một lá mầm (đơn tử diệp) thân tròn hoặc bầu dục (tùy
theo giống) lá mọc thành hai dãy, phần lớn không có cuống nhưng bẹ to, có
thìa lìa, phiến lá dài, gân song song, thân cỏ thuộc loại thân rạ, rỗng(trừ mấu
đốt). Cũng có loài thân đặc như cỏ voi, rễ thuộc loại rễ chùm, hoa phần lớn là
lưỡng tính thích ứng với lối thụ phấn nhờ gió.(Võ Văn Chi và Dương Đức
Tiến, 1976) [2]
Căn cứ vào hình dáng của thân và đặc điểm sinh trưởng, người ta chia cỏ
thảo thành các loại sau:
3
nước, trong 5 tháng sẽ có 50 tạ cỏ khô. Trên
cơ sở đó chúng tôi xác định công thức tưới nước vào mùa đông.
Như vậy, chế độ nước của các sinh địa quần lạc cỏ trong một vùng khí
hậu xác định phụ thuộc địa thế của đồng cỏ và thành phần cơ giới của đất như
đất bằng, đất trũng, đất dốc, đất thấp hay bãi bồi…
Độ ẩm của đất cũng yêu cầu theo từng giai đoạn trong đời sống của cây:
Từ nảy mầm đến lúc chia nhánh: 25 - 30%
Giai đoạn phát triển cành: 75%
Cuối thời kỳ sinh trưởng nhu cầu nước giảm dần
(Trịnh Văn Thịnh và cộng sự, 1974)[23]
* Nhu cầu về dinh dưỡng
Cỏ hòa thảo đòi hỏi đất tốt, giàu mùn và đạm, lân, kaly. Nhu cầu về dinh
dưỡng cũng chia theo từng giai đoạn.
Giai đoạn 1 (nẩy mầm - phân nhánh) cần nhiều đạm, lân, kaly.
Giai đoạn 2 (phân nhánh) cần nhiều đạm, lân.
Giai đoạn 3 (ra hoa hình thành hạt) cần nhiều lân và kaly.
Cỏ càng cho năng suất cao thì yêu cầu lượng phân bón càng lớn.
(Nguyễn Đăng Khôi, Dương Hữu Thời, 1981)[14]
Trong đồng cỏ người ta thấy có sự quan hệ rõ rết giữa việc bón phân đạm
và số chồi có hoa. Trong điều kiện có bón đạm vào mùa xuân số chồi sinh sản
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 6
tăng lên. Bón phân tưới nước cũng làm tăng số chồi của cây cỏ loại nhiều chồi.
Quan hệ với phân cũng vậy, cỏ Pleum pratens không có phân bón thì có
605 chồi trên đơn vị diện tích, có 19% số chồi có hoa, nếu bón phân NPK có
790 chồi trong đó có 35% chồi có hoa (Rabốtnốp. T.A, 1984)[48].
Giai đoạn III (sinh trưởng chậm hoặc ngừng hẳn): Là giai đoạn từ sau khi
gieo trồng hoặc sau khi chăn thả, sau khi cắt cỏ khoảng 40 - 70 ngày (Đoàn Ẩn
và Võ Văn Trị, 1976) [1]. Cây tiếp tục phát triển, nhưng lá ngày càng trở nên
nhạt dần, lá ở phần gốc chết đi và bị phân huỷ. Lá sử dụng nhiều năng lượng để
hô hấp hơn là chúng có thể tạo ra từ quang hợp. Ở giai đoạn 3, cỏ có phần thân
chiếm đa số và nhiều xơ. Năng suất và hàm lượng các chất dinh dưỡng trong cỏ
cao, tuy nhiên, tỷ lệ cỏ được sử dụng (gia súc ăn) và khả năng tiêu hoá của gia
súc đối với lá và thân cây giai đoạn này thấp dần.
Căn cứ vào đặc điểm sinh trưởng của từng giống theo từng giai đoạn để
chúng ta định ra thời gian chăm sóc và thu cắt hợp lý.
Giai đoạn I và đầu giai đoạn II, cần chăm sóc, xới xáo, diệt cỏ dại và bón
thúc phân cho cỏ.
