skkn nâng cao hứng thú và kết quả học tập môn toán cho hs lớp 1 thông qua các trò chơi học tập - Pdf 24

PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Phát triển trí tuệ cho HS tiểu học là một trong những vấn đề được quan tâm hàng
đầu của hầu hết các quốc gia, của các bậc phụ huynh và các thầy cô giáo. Cùng với tất
cả các môn học khác trong chiến lược phát triển toàn diện, có thể nói Toán học đóng
một vai trò hết sức quan trọng, nó rèn luyện cho các em không chỉ đơn thuần là tính
toán mà điều chủ yếu là năng lực tư duy. Chính bởi tư duy sâu sắc mà các em mới có
thể nhanh nhẹn, nhạy bén hơn trong nhiều môn học khác. Rèn luyện toán học không
có nghĩa đơn giản là kì vọng các em trở thành những nhà toán học mà chính là rèn
luyện cho các em trở nên linh hoạt hơn khi tiếp cận những vấn đề trong nhà trường
hoặc giải quyết bất cứ một vấn đề nào trong thực tiễn cuộc sống.
Đối với môn Toán ở tiểu học, nếu GV chỉ truyền đạt, giảng giải theo tài liệu có
sẵn, theo sách giáo khoa, theo hướng dẫn và thiết kế bài dạy một cách máy móc thì sẽ
làm cho HS học tập một cách thụ động. Điều đó sẽ khiến cho việc học tập của các em
diễn ra một cách đơn điệu, tẻ nhạt dẫn đến kết quả học tập không cao. Đó là một trong
những nguyên nhân gây cản trở việc đào tạo các em thành những con người năng
động, tự tin, sáng tạo sẵn sàng thích ứng với những đổi mới diễn ra hàng ngày.
Mặt khác, HS tiểu học có trí thông minh khá nhạy bén, sắc sảo, có óc tưởng tượng
phong phú. Đó là tiền đề tốt cho sự phát triển tư duy toán học. Nhưng các em cũng rất
dễ bị phân tán, rối trí nếu bị áp đặt, căng thẳng hay quá tải. Hơn nữa, HS ở bậc tiểu
học nói chung, HS lớp 1 nói riêng đang trong giai đoạn phát triển cơ thể hay nói cụ
thể hơn là các hệ cơ quan chưa hoàn thiện vì thế sức dẻo dai của cơ thể còn thấp; một
mặt trẻ vừa chuyển từ môi trường vui chơi là chủ yếu sang môi trường học tập đòi hỏi
sự chú ý cao cho nên trẻ khó có thể ngồi lâu trong phòng học cũng như tập trung chú
ý vào bài học trong một thời gian dài.
Muốn các em học tốt môn Toán trước hết phải tạo cho các em những say mê
hứng thú với môn học. Vì vậy, việc sử dụng các trò chơi học tập trong giờ học Toán
là hết sức cần thiết và có ích. Nó giúp HS thay đổi động hình hoạt động, chống mệt
mỏi căng thẳng trong học tập, tăng cường khả năng luyện tập thực hành và vận dụng
nhanh các kiến thức đã học; ghi nhớ nội dung kiến thức một cách tự nhiên theo kiểu
học mà chơi, chơi mà học. Từ đó giúp cho HS nhớ lâu, hiểu kỹ và vận dụng linh hoạt
trong đời sống, học tập. Và cũng qua đó phát triển hứng thú, tập thói quen tập trung,

