nghiên cứu khả năng sử dụng bã mía làm cơ chất dinh dưỡng nuôi trồng nấm bào ngư nhật - Pdf 24

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
o0o

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SỬ DỤNG VỎ CÀ PHÊ LÀM CƠ CHẤT
DINH DƯỠNG NUÔI TRỒNG NẤM BÀO NGƯ NHẬT VÀ GÓP
PHẦN XỬ LÝ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN TRỒNG CÀ
PHÊ Ở DI LINH Chuyên ngành:Công nghệ sinh học
Mã số ngành:111

Chuyên ngành:Công nghệ sinh học
Mã số ngành:111
GVHD: GVC – Th.S Nguyễn Thị Sáu
SVTH: Lê Minh Khoa Tp. Hồ Chí Minh, tháng 7, năm 2009
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Nhiệt độ thích hợp cho ủ tơ và ra quả thể của

Hình 2.11: Xếp vỉ chứa bịch phôi đi khử trùng 34
Hình 2.12: Cấy giống cấp ba vào bịch phôi 35
Hình 2.13: Xếp bịch phôi lên kệ và ủ 35
Hình 2.14:Tưới đón nấm 36
Hình 3.1:Ống nghiệm cấy nấm bào ngư Nhật 37
Hình 3.2: Sự tăng trưởng sợi nấm của nấm bào ngư Nhật
trên môi trường thạch 38
Hình 3.3: Tơ nấm bào ngư Nhật trong môi trường hạt 40
Hình 3.4: Sự lan tơ của bào ngư Nhật trong môi trường hạt 41
Hình 3.5: Tơ nấm bào ngư Nhật trong môi trường cọng mì 43
Hình 3.6: Sự lan tơ của bào ngư Nhật trong môi trường cọng mì 44
Hình 3.7:Bịch phôi nấm bào ngư Nhật trồng trên cơ chất vỏ cà phê 46
Hình 3.8: Sự lan tơ nấm trên cơ chất vỏ chất vỏ cà phê 47
Hình 3.9:Quả thể dạng san hô 48
Hình3.10: Quả thể dạng dùi trống 49
Hình 3.11: Quả thể dạng phểu 49
Hình 3.12: Quả thể dạng phểu lệch 50
Hình 3.14: Quả thể nấm bào ngư Nhật dạng lá lục bình 50

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU…… 1

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN
1.1.Giới thiệu về nấm bào ngư 3
1.1.1. Đặc điểm sinh học 3
1.1.2.
Đặc điểm sinh trưởng 6
1.1.3. Giá trị dinh dưỡng của nấm bào ngư 8
1.1.4.

2.2.1. Khảo sát tốc độ lan, đặc điểm của tơ nấm và hình thái của
nấm bào ngư Nhật trên môi trường thạch (giống cấp một) 26
2.2.2. Khảo sát tốc độ lan và đặc điểm tơ nấm cuả nấm bào ngư
Nhật trên môi trường hạt (giống cấp hai) 28
2.2.3. Khảo sát tốc độ lan và đặc điểm tơ nấm cuả nấm bào ngư
Nhật trên môi trường cọng mì (giống cấp ba) 30
2.2.4. Quá trình nuôi trồng khảo nghiệm 31
2.2.4.1.Xây dựng quy trình nuôi trồng 31
2.2.4.2.Tính hiệu suất sinh học của nấm
bào ngư Nhật 36
2.3.5. Phương pháp thu nhận kết quả 36
2.3.6. Phương pháp xử lý số liệu 36

CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Kết quả nhân giống và nuôi trồng 37
3.1.1. Tốc độ lan và đặc điểm tơ nấm trên môi trường thạch 37
3.1.2. Tốc độ lan và đặc điểm tơ nấm trên môi trường hạt 39
3.1.3. Tốc độ lan và đặc điểm tơ nấm trên môi trường cọng mì 43
3.1.4. Kết quả nuôi trồng khảo nghiệm trên môi trường cơ chất
vỏ cà phê…… 46
3.2.Hiệu suất sinh học của nấm bào ngư Nhật trên cơ chất vỏ cà phê 51

CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
4.1.Kết luận 53
4.2.Kiến nghị… 54