Cuối giai đoạn II, đầu giai đoạn III, cần nhanh chóng thu cắt hoặc chăn
thả, vì lúc này năng lượng thu được từ đồng cỏ là cao nhất. Nếu không thu
hoạch ngay, cỏ sẽ già, lá mất mầu dần, hiệu suất quang hợp kém nên giá trị
dinh dưỡng giảm dần, ảnh hưởng đến khả năng tái sinh lần sau và giảm số lứa
cắt hay số lần chăn thả trên năm. Còn nếu thu hoạch non, năng suất sẽ thấp,
đồng thời nếu thu hoạch quá nhiều lứa trên năm, thì dự trữ các chất dinh dưỡng
và khoáng ở phần gốc và rễ để phát triển cành lá sẽ bị cạn kiệt, đồng cỏ chóng
bị tàn lụi. Vì vậy, cần có thời gian nghỉ (khoảng cách cắt hoặc chăn thả) hợp lý
để duy trì nhiệm kỳ sử dụng cỏ lâu dài.
Không cho động vật gặm hay cắt cỏ quá thấp để tránh cỏ bị quay lại giai
đoạn I và tồn tại ở giai đoạn này lâu, do tái sinh rất chậm nên sẽ làm giảm tổng
sản lượng cỏ.
* Đặc tính sinh trưởng của thân và lá
Sau khi nẩy mầm, khối lượng vật chất khô (VCK) của hạt sẽ giảm dần,
do chất dự trữ ở hạt được sử dụng cho quá trình nẩy mầm. Sinh trưởng lúc này
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
C. Sự hình thành diệp lục bắt
đầu khi nhiệt độ lớn hơn 10 - 15
0
C.
Cây thức ăn gia súc sinh trưởng tốt nhất trong biên độ nhiệt độ ban ngày
hẹp từ 7,2
0
C đến 35
0
C. Nhiệt độ thích hợp cho đẻ nhánh con của cỏ nhiệt đới
thường nhỏ hơn nhiệt độ thích hợp cho nhánh sinh trưởng. Ở nhiệt độ thấp dưới
10
0
C cây cỏ nhiệt đới có hiện tượng úa vàng, sau đó chết, do diệp lục bị phá
hủy. Chính vì vậy, ở các vùng núi cao và xa xích đạo, thì giá lạnh và sương
muối là yếu tố giới hạn đối với các giống cây thức ăn có nguồn gốc từ vùng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 9
nhiệt đới (McWilliam, 1978) [49].
Hầu hết cỏ hòa thảo có nhiệt độ tối thích hợp cho sinh trưởng khoảng
20
0
C, nhưng vẫn có thể sinh trưởng ở nhiệt độ thấp hơn.
Nếu nhiệt độ tăng, tỷ lệ tiêu hóa được của cỏ và tỷ lệ cacbohydrate phi
cấu trúc giảm, nhưng thường thì tỷ lệ chất khoáng và protein tăng. Vì vậy, nhiệt
độ hay thời gian thu hoạch cỏ trong năm sẽ ảnh hưởng tới giá trị dinh dưỡng
của thức ăn.
là cây ưa sáng hơn là cây ưa bóng. Ngoài ra, ánh sáng còn là nguyên nhân chủ
yếu khiến cây ra hoa kết hạt.
Đất có hạt sét quá nhiều thì thường dí chặt, yếm khí, hoạt động của rễ
thực vật bị hạn chế. Những loại đất này thường khiến cho rễ thực vật tiết ra
nhiều độc tố. Những cây thức ăn dùng cho gia súc thường không thích hợp
trồng ở đất này (Từ Quang Hiển và CS, 2002) [12].
* Đặc tính sinh trưởng của rễ
Sinh trưởng của rễ cũng mang tính chất mùa vụ rõ rệt như các bộ phận
trên mặt đất. Phần lớn bộ rễ sinh trưởng mạnh vào mùa xuân, đạt tới mức cao
nhất trước khi bộ phận trên mặt đất đạt được tối đa và ngừng khi cây ra hoa.