muốn quả là một điều không đơn giản. Nó cần nhiều thời gian để đầu tư suy nghĩ, tìm
tòi, chuẩn bị phương tiện, đồ dùng,… Mặt khác, tổ chức trò chơi học tập sao cho HS
tiếp xúc cảm thấy hấp dẫn nhất và thích thú thì phụ thuộc hoàn toàn vào công tác tổ
chức của GV mà kĩ năng tổ chức trò chơi của GV cơ bản còn rất nhiều hạn chế.
Muốn chất lượng môn Toán lớp 1được nâng cao, yếu tố đầu tiên và cũng là quan
trong nhất là HS phải yêu thích học Toán, phải có hứng thú học Toán thực sự. Bởi vậy
đòi hỏi người GV phải đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học trong đó
vận dụng linh hoạt các trò chơi học tập Toán vào các tiết học là ưu tiên số 1 và là việc
cần được làm ngay.
B. Nội dung và biện pháp thực hiện:
2
I. Điều tra khảo sát tình hình HS trước khi áp dụng trò chơi học tập Toán
vào tiết dạy:
Năm học 2009 – 2010, tôi được phân công giảng dạy lớp 1A trường Tiểu học
Châu Đình với tổng số HS là 22, trong đó nam có 9 em, nữ 13 em, dân tộc thiểu số là
16 em. Các em phân bố rải rác ở 8 thôn bản.
Sau gần 2 tháng giúp học sinh quen dần với môn Toán, để tiện cho vấn đề nghiên
cứu và thực nghiệm, tôi tiến hành chia lớp thành 2 nhóm: Nhóm 1 là nhóm thực
nghiệm, nhóm 2 là nhóm đối chứng. Tôi tổ chức khảo sát HS về ý thức học tập môn
Toán, kết quả cho thấy đa số HS thờ ơ, không mấy hứng thú khi học Toán, chưa thật
ham thích học môn Toán.
Cụ thể:
Nhóm khảo sát TSHS
Thích học môn Toán
Đồng ý Bình thường Không đồng ý
TS % TS % TS %
Nhóm 1 (Nhóm TN)
11 2 18.2 5 45.5 4 36.4
Nhóm 2 (Nhóm ĐC)
11 2 18.2 4 36.4 5 45.5

- Trò chơi nhằm ôn tập, rèn luyện tư duy trong giờ học ngoại khoá.
Nếu phân loại theo các mạch kiến thức Toán học ta có thể nói tới:
- Trò chơi tính toán.
- Trò chơi hình học (vẽ hình, đếm hình, cắt ghép hình, xếp hình,…)
- Trò chơi gắn với hoạt động đo đại lượng.
- Trò chơi về giải toán, giải đố.
- Trò chơi về rèn luyện trí thông minh,…
1.2. Các nguyên tắc chủ yếu để thiết kế và sưu tầm trò chơi toán học.
a. Nguyên tắc 1: Tất cả các trò chơi toán học đều nhằm củng cố một nội dung
toán học ở tiểu học, quán triệt nguyên lý “học đi đôi với hành”. Nghĩa là sau khi GV
truyền tải tới HS một lượng kiến thức mới để cho các em nắm chắc và hiểu kỹ vấn đề
đó thì có thể và cần thiết tổ chức cho các em vận dụng dưới hình thức các trò chơi học
tập.
b. Nguyên tắc 2: Kế thừa các ý tưởng dạy học toán trong các sách giáo khoa tiểu
học, kế thừa một số trò chơi trong dân gian và trong một số tài liệu đã có để tiếp tục
phát triển và hoàn thiện cho phù hợp với thời gian, với đặc điểm nhận thức của HS
tiểu học, với điều kiện cơ sở vật chất cụ thể của nhà trường Việt Nam hiện nay.
c. Nguyên tắc 3: Luật chơi ở mỗi trò chơi đưa ra phải rõ ràng để HS định hướng,
nắm được cách chơi, cách giải quyết. Đồng thời các yêu cầu đó cũng phải có mức độ
dễ, khó khác nhau để phù hợp với nhiều đối tượng khác nhau, vừa phù hợp với trình
độ HS trong lớp (trình độ đại trà), vừa có một số yếu tố nâng cao đòi hỏi có sự thông
4
minh, khéo léo mới có thể giải quyết được (trình độ khá, giỏi) nhằm phát huy năng
lực ứng dụng và các sở trường của HS trong lớp.
d. Nguyên tắc 4: Mỗi trò chơi phải tạo hứng thú cuốn hút HS tham gia, sao cho
thi đua mà không căng thẳng, vui mà học toán thực thụ. Nguyên tắc này quán triệt ý
tưởng “Học mà chơi, chơi mà học”.
1.3. Cấu trúc trò chơi học tập Toán:
Một trò chơi Toán học được viết theo cấu trúc sau:
- Tên trò chơi.