Tài liệu tham khảo

LỚP:05DSH
NGÀNH: CNSH
Nội dung và yêu cầu LVTN đã được thông qua Bộ môn.
Ngày tháng năm 200
CHỦ NHIỆM BỘ MÔN NGƯỜI HƯỚNG DẪN CHÍNH
(Ký và ghi rõ họ tên) (Ký và ghi rõ họ tên) PHẦN DÀNH CHO KHOA, BỘ MÔN

Người duyệt (chấm sơ bộ):
Đơn vị:
Ngày bảo vệ:
Điểm tổng kết:
Nơi lưu trữ Đồ án tốt nghiệp:

Lời cám ơn

Để hoàn thành đề tài này ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi còn được sự hỗ trợ
rất lớn từ nhiều người, tôi chân thành gửi lời cám ơn tới:
Ban chủ nhiệm khoa Môi Trường & Công Nghệ Sinh Học, các thầy cô trong bộ
môn Công Nghệ Sinh Học, Đại học Kỹ Thuật Công Nghệ TpHCM đã trang bị cho tôi
những kiến thức cơ bản, làm nền móng để tôi thực hiện đề tài và làm tốt công việc sau
này.
Th.S Nguyễn Thị Sáu, cô đã tận tình hướng dẫn và cung cấp cho tôi những tư
liệu quý giá.
Ông Phan Văn Yết, giám đốc trang trại nấm Bảy Yết cùng anh chị em nhân

cứu ứng dụng nhiệt năng thì ở nước ta, rất ít công trình nghiên cứu đến việc ứng
dụng của phế phẩm này.
Người nông dân nước ta thường đem đốt vỏ cà phê thành tro gây ô nhiễm môi
trường. Vậy để khắc phục được điều này, biện pháp kinh tế và an tòan hơn cả là tận
dụng vỏ cà phê làm môi trường nuôi trồng nấm sẽ góp phần quan trọng trong việc xử
lý vỏ cà phê và góp phần bảo vệ môi trường. Do đó chúng tôi thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu khả năng sử dụng vỏ cà phê làm cơ chất dinh dưỡng nuôi trồng nấm
bào ngư Nhật và góp phần xử lý ô nhiễm môi trường trên địa bàn trồng cà phê ở Di
Linh” nhằm mục đích:

2

-Chuyển hóa vỏ cà phê thành cơ chất dinh dưỡng để nuôi trồng nấm bào ngư Nhật.
-Đưa ra kỹ thuật trồng nấm bào ngư Nhật phù hợp với thực tế tình hình nguyên liệu
vỏ cà phê ở Di Linh.
-Góp phần giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường do vỏ cà phê.
Đối tượng nghiên cứu là loài nấm bào ngư Nhật Pleurotus abalonus thuộc phân chi
Coremiopleurotus đã được thuần khiết và lưu trữ tại phòng thí nghiệm của trang trại
nấm Bảy Yết và cơ chất trồng nấm bào ngư Nhật là vỏ cà phê từ Di Linh (tỉnh Lâm
Đồng).
Việc xây dựng quy trình nuôi trồng được thực hiện ở trang trại nấm Bảy Yết (2/73A
ấp Tân Lập, xã Tân Thới Nhì, huyện Hóc Môn, TpHCM). Hình 1.2: Chu kỳ sinh trưởng của nấm bào ngư Nhật
Nấm bào ngư Nhật có đặc điểm là tai nấm có dạng phễu lệch, phiến nấm
mang bào tử kéo dài xuống đến chân, cuống nấm gần gốc có lớp lông nhỏ mịn. Tai
nấm bào ngư khi còn non có màu sậm hoặc tối, nhưng khi trưởng thành màu trở nên
sáng hơn.
Chu trình sống bắt đầu từ đảm bào tử hữu tính nẩy mầm cho hệ sợi tơ dinh
dưỡng sơ cấp và thứ cấp, kết thúc bằng việc hình thành cơ quan sinh sản là tai nấm.
Tai nấm lại sinh đảm bào tử và chu trình sống lại tiếp tục.

Hình 1.3: Các giai đoạn phát triển của nấm bào ngư Nhật
(a) Dạng san hô; (b) Dạng dùi trống; (c) Dạng phễu; (d) Dạng phễu lệch
(e) Dạng lá lục bình.

