các khu du kích và căn cứ chống nhật – pháp ở tỉnh phú thọ trong thời kì vận động cách mạng tháng tám - Pdf 24


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

i
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

NGUYỄN THỊ THANH HẢI

CÁC KHU DU KÍCH VÀ CĂN CỨ CHỐNG
NHẬT – PHÁP Ở TỈNH PHÚ THỌ TRONG THỜI KÌ VẬN ĐỘNG
CÁCH MẠNG THÁNG TÁM
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60.22.03.13

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Ngọc Cơ
iii
LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới GS.TS Nguyễn
Ngọc Cơ – người thầy đã hướng dẫn tận tình và hết lòng động viên tác giả
trong quá trình hoàn thành Luận văn này.
Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong khoa Lịch Sử
trường Đại học Sư Phạm – Đại học Thái Nguyên, Thư viện Quốc gia, Bảo
tàng Quân khu 2, Thư viện tỉnh Phú Thọ… đã tạo điều kiện để tác giả hoàn
thành Luận văn.
Tác giả xin chân thành cảm ơn những nhận xét, đánh giá của Hội đồng
khoa học bảo vệ Luận văn.
Tác giả cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến các bạn bè, đồng
nghiệp đã động viên, giúp đỡ tác giả nhiệt tình trong quá trình học tập và
hoàn thành Luận văn này.
Thái Nguyên, tháng 04 năm 2013
Tác giả

Nguyễn Thị Thanh Hải Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

iv
MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan i

THỌ TRONG CUỘC VẬN ĐỘNG CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 69
3.1. Các khu du kích và căn cứ chống Nhật – Pháp là địa bàn cơ sở
cho sự ra đời và phát triển của lực lượng vũ trang tỉnh Phú Thọ 69
3.2. Các khu du kích và căn cứ chống Nhật – Pháp ở tỉnh Phú Thọ là
nơi ươm mầm cách mạng, góp phần quan trọng thúc đẩy phong trào
cách mạng trên địa bàn tỉnh 71
3.3. Các khu du kích và căn cứ chống Nhật – Pháp ở tỉnh Phú Thọ góp
phần tạo thế liên hoàn thống nhất cho cách mạng ở các tỉnh phía Bắc 76
3.4. Các khu du kích và căn cứ chống Nhật – Pháp đóng vai trò nòng cốt
trong khởi nghĩa giành chính quyền ở một số địa phương và tỉnh Phú Thọ 77
KẾT LUẬN 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
PHỤ LỤC Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1
MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài
Cách mạng tháng Tám năm 1945 giành thắng lợi mở ra một bước ngoặt
vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam, đã phá tan xiềng xích nô lệ của thực
dân Pháp và ách thống trị của phát xít Nhật, lật nhào ngai vàng phong kiến;
mở đầu kỉ nguyên mới của dân tộc: kỉ nguyên độc lập, tự do gắn liền với chủ
nghĩa xã hội.
Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám là sự kết hợp của nhiều nhân tố,
trong đó quan trọng nhất và mang tính quyết định là sự lãnh đạo sáng suốt của
Đảng Cộng sản Đông Dương, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh với đường
đường lối cách mạng đúng đắn, dựa trên cơ sở lí luận chủ nghĩa Mác – Lênin

Do tầm quan trọng của vấn đề mà trong giới nghiên cứu sử học nói
chung, lịch sử quân sự nói riêng ở cả trong và ngoài tỉnh đều chú ý đến vấn đề
chiến tranh du kích và căn cứ du kích trong chiến tranh cách mạng Việt Nam.
Bởi vậy, việc nghiên cứu về các khu du kích và căn cứ chống Nhật – Pháp ở
tỉnh Phú Thọ trong thời kì vận động Cách mạng tháng Tám mang tính cấp
thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
Nghiên cứu về các khu du kích và căn cứ chống Nhật – Pháp ở tỉnh Phú
Thọ trong thời kì vận động Cách mạng tháng Tám trước hết sẽ góp phần làm
sáng tỏ sự tài tình và đúng đắn trong việc chỉ đạo khởi nghĩa vũ trang của Đảng
trong Cách mạng tháng Tám. Mặt khác, bản thân là một người con của tỉnh
Phú Thọ, đang làm công tác giảng dạy môn Lịch sử, việc nghiên cứu về các
khu du kích và căn cứ chống Nhật – Pháp ở tỉnh Phú Thọ trong thời kì vận
động Cách mạng tháng Tám còn có ý nghĩa thiết thực lâu dài đối với chúng tôi,
giúp chúng tôi hiểu rõ về truyền thống đấu tranh vẻ vang nhân dân các dân tộc
trong tỉnh mình. Đồng thời, kết quả nghiên cứu đề tài còn góp phần quan trọng
trong việc giáo dục tinh thần yêu nước, ý chí đấu tranh xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc cho thế hệ trẻ của tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