có mục đích củng cố, ôn tập các phép tính cộng, trừ trong phạm vi 10.
c. Khi tổ chức các trò chơi phải sắp xếp các tình huống chơi sao cho tất cả mọi
HS, của nhóm hoặc của lớp đều được tham gia. Mặc dù trong một số vấn đề nhất
định, tại một thời điểm có thể chỉ có một em tham gia trò chơi hoặc trình bày kết quả
nhưng toàn nhóm (lớp) phải có trách nhiệm cùng tìm ra lời giải đáp. Khi chơi nên tổ
chức thi giữa những người có cùng năng lực. GV hoặc người chỉ huy tránh làm lúng
túng hay làm xấu hổ cho những HS không hoàn thành nhiệm vụ, luôn quan tâm, khích
lệ, động viên hơn là so sánh, tỏ ý không hài lòng. Tuy nhiên, cần lưu ý tổ trò chơi một
cách chu đáo để sao cho tính “bất quy tắc và sự hiếu động” không làm hạn chế tính
mục đích của trò chơi.
d. Người GV (chỉ huy) khi hướng dẫn phải ngắn gọn, dễ hiểu và rõ ràng để người
tham gia chơi nắm được mục đích chơi, quy tắc chơi và cách tham gia (cách chơi).
Cần vạch kế hoạch chi tiết và tổ chức việc trình bày trò chơi. Có thể sử dụng một vài
HS thực hành ban đầu để giúp HS hình dung được rõ quy tắc chơi và cách chơi.
e. Người chỉ huy phải là người trọng tài công bằng khi đánh giá, không thiên vị
bên nào.
f. Trong lúc chơi (chơi theo nhóm), HS được phép trao đổi, bàn luận với nhau
(nhưng nói nhỏ).
g. Điều quan trọng nữa là việc tham gia chơi phải được sự tự nguyện của HS,
tránh áp đặt, bắt buộc các em phải chơi (vì làm như vậy sẽ phản tác dụng của trò
chơi).
2. Sưu tầm, thiết kế một số trò chơi trong dạy học Toán lớp 1.
Sau khi nắm vững kiến thức về trò chơi học tập Toán 1, chúng tôi tiến hành tìm
hiểu mạch kiến thức Toán 1 từ đó tôi lựa chọn và lồng ghép một số trò chơi theo
mạch kiến thức số học và yếu tố hình học phù hợp với chương trình và đối tượng HS
lớp 1 của trường như sau:
2.1. Các trò chơi củng cố nội dung số học:
2.1.1.Trò chơi thứ nhất: Thi đếm
a. Mục đích :
- Luyện đếm các số trong phạm vi 10 theo thứ tự.

(Như hình dưới)
c. Cách chơi:
- Số người chơi: hai nhóm, mỗi nhóm 4 em.
- Thời gian chơi: 3 phút.
7
- Luật chơi: Chia lớp thành 2 tổ, mỗi tổ cử 4 bạn đại diện nối bóng với ô ghi kết
quả tương ứng. Mỗi em trong đội chỉ được nối 1 lần và chuyển cho em khác nối tiếp.
- Cách đánh giá: (10 điểm) + “Buộc” đúng mỗi dây cho bóng được 2 điểm.
+ Có đáp án nhanh được 2 điểm

Lưu ý:
- Đối tượng chơi: HS đại trà.
- Trò chơi này tổ chức vào cuối tiết 42: Luyện tập chung (trang 63) hoặc tiết 43:
Luyện tập chung (trang 64) sau khi đã học xong cộng trừ trong phạm vi 5.
- Phát triển trò chơi: Trò chơi này có thể áp dụng được cho một số tiết học về phép
cộng, trừ trong phạm vi 10 và cộng, trừ không nhớ trong phạm vi 100 dạng bài tập
Nối (theo mẫu) bằng cách GV chuyển bài tập thành trò chơi để giúp cho tiết học thêm
hứng thú, sinh động.
VD: + Áp dụng trò chơi vào bài tập 4 (Nối theo mẫu) của tiết học: Luyện tập
(Trang 111) (về Phép trừ không nhớ trong phạm vi 100)
+ Áp dụng trò chơi vào bài tập 4 (Nối theo mẫu) của tiết Luyện tập
(Trang 130).
+ Áp dụng trò chơi vào bài tập số 5 (Nối theo mẫu) tiết Luyện tập (Trang
160). Và một số tiết khác nữa.
2.1.3.Trò chơi thứ ba: Ai nhanh ai khéo.
a. Mục đích :
- Giúp HS ghi nhớ các bảng tính đã học.
- Rèn luyện sự khéo léo cho HS.
b. Chuẩn bị:
8