Khi cây cỏ đã qua thời kỳ sinh trưởng và bước sang giai đoạn già, thì sự ra rễ
ngừng và một số rễ bắt đầu chết. Sinh trưởng của rễ cũng phụ thuộc vào nhiệt
độ, ẩm độ, ánh sáng và tuổi của rễ
Khi sinh trưởng, cỏ đòi hỏi có đầy đủ diện tích lá, để sử dụng cho quá
trình quang hợp và cung cấp dinh dưỡng cho các lá sinh trưởng tiếp theo. Toàn
bộ cacbohydrate phi cấu trúc của cỏ giảm thấp trong suốt giai đoạn hô hấp của
cây trong mùa đông, cacbohydrate dự trữ chủ yếu ở rễ và thân cây, để cung cấp
cho rễ và lá phát triển trong đầu mùa xuân. Khả năng tích tụ cacbohydrate thấp
sẽ không đáp ứng đủ cho toàn bộ nhu cầu để rễ và lá sinh trưởng. Vì vậy, cây
cần đủ diện tích lá để quang hợp và cung cấp dinh dưỡng cho cây sinh trưởng
và các quá trình trao đổi khác.
Bình thường, cây không thể cung cấp đủ dinh dưỡng cho sự phát triển
nhanh ở chồi và rễ cùng một lúc. Nếu đồng cỏ trồng bị chăn thả, thu cắt quá
nhiều lần, rễ ngừng phát triển và có thể chết. Do bị khai thác quá mức, cỏ sẽ có
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 11
ít diện tích lá để quang hợp, vì vậy, cây sẽ có ít năng lượng. Cacbohydrate
12
1.1.6. Sản lượng chất xanh
Sản lượng cỏ hòa thảo thay đổi nhiều tùy thuộc vào loài, vùng khí hậu và
kỹ thuật canh tác. Có rất nhiều kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tố
này tới năng suất cỏ hòa thảo.
Các kết quả nghiên cứu trong nước của Nguyễn Ngọc Hà và CS, (1985)
[9]; Nguyễn Ngọc Hà và cs, (1995) [10]; Khai và CS, (1995) [48] cho biết các
giống cỏ hòa thảo trồng tại các vùng ở nước ta có sản lượng biến động rất lớn,
lệ thuộc vào các yếu tố, như đất đai, chăm sóc, chế độ bón phân và độ dài của
mùa khô. Sản lượng của các giống Brachiaria spp có thể biến động từ 5 - 30
tấn vật chất khô/ha/năm.
Kết quả nghiên cứu của CIAT, (1978) [39] tại Quilichao, Colombia, thì
giống cỏ Brachiaria decumbens có thể đạt sản lượng chất khô trên 4.000
kg/ha/năm với thí nghiệm không có bón đạm, nhưng bón đủ lân và nó là một
giống cỏ tốt nhất trong điều kiện bón lân và đạm thấp.
Tại Samford, Queensland, sản lượng hàng năm của giống P. dilatatum là
15.000 kg VCK (Davies, 1970) [42]. Tại Fiji sản lượng trung bình là 5.313 kg
VCK/ha/năm với mức protein thô trong VCK là 9,9 % trong thời gian theo dõi
3 năm (Roberts, 1970) [53], tại Mỹ sản lượng cỏ này đạt từ 1.230 - 12.000 kg
vật chất khô/ha/năm (Bennett, 1973) [37] [38].
Như vậy, các giống cỏ khác nhau có sản lượng chất xanh và vật chất khô
khác nhau; Cùng một giống cỏ nhưng trồng ở các vị trí địa lý khác nhau cũng
cho năng suất khác nhau.
Khi cỏ sống ở các điều kiện khác nhau thì yếu tố khí hậu là nhân tố
thường hạn chế tới sản lượng của cỏ. Đối với các vùng lạnh và vùng khan hiếm
nước, thì yếu tố hạn chế về năng suất chính là nước. Do vậy, đã không ít những
nghiên cứu về mùa vụ và nước tưới ảnh hưởng tới sản lượng của cỏ.
Sản lượng trung bình của cỏ Nadi blue ở Sigatoka, Fiji là 22.725
kg/ha/năm (Roberts, 1970) [54]. Sản lượng vật chất khô trung bình của cỏ Nadi
cỏ, sản lượng của chúng cũng thay đổi theo mùa vụ và sản lượng trong mùa
khô là thấp hơn rõ rệt, đồng thời đòi hỏi phải tưới nước trong thời gian này thì
cỏ mới cho sản lượng cao.