3
Từ những lí do trên, chúng tôi quyết định chọn vấn đề “Các khu du kích
và căn cứ chống Nhật – Pháp ở tỉnh Phú Thọ trong thời kì vận động Cách
mạng tháng Tám” làm đề tài luận văn Thạc sĩ Lịch sử của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ trước đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về cuộc vận
động Cách mạng tháng Tám ở nhiều khía cạnh, đặc biệt là vấn đề khởi nghĩa
vũ trang. Một trong những điểm nổi bật trong đường lối về khởi nghĩa vũ
trang của Đảng trong Cách mạng tháng Tám là đi từ khởi nghĩa từng phần đến
tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên phạm vi cả nước. Bởi vậy, vấn đề

phải kể đến tác phẩm “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Phú Thọ” – tập I (1939 – 1968)
của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Phú Thọ, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia,
2000. Tác phẩm đã dành một phần nói về cuộc khởi nghĩa vũ trang giành
chính quyền tháng Tám năm 1945 ở tỉnh Phú Thọ, trong đó nhắc tới vai trò
của lực lượng vũ trang các khu du kích và căn cứ chống Nhật - Pháp trong
tỉnh, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ các cấp của tỉnh Phú Thọ.
Cuốn “Lịch sử đấu tranh cách mạng của nhân dân xã Minh Hòa”, Ban
Tuyên giáo tỉnh ủy Vĩnh Phú xuất bản năm 1987 giới thiệu về truyền thống
đấu tranh của nhân dân xã Minh Hòa – huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ, trong
đó nhắc đến sự ra đời của căn cứ du kích Phục Cổ và hoạt động của căn cứ
này trong cách mạng tháng Tám.
Ngoài các tác phẩm trên, còn có một số tác phẩm khác đề cập đến các
khu du kích và căn cứ chống Nhật - Pháp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ ở các khía
cạnh khác nhau, như: “Sơ thảo lịch sử Cách mạng tháng Tám tỉnh Phú Thọ”,
“Truyền thống giữ nước của nhân dân vùng Đất Tổ”, “Lịch sử Đảng bộ
huyện Yên Lập”, “Lịch sử Đảng bộ huyện Cẩm Khê”, “Địa chí xã Đồng
Lương”, “Những ngày Cách mạng tháng Tám” (hồi kí)…
Như vậy, cho đến nay đã có nhiều công trình đã đề cập trong một phạm
vi nhất định về các khu du kích và căn cứ chống Nhật - Pháp ở tỉnh Phú Thọ
trong thời kì vận động Cách mạng tháng Tám. Tuy nhiên, chưa có một công

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

5
trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống, sâu sắc, toàn diện về sự ra đời,
hoạt động cũng như những đóng góp của các khu du kích và căn cứ chống
Nhật - Pháp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong cuộc vận động Cách mạng tháng
Tám. Mặc dù vậy, đó là những công trình khoa học có giá trị quan trọng, giúp
chúng tôi có nhiều tư liệu để hoàn thành luận văn Thạc sĩ của mình.
3. Đối tƣợng, phạm vi, nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu

4. Nguồn tài liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tài liệu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi dựa vào những nguồn tài liệu chủ
yếu sau:
- Các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lê nin về khởi nghĩa vũ
trang. Đây là cơ sở lý luận mà chúng tôi vận dụng vào quá trình tìm hiểu và
nghiên cứu đề tài.
- Các công trình nghiên cứu về Cách mạng tháng Tám.
- Nguồn tài liệu lưu trữ: bao gồm các tư liệu thành văn hiện đang lưu
trữ tại các Trung tâm lưu trữ của Trung ương và địa phương. Đó là các tác
phẩm, công trình đã xuất bản của các nhà khoa học, các viện nghiên cứu, của
Ban nghiên cứu lịch sử Đảng bộ các cấp, của Tỉnh uỷ Phú Thọ, Ban chỉ huy
quân sự tỉnh Phú Thọ, Quân khu 2… Đây là nguồn tài liệu gốc đáng tin cậy,
giúp cho chúng tôi có cái nhìn cụ thể, chân thực vấn đề mà đề tài quan tâm.
Ngoài ra, đề tài còn sử dụng các tài liệu thành văn đã công bố trên các
tạp chí Trung ương và địa phương (các bài báo viết về chiến khu Vần – Hiền
Lương, khu du kích Vạn Thắng, khu du kích Phục Cổ…).
Đồng thời chúng tôi cũng sưu tầm nghiên cứu các cuốn hồi ký, ghi
chép của các vị lãnh đạo địa phương tham gia hoạt động ở các khu du kích và
căn cứ trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong những ngày Cách mạng tháng Tám.
Đây là nguồn tài liệu quý giá giúp chúng tôi bổ sung, hoàn thiện đề tài.
4.2. Phương pháp nghiên cứu