5

Quả thể nấm phát triển qua nhiều giai đoạn, dựa theo hình dạng tai nấm mà có tên
gọi cho từng giai đọan:
-Dạng san hô: quả thể mới tạo thành, dạng sợi mãnh hình chùm.
-Dạng dùi trống: mũ xuất hiện dưới dạng khối tròn, còn cuống phát triển cả về chiều
ngang và chiều dài nên đường kính cuống và mũ nấm không khác nhau bao nhiêu.
-Dạng phễu: mũ mở rộng, trong không khí cuống còn ở giữa (giống cái phễu).
-Dạng bán cầu lệch: cuống lớn nhanh một bên và bắt đầu lệch so với vị trí trung tâm
của mũ.
-Dạng lá lục bình: cuống ngừng tăng trường, trong khi mũ vẫn tiếp tục phát triển, bìa
mép thẳng đến dợn sóng.
Từ giai đoạn phễu sang phễu lệch sang bán cầu lệch có sự thay đổi về chất
(giá trị dinh dưỡng tăng), còn từ giai đoạn phễu lệch sang dạng lá có sự nhảy vọt về
khối lượng (trọng lượng tăng), sau đó giảm dần. Vì vậy thu hái nấm bào ngư nên

0
C,
thậm chí 35
0
C như loài P.tuber-regium. Nhiệt độ thích hợp để nấm ra quả thể ở một
số loài cần từ 15
0
C – 25
0
C, số loài khác cần từ 25
0
C – 32
0
C [Lê Duy Thắng, 1999].
Bảng 1.1: Nhiệt độ thích hợp cho ủ tơ và ra quả thể của vài loài nấm bào ngư
Loài nấm bào ngư Nhiệt độ thích hợp
cho tăng tơ
Nhiệt độ thích hợp
ra nấm
Nhiệt độ thích hợp
sản xuất
P.ostreatus
P.florida
P.sajor-caju
P.cortinatus
P.cystidionsus
P.flabellatus
P.eryngii
P.tuber-regium
P.abolonus

C
15
0
C
20
0
C
25
0
C
28
0
C
25 – 28
0
C
20 – 25
0
C
20 – 22
0
C
28 – 30
0
C
25
0
C
15 – 25
0

C
25
0
C ± 5
0
C

30
0
C ± 5
0
C
20
0
C ± 5
0
C 7

Độ ẩm: độ ẩm rất quan trọng đối với sự phát triển tơ và quả thể của nấm.
Trong giai đoạn tăng trưởng tơ, độ ẩm nguyên liệu yêu cầu từ 50 - 60%, còn độ ẩm
không khí không được nhỏ hơn 70%. Ở giai đoạn tưới đón nấm ra quả thể, độ ẩm
không khí tốt nhất là 70 – 95%. Ở độ ẩm không khí 50%, nấm ngừng phát triển và
chết, nếu nấm ở dạng phễu lệch và dạng lá thì sẽ bị khô mặt và cháy vàng bìa mũ
nấm. Nhưng nếu độ ẩm cao trên 95%, tai nấm dễ bị nhũn và rũ xuống.
Bảng 1.2: Độ ẩm thích hợp cho sự phát triển của nấm bào ngư
Độ ẩm tương đối (%) của không khí
Loài nấm

hẹp.
Đặc biệt quá trình nẩy nầm của bào tử và tăng trưởng của tơ nấm bào ngư
Nhật có liên quan đến nồng độ CO
2
cao (22%), nhưng khi cần ra nấm thì nồng độ
CO
2
phải giảm và lượng oxy tăng lên. Nếu không mũ nấm sẽ bị hẹp lại trong khi