1.1.7. Giá trị kinh tế của cỏ hòa thảo
Cỏ hòa thảo có giá trị kinh tế lớn không chỉ vì nó phân bố rộng, chiếm tỷ
lệ cao trong thảm cỏ mà còn cho năng suất và giá trị dinh dưỡng cao. Khi chế
biến dự trữ ít rơi rụng lá, ít bị thối, tỷ lệ có độc ít, chịu đựng chăn dắt cao. 1ha
cỏ tự nhiên cho 10 - 20 tấn chất xanh/ha/năm. 1ha cỏ trồng thân bò cho 30 - 40
tấn, thân bụi cho 50-60 tấn, thân đứng cho 80-100 tấn/ha/năm, nếu thâm canh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 14
có thể cho 160 - 260 tấn/ha/năm. 1kg cỏ tươi cho từ 0,1 - 0,2 đơn vị thức ăn
tương đương với 250 - 500KcalME.
Cỏ hòa thảo có giá trị dinh dưỡng cao. Ở những nơi đất tốt, nhiều mùn,
ẩm, loài cỏ tốt nhất có thể chứa 16g prôtit tiêu hóa và 32g Lipit trong 1kg cỏ
tươi, 8kg cỏ có thể tương đương 1 đơn vị thức ăn (Nguyễn Thiện, 2005)[21].
1.2. Lý do phải trồng cây thức ăn cho chăn nuôi trong hệ thống nông
nghiệp bền vững ở nông hộ
Đàn gia súc ở nước ta ngày càng tăng lên nhanh chóng dẫn đến nhu cầu
về thức ăn cho chăn nuôi nhất là thức ăn thô xanh sẽ ngày càng tăng lên. Mặt
khác,do đặc điểm địa lý nước ta không có đồng cỏ rộng dành cho chăn thả tự
nhiên. Trong khi đó, diện tích cỏ tự nhiên cho chăn thả, khai thác bừa bãi đã và
đang dần suy kiệt. Vấn đề cần đặt ra là nhất thiết phải tìm ra một giải pháp hiệu
quả để bù đắp lượng thức ăn thô xanh thiếu hụt, có như vậy mới tiếp tục phát
triển được số lượng cũng như chất lượng của gia súc. Xuất phát từ thực tiễn và
kết hợp với những nghiên cứu khoa học cho thấy giải pháp hiệu quả duy nhất là
phải chọn lựa và trồng những giống cỏ có năng suất và chất lượng cao trong
vĩ độ bắc - 20
0
vĩ độ nam) nhập vào Australia
năm 1914, Cuba năm 1917, Brazil năm 1920… Người ta cũng thấy cỏ voi mọc
hoang dại trong các thảm cao, Savan bụi, rừng già thuộc Trung Phi hay đầm lầy
Tây Phi. Ở Việt Nam được đưa vào Huế năm 1900 và từ đó được trồng lan rộng
khắp các vùng. Cỏ voi là một loài cỏ cổ điển thường xuyên có mặt trong tất cả
các trang trại thí nghiệm như : Trung tâm nghiên cứu bò và trồng cỏ Ba Vì, nông
trường bò sữa Đức Trọng, nông trường bò sữa Phù Đổng…
Khu vực gia đình: Đến nay hầu hết các hộ nông dân nuôi bò ở nhiều tỉnh
thành trong cả nước đã tiến hành trồng cỏ voi, đây là một giống cỏ cho năng
suất chất xanh cao nhất trong điều kiện thâm canh ở Việt Nam và đang được
coi là giống cỏ chủ lực được trồng để nuôi trâu bò.
1.3.2. Đặc điểm sinh vật học
Cỏ voi là loài cỏ sống lâu năm, thân đứng, thân lá lớn, phát triển mạnh
mẽ, thân cao có thể cao từ 3 - 4m, đường kính thân có thể đến gần 2-3cm, lá
rộng nhẵn, dài 30-120cm, rộng 1-5cm. Hoa chùm thuôn dài đầy lông cứng 1,5-
3cm màu vàng nâu. Hệ thống rễ rất phát triển, rễ mọc từ các đốt thân.
1.3.3. Đặc tính sinh thái học