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

7
Với mục đích tái hiện sự ra đời, hoạt động và đánh giá vị trí, vai trò của
các khu du kích và căn cứ chống Nhật - Pháp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong
thời kì vận động Cách mạng tháng Tám, chúng tôi sử dụng phương pháp lịch
sử kết hợp với phương pháp logic là chủ yếu. Ngoài ra để làm rõ nội dung đề

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

9
Chƣơng 1
VỊ TRÍ CHIẾN LƢỢC CỦA TỈNH PHÚ THỌ VÀ TÌNH HÌNH
TỈNH PHÚ THỌ TRƢỚC CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI

1.1. Vị trí chiến lƣợc của tỉnh Phú Thọ
Phú Thọ là một tỉnh thuộc khu vực miền núi, trung du phía Bắc, nằm ở
vị trí trung tâm Bắc Bộ, là cửa ngõ nối liền giữa các tỉnh miền núi phía Tây
Bắc với thủ đô Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ; phía đông giáp tỉnh
Vĩnh Phúc, phía tây giáp hai tỉnh Yên Bái và Sơn La, phía nam giáp Hà Nội
và Hòa Bình, phía bắc giáp Tuyên Quang và Yên Bái.
Thời các Vua Hùng dựng nước, Phú Thọ nằm ở trung tâm của nước
Văn Lang, đất cội nguồn của dân tộc Việt Nam. Thời An Dương Vương với
nhà nước Âu Lạc, Phú Thọ thuộc huyện Mê Linh. Năm 179 trước Công
nguyên, nước Âu Lạc bị Triệu Đà xâm lược, đất nước rơi vào ách đô hộ của
các triều đại phong kiến phương Bắc. Dưới triều Đông Hán, đất đai Phú Thọ
nằm trong huyện Mê Linh, thuộc quận Giao Chỉ. Từ thế kỉ III đến thế kỉ V,
Phú Thọ thuộc huyện Gia Ninh. Dưới thời nhà Đường, Phú Thọ thuộc Phong
Châu Thừa Hóa quận, thường gọi tắt là Phong Châu.
Sau chiến thắng Bạch Đằng năm 938, Ngô Quyền xưng vương, chấm
dứt hoàn toàn ách đô hộ hàng nghìn năm của các triều đại phong kiến phương
Bắc, mở ra thời kì độc lập, tự chủ của dân tộc. Các vương triều phong kiến
Đại Việt tiến hành nhiều cải cách hành chính, phân chia lại vùng lãnh thổ.
Nhà Đinh chia nước thành 10 đạo; nhà Tiền Lê lại đổi các đạo ra lộ nhưng sử
cũ vẫn chép tên các châu đời Đường. Thế kỉ thứ XI – XII, nhà Lý chia nước ta

hòa quyết định hợp nhất hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ thành tỉnh Vĩnh Phú.
Tháng 11/1996, trong hoàn cảnh mới của đất nước, Quốc hội quyết
định phân chia tỉnh Vĩnh Phú, tái lập hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ. Địa bàn
Phú Thọ hiện nay trở lại vùng trung tâm của nước Văn Lang xưa.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