8

chân nấm dài ra, dẫn đến tai nấm bị dị dạng. Vì vậy nhà trồng cần có độ thông
thoáng vừa phải, nhưng phải tránh gió lùa trực tiếp [Lê Duy Thắng, 1999].
1.1.3. Giá trị dinh dưỡng của nấm bào ngư Nhật
Nấm bào ngư Nhật có mùi thơm của quả hạnh, vị ngọt và giòn của bào ngư.
Dinh dưỡng nấm bào ngư Nhật rất cao không kém hơn dinh dưỡng các sản phẩm từ
động vật. Kết quả phân tích cho thấy nấm bào ngư Nhật hàm lượng protein chiếm
khoảng 25%, đặc biệt có chứa hơn 18 loại axit amin, ngoài ra còn có carbohydrate,
nhiều vitamin và các khoáng chất khác. Sử dụng nấm không những không tăng cân
mà còn ngăn ngừa một số bệnh như: giảm cholesterol trong máu, tiểu đường, béo
phì, đau bao tử, rối loạn gan, ung thư, v.v , đồng thời người ăn nấm thường xuyên sẽ
giúp cơ thể tăng tính miễn dịch, điều hòa huyết áp, dễ tiêu hóa và chống lão hóa.
Nấm ăn nói chung và nấm bào ngư nói riêng là loại thực phẩm có giá trị dinh
dưỡng cao. Hàm lượng protein chỉ đứng sau thịt, cá, giàu các chất khoáng và các
acid amin tan trong nước, các acid amin không thay thế như lyzin, tryptophan, các
acid amin chứa nhóm lưu huỳnh. Ngoài ra chúng còn chứa một lượng lớn các
vitamin quan trọng.
Thành phần các chất dinh dưỡng chính của một số loài nấm Bào ngư bao
gồm: carbonhydrate, protein, amino acid, chất béo, khoáng chất, hoạt chất và các
vitamin được nhiều nhà dinh dưỡng học quan tâm nghiên cứu, nhằm đánh giá vai trò

blaoensis.
Hàm lượng carbonhydrat cao nhất ở Pleurotus abalonus và thấp nhất là ở
Pleurotus blaoensis ; hơn nữa, hàm lượng chất xơ trong Pleurotus abalonus là thấp
nhất, do vậy mà về mặt cảm quan cho thấy nấm Pleurotus abalonus có mùi vị thơm
ngon nhất trong 3 loài, tiếp đến là Pleurotus cystidiosus.
Hàm lượng nước của 3 loài trên dao động trong khoảng 89 - 91.7% nghĩa là
lượng sinh khối khô chỉ vào khoảng 10% song tỷ lệ chất dinh dưỡng rất đáng kể và
cân đối, vượt hơn hẳn các loại rau quả. Do đó quan niệm trước đây coi nấm như là
một loại rau là không chính xác. Hàm lượng protein thô của nấm Bào ngư nếu như so
với các loại thịt cá lượng protein đạt xấp xỉ 40% trọng lượng khô, trị số sinh năng

10

lượng khá thấp, chỉ cung cấp năng lượng ở mức tối thiểu, đây là một trong những ưu
điểm của loài nấm ăn này, thích hợp cho người ăn kiêng.
Ở nấm bào ngư Nhật còn phát hiện được chất kháng sinh, gọi là pleurotin.
Chất này ức chế hoạt động của vi khuẩn Gram dương (Robins và cộng sự, 1947).
Bên cạnh đó, Yoshioka và cộng sự (1975) cũng tìm thấy hai polysaccharide có tính
kháng ung bướu. Cả hai đều có nguồn gốc là glucose. Trong đó chất được biết nhiều
nhất, bao gồm 69% β (1-3) glucan, 13% galactose, 6% mannose, 13% uronic acid
[Lê Duy Thắng, 1999].

Hình 1.4: Công thức hóa học của pleurotin
1.1.4.Một số điểm lưu ý khi trồng nấm bào ngư Nhật
Nấm bào ngư rất nhạy cảm với môi trường. Khi nấm ở dạng san hô, nếu nhiệt
độ lên trên 32
0
C trong 1 một giờ, nụ nấm bị khô quéo lại như cỏ úa (hình 1.5). Cũng
như trong giai đoạn này, nếu độ ẩm tăng lên trên 90% nhiều giờ thì nấm non sẽ bị
thối nhũng.

phải nhỏ. Nhà trồng vì vậy nên có lưới chắn để không cho chúng lọt vào. Tuy nhiên,
vấn đề chính vẫn là đảm bảo vệ sinh nhà trại, không để ổ dịch phát sinh.
Trong các loại bào tử, thì bào tử nấm bào ngư Nhật được ghi nhận là có ảnh
hưởng đến sức khỏe con người. Đối với vài trường hợp, khi hít phải bào tử nấm,
nhạy cảm sẽ biển hiện trong tám giờ, còn ngược lại là từ bốn đến sáu tuần. Người
bệnh có triệu chứng khó thở, mệt mỏi, nhức đầu, ho và sốt (có thể tới 39
0
C), đôi khi
có nhiều vết đỏ ở tay. Bệnh có thể kéo dài trong vài ngày, rồi dứt, nhưng sau đó lại
tái phát và nhất là khi tiếp xúc lại với nấm.
Để ngăn ngừa bệnh nên tránh hít các bào tử nấm, bằng cách mang khẩu trang
hoặc mạng che mặt khi đi vào nhà trồng nấm bào ngư Nhật. Có nơi còn dùng mặt nạ
(như loại phòng hơi độc) khi thu hái nấm. Có thể tránh vào nhà trồng vào sáng sớm
hay trời lạnh, hoặc tưới ẩm nhà trồng để rửa bớt bào tử trước khi vào [Lê Duy Thắng,
1999].
1.1.5. Bảo quản chế biến nấm bào ngư
1.1.5.1. Bảo quản nấm bào ngư
Sau khi thu họach, để đưa nấm đến tay người tiêu thụ, cần một thời gian bảo quản.

13

Đối với nấm tươi: chỉ giữ được thời gian ngắn, bằng cách làm chậm sự phát
triển, giảm cường độ hô hấp, chống thoát nước và bảo quản ở nhiệt độ thấp.
Đối với nấm khô: làm khô ở mức tối đa (còn 10 - 12%), bằng cách lấy nước
trong tai nấm ra, sau đó bảo quản trong túi kín để tránh hút ẩm trở lại. Nấm bào ngư
Nhật dễ làm khô, chỉ cần dàn mỏng để nơi thoáng có gió là nấm khô quéo lại. Nếu
phơi và sấy thì thời gian càng nhanh hơn. Nhiệt độ sấy khoảng 50
o
C. Thường nấm
khô có mùi thơm đặc trưng hơn nhưng không giòn, ngọt như nấm tươi. Tỉ lệ nấm

trấu, thân lõi ngô, thân cành đậu đỗ, bã mía, mùn cưa, lá, cành, cỏ,vỏ cà phê, hàng
năm ở nước ta đã lên đến hàng trăm triệu tấn.
Trong đó một phần không nhỏ chỉ là đốt bỏ lấy nhiệt lượng và tro khoáng, gây
nên ô nhiễm môi trường và góp phần vào biến đổi khí hậu. Nếu được xử lý phối trộn
dinh dưỡng phù hợp, các nguồn phế liệu này sẽ trở thành cơ chất rất thích hợp cho
nuôi trồng nấm bào ngư Nhật. Công nghệ nuôi trồng có thể ở nhiều mức độ đầu tư:
các hộ, trang trại nhỏ và vừa, cụm dân cư (nông, lâm trường, tổ hợp, ) theo lao động
thủ công, bán công nghiệp, công nghiệp và tự động hóa. Giá thành sản xuất nấm ở
nước ta vào loại rất thấp trong khu vực và trên thế giới. Vì vậy, nếu tổ chức nuôi
trồng và chế biến tốt, công nghệ nấm nói chung và nấm Bào ngư nói riêng có đầy đủ
khả năng trở thành ngành sản xuất quan trọng, góp phần xóa đói giảm nghèo, triệt hạ
các loại cây sản ra ma túy, công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông thôn, miền núi.
Đây có lẽ là một trong những hướng tiếp cận của công nghệ sinh học hiện đại, góp
phần thích đáng trong thiên niên kỷ tới - thiên niên kỷ của cơ chế phát triển sạch
(CDM: Clean Development Mechanism) - một nguyên lý cơ bản xuất phát từ Hội
nghị thượng đỉnh về môi trường (Công ước Sao Paolo, Brasil 1992), được hầu hết
các quốc gia chuẩn thuận và xác lập các nguyên tắc chủ đạo với Công ước Kyoto
(Kyoto, Japan 1997). Hội thảo Quốc tế mới đây tại Hà nội (11-12/10/1999) do Cơ
quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA) và Ủy ban Năng lượng Nguyên tử Việt
nam (VAEC) phối hợp tổ chức đã phân tích những nguyên tắc này và vạch ra những
định hướng áp dụng ở Việt nam, nhằm vận dụng tài trợ quốc tế, mà trước hết có thể
lựa chọn công nghệ điện hạt nhân trong thế kỷ tới (2015-2020). Hội nghị Quốc tế về

Trích đoạn Kết quả nuôi trồng khảo nghiệm trên môi trường cơ chất
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status