11
Tỉnh Phú Thọ có diện tích 3.465 km
2
, bao gồm 12 huyện, thành, thị là:
thành phố Việt Trì, thị xã Phú Thọ, các huyện Lâm Thao, Phù Ninh, Cẩm
Khê, Đoan Hùng, Hạ Hòa, Thanh Ba, Thanh Sơn, Yên Lập, Tam Nông,
Thanh Thủy [6, tr.11].
Phú Thọ là địa bàn chuyển tiếp giữa vùng rừng núi và đồng bằng. Do
vậy, địa thế và cảnh quan của tỉnh Phú Thọ phong phú, nhiều hình, nhiều vẻ.
Vùng núi cao trung bình dưới 1000 m tập trung ở phía tây bắc, thuộc các
huyện Thanh Sơn, Hạ Hòa, Yên Lập. Một số núi cao trên 1000 m chủ yếu
nằm trong huyện Thanh Sơn như núi Vai, núi Hảo, núi Lưỡi Hái, núi Cẩm.
Nhìn chung, vùng rừng núi của tỉnh Phú Thọ có địa thế hiểm trở, rất thuận lợi
cho việc bố trí các trận địa mai phục, tổ chức các cuộc tiến công, phản công,
hoặc khi cần có thể nhanh chóng rút lui để bảo toàn lực lượng. Vì vậy, cuối
thế kỉ XIX, một số lãnh tụ của phong trào Cần Vương chọn vùng rừng núi
Thanh Sơn, Yên Lập, Hạ Hòa làm căn cứ chống Pháp ở vùng thượng du Bắc
Bộ. Trong thời kì vận động Cách mạng tháng Tám (1939 – 1945), trên địa
bàn tỉnh đã xây dựng được các khu du kích và căn cứ cách mạng ở Hiền
Lương (Hạ Hòa), Vạn Thắng (Cẩm Khê), Phục Cổ (Yên Lập) để chuẩn bị lực
lượng tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền.
Ở vùng rừng núi của tỉnh Phú Thọ, thiên nhiên còn kiến tạo những
hang động kì thú, muôn hình muôn vẻ. Thời bình, những hang động này có

thiên nhiên vô giá phục vụ đời sống và sản xuất, mà còn có tầm quan trọng
đặc biệt trong giao thông, quốc phòng trên toàn khu vực.
Trải qua năm tháng, Phú Thọ đã có mạng lưới quốc lộ, tỉnh lộ, huyện
lộ, đường liên xã, liên thôn nối trong toàn tỉnh, với 5 tuyến quốc lộ chạy qua
tỉnh có tổng chiều dài 267 km, trong đó lớn nhất và quốc lộ số 2 – con đường
chạy từ thị xã Hà Giang qua các tỉnh Tuyên Quang, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà
Nội. Ngoài ra, các tuyến đường chiến lược quan trọng chạy qua tỉnh là đường
số 32, 32C.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

13
Phú Thọ còn có đường sắt Hà Nội – Lào Cai chạy dọc qua tỉnh dài hơn
100 km, nối liền với Vân Nam (Trung Quốc). Tuyến đường sắt này còn nối
liền với tuyến đường sắt Hà Nội – Lạng Sơn, Hà Nội – Hải Phòng, Hà Nội –
thành phố Hồ Chí Minh.
Bên cạnh hệ thống quốc lộ, tỉnh lộ tương đối phát triển và ngày càng
được mở rộng, sửa sang nâng cấp, tỉnh còn đầu tư xây dựng nhiều cây cầu
lớn như cầu Việt Trì, cầu Phong Châu, cầu Tứ Mỹ… tạo điều kiện phát
triển kinh tế dân sinh và rất thuận lợi cho việc cơ động lực lượng trong
hoàn cảnh chiến tranh.
Khí hậu Phú Thọ mang tính nhiệt đới gió mùa. Nguồn nước ngọt dồi
dào, ánh sáng và nhiệt độ thích hợp là điều kiện để phát triển một thảm thực
vật phong phú. Trên địa bàn tỉnh cũng có một số khoảng sản quý đã được khai
thác hoặc còn ở dạng tiềm năng như pirít, cao lanh, thạch anh, đá vôi, than
bùn… Ngoài ra, dọc các triền sông lớn còn có vô số đá tảng, đá sỏi, cát thủy
tinh… với trữ lượng lớn.
Điều kiện tự nhiên tạo cho tỉnh Phú Thọ có khả năng phát triển kinh tế
đa dạng bao gồm cả nông – lâm – công nghiệp, bảo đảm tốt cho quốc phòng
và an ninh.

Trong thời kì phong kiến độc lập, tự chủ, Phú Thọ nằm trên con đường
thiên lý từ Vân Nam (Trung Quốc) sang kinh đô Đại Việt nên thường phải
chịu sự tấn công của kẻ thù phương Bắc. Nhiều triều đại phong kiến Việt
Nam thời Trần, thời Lê, thời Mạc… đã chọn vùng Bạch Hạc làm vị trí trấn
giữ phía tây bắc Thăng Long, bảo vệ triều đình và kinh đô của cả nước.
Trong hai cuộc kháng chiến trường kì chống Pháp và chống Mĩ của
dân tộc, Phú Thọ có vị trí chiến lược hết sức quan trọng. Nằm trên tuyến
giao thông huyết mạch cả đường sắt và đường bộ, Phú Thọ như một cây

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

15
cầu nối cả vùng đồng bằng Bắc Bộ và thủ đô Hà Nội với các tỉnh miền núi
phía Bắc Việt Nam.
Nhìn lên bản đồ đất nước, Phú Thọ nằm gần Hà Nội (chỉ cách hơn
80km). Cùng với Vĩnh Phúc, Phú Thọ được coi là một trong những cửa ngõ
trọng yếu án ngữ phía tây bắc thủ đô.
Đối với cục diện chung của vùng trung du và miền núi Bắc Bộ, Phú
Thọ được coi là tấm đệm giữa một bên là cả vùng Việt Bắc rộng lớn và một
bên là vùng Tây Bắc mênh mông, hiểm yếu của Tổ quốc. Từ Phú Thọ có thể
qua Tuyên Quang, Hà Giang lên vùng căn cứ địa Việt Bắc, qua Sơn La lên
Điện Biên, địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng của đất nước. Với vị trí
chiến lược lợi hại đó, Phú Thọ không chỉ là cửa ngõ của cả vùng Việt Bắc và
Tây Bắc mà còn là một vùng trọng điểm kinh tế, quân sự, giao thông… trong
chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
1.2. Tình hình tỉnh Phú Thọ trƣớc Chiến tranh thế giới thứ hai
1.2.1. Tình hình chính trị
Sau khi đánh chiếm các tỉnh Nam Kì, thực dân Pháp tiến hành đánh
chiếm các tỉnh Bắc Kì để hoàn thành công cuộc xâm lược của chúng trên
phạm vi cả nước.

đó chỉ giam giữ những người yêu nước trong tỉnh Phú Thọ, thì thời gian này
giam giữ chật ních tù nhân mà chủ yếu là các đảng viên cộng sản thuộc các
tỉnh dọc theo tuyến đường sắt trên.
Với một bộ máy thống trị hoàn chỉnh như vậy, thực dân Pháp đã thi
hành chính sách cai trị rất thâm độc. Chúng thi hành chính sách chia để trị:
gây chia rẽ giữa các dân tộc, nhất là giữa người Kinh với các dân tộc ít người,
chia rẽ giữa lương và giáo, giữa các địa phương với nhau, hòng phá vỡ khối
đoàn kết trong nhân dân ta.
Về tôn giáo, trước đây nhân dân ta chủ yếu theo theo đạo Phật. Từ
khi thực dân Pháp xâm lược, nước ta xuất hiện một tôn giáo mới là đạo

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

17
Thiên chúa do các giáo sĩ người Âu vào truyền giáo. Năm 1909, tỉnh Phú
Thọ mới chỉ có khoảng 10.000 giáo dân, ba thập kỷ sau (1939), đã tăng lên
trên 30.000 giáo dân. Nhiều nhà thờ được xây dựng trong các làng xã ở các
huyện, thị [5, tr.27].
Về văn hoá, giáo dục, chúng hạn chế mở trường lớp, hòng kìm hãm
nhân dân ta trong vòng ngu tối để dễ bề thống trị. Toàn tỉnh không có một
trường trung học nào, chỉ có 6 trường tiểu học hoàn chỉnh đủ các lớp gọi là
trường kiêm bị và một số trường tiểu học chỉ có một, hai lớp. Số học sinh năm
học 1926 - 1927 có 3.532 và năm 1938 - 1939 là năm cao nhất cũng chỉ có
4.573 học sinh. Hơn 95% nhân dân trong tỉnh mù chữ.
Về y tế, với dân số toàn tỉnh 301.500 người (1939) mà chỉ có 1 bác sĩ, 2
y sĩ và một số y tá, hộ sinh, phụ trách ba nhà thương ở thị xã Phú Thọ, Việt
Trì và Hưng Hoá. Nạn hữu sinh vô dưỡng, dịch bệnh diễn ra thường xuyên,
cướp đi nhiều sinh mạng người dân. Trong khi đó, các tệ tục mê tín dị đoan,
rượu cồn, thuốc phiện, cờ bạc,… được bọn thực dân dung túng cho phát triển.
Làng nào cũng có bàn đèn thuốc phiện, có đại lý rượu bán cho dân, thậm chí

sông, rất thuận tiện cho việc chuyên chở nguyên liệu làm giấy. Các bè chở
tre, nứa, giang (nguyên liệu làm giấy) từ các huyện trong tỉnh và từ các
tỉnh dọc sông Hồng, sông Lô đã chuyển về đây cung cấp cho nhà máy.
Nhà máy chỉ sản xuất bột giấy, một phần cung cấp cho nhà máy giấy Đáp
Cầu (Bắc Ninh) chế biến thành giấy, còn phần lớn đưa về Pháp, chứ
không sản xuất thành giấy ngay tại Việt Trì. Công nhân làm trong nhà
máy bột giấy chủ yếu lao động khuân vác nguyên vật liệu, số công nhân
chuyên môn kỹ thuật không nhiều. Năm 1939, trong nhà máy có 110 công
nhân khuân vác nhưng chỉ có 50 công nhân chuyên môn kỹ thuật. Năm
đông nhất cũng chỉ có 400 công nhân [5, tr.29].
Về nông nghiệp, bọn thực dân khuyến khích, tạo điều kiện cho bọn tư
bản Pháp và một số địa chủ người Việt chiếm đoạt ruộng đất của nông dân lập

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

19
đồn điền. Phú Thọ là tỉnh liên tiếp diễn ra các cuộc nổi dậy chống Pháp của
nghĩa quân trong phong trào Cần Vương. Thực dân Pháp coi tất cả những
đồng ruộng, nương rẫy của đồng bào bỏ hoang vì phải lưu tán tránh các cuộc
hành quân chống phá của chúng là đất hoang vô chủ, đem cấp cho bọn tư bản
Pháp lập đồn điền. Các chủ đồn điền Pháp không những không phải bỏ tiền ra
mua đất, mà còn được miễn thuế 5 năm liền. Nhiều tên tư bản địa chủ lập tới
ba, bốn đồn điền, diện tích chiếm đoạt lên tới hơn 2.000 ha, tên ít nhất cũng
chiếm 10 ha.
Việc chiếm đất lập đồn điền của thực dân Pháp ở Phú Thọ tiến hành rất
sớm, ngay trong thời gian đánh chiếm và bình định (1886 - 1893) và kéo dài
cho đến khi Nhật chiếm đóng tỉnh. Vì vậy, Phú Thọ là một trong những tỉnh ở
Bắc Kì có nhiều đồn điền của Pháp và diện tích chiếm đoạt rất lớn. Nếu tính
từ tên địa chủ Pháp đầu tiên lập đồn điền ở Phú Thọ là tên Đuysơmanh
(Duchemin), lập đồn điền ở Đoan Hùng với diện tích 500 ha theo nghị định

dụng được những kết quả nghiên cứu của trạm, còn nông dân lao động thì
không có điều kiện và không biết chữ để áp dụng.
Do thủy lợi không được chú ý, thiên tai dịch bệnh xảy ra thường xuyên,
phương pháp canh tác vẫn lạc hậu như thời phong kiến, nên nhìn chung lúa
chỉ cấy một vụ chiêm hoặc mùa, sản lượng rất thấp. Theo "Địa chí Phú Thọ
năm 1931", tỉnh Phú Thọ có 38.400 ha cấy lúa, tổng sản lượng đạt 46.000 tấn,
năng suất bình quân chỉ đạt hơn 10 tạ/ha.
Phú Thọ là tỉnh có nghề truyền thống trồng dâu nuôi tằm, nhất là ở các
xã vùng bãi ven sông Hồng và sông Đà. Nhằm khai thác nguồn lợi tơ lụa tại
đây, chính quyền thực dân đã cho lập ba sở tằm ở Việt Trì, La Phù và Thanh
Ba. Các sở tằm trên nghiên cứu cách trồng và chăm sóc dâu, chọn giống dâu
và chọn giống tằm tốt cho ấp trứng bán cho dân. Mỗi sở tằm có một số máy
ươm và quay tơ và cũng công bố một số kết quả nghiên cứu đăng trên tạp chí.
Cùng với vơ vét tài nguyên, cướp đoạt ruộng đất của nông dân, bóc lột
nhân công, thực dân Pháp thẳng tay bóc lột nhân dân trong tỉnh bằng chính

Trích đoạn Khu căn cứ du kích Vạn Thắng Quân dân trong các khu du kích và căn cứ chống Nhật – Pháp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status