2.1.4. Trò chơi thứ tư: Lá + lá = hoa
9
5
.
.
.
2
.
.
.
7
4 3 6 1 0 7
50
a. Mục đích :
- Củng cố cộng nhẩm các số trong phạm vi 100.
b. Chuẩn bị:
- GV chuẩn bị 3 tấm bìa (A3), mỗi tấm có vẽ các cây có lá mà chưa có hoa, mỗi
cây có 2 hoặc 3 lá. Trên mỗi lá có ghi các số tròn chục.(Như hình vẽ)

10
30 10 40
20 20
20
Cắt cho 3 nhóm, mỗi nhóm 4 bông hoa bằng bìa, ở giữa có ghi kết quả của các
phép tính cộng các số tròn chục ở từng cây (mỗi cây có một bông hoa kết quả đúng),
và làm thêm 1 bông hoa ghi kết quả sai cho mỗi nhóm. Như sau:
c. Cách chơi:
- Số người chơi: ba nhóm, mỗi nhóm 3 em.
- Thời gian chơi: 3 phút.
- Luật chơi: Mỗi nhóm cử 3 đại diện lên chơi theo hình thức “tiếp sức”. Đội nào

theo thứ tự từ bé đến lớn và từ lớn đến bé) tiết Luyện tập chung (Trang 40 - SGK).
Ngoài ra có thể vận dụng linh hoạt để tổ chức trò chơi cho các bài sau:
+ Bài tập 4 (Viết các số 8; 5; 2; 9; 6 theo thứ tự từ bé đến lớn và từ lớn đến bé)
tiết Luyện tập chung (Trang 42 - SGK).
+ Bài tập 2 (Viết các số 7; 5; 2; 9; 8 theo thứ tự từ bé đến lớn và từ lớn đến bé)
tiết Luyện tập chung (Trang 90 - SGK).
2.1.6. Trò chơi thứ sáu: Làm tính tiếp sức:
a. Mục đích :
- Rèn kĩ năng làm tính cộng, trừ trong phạm vi 10.
b. Chuẩn bị:
- GV vẽ sẵn lên bảng 2 hình như sau:

11
6
1 3 7
10
10
Đ
c. Cách chơi:
- Số người chơi: 2 đội, mỗi đội 4 bạn
- Thời gian chơi: 3 - 5 phút.
- Luật chơi: Khi GV ra hiệu lệnh bắt đầu chơi thì bạn đầu tiên của mỗi đội lên
điền kết quả phép tính đầu tiên vào hình tam giác rồi nhanh chóng trao lại bút viết cho
bạn thứ hai. Cứ tiếp tục như vậy, bạn thứ tư lên viết kết quả cuối cùng vào ngôi sao.
Đội nào làm đúng và nhanh hơn sẽ thắng cuộc.
Lưu ý:
- Phạm vi áp dụng: Trò chơi này áp dụng vào Bài tập 2 (phần 1) tiết Luyện tập
(Trang 88 - SGK).
Ngoài ra có thể vận dụng linh hoạt để tổ chức dạng trò chơi này cho các bài sau:
+ Bài tập 2, tiết học Phép cộng trong phạm vi 10 (Trang 81 - SGK).

- Củng cố biểu tượng về hình tam giác.
- Rèn luyện trí tưởng tượng.
b. Chuẩn bị:
- Mỗi nhóm HS chuẩn bị 9 que diêm.
c. Cách chơi:
- Số người chơi: chơi cá nhân
- Thời gian chơi: 5 - 7 phút.
- Luật chơi: Cho HS chơi cá nhân. Mỗi HS chuẩn bị sẵn 9 que diêm trên bàn. Khi
GV nêu yêu cầu: "Từ 9 que diêm hãy xếp thành 3 hình tam giác giống hệt nhau" thì
HS bắt đầu xếp.
- Cách đánh giá: (10 điểm)
+ Xếp đúng mỗi hình cho 3 điểm (3 hình 9 điểm)
+ Xếp cẩn thận, khoa học được 1 điểm
Lưu ý:
- Phạm vi áp dụng: Trò chơi này áp dụng vào để củng cố sau khi học xong tiết
Luyện tập (Trang 10 - SGK).
2.2.2. Trò chơi thứ 9: Xếp hình vuông .
a. Mục đích :
- Củng cố biểu tượng về hình vuông.
- Rèn luyện trí tưởng tượng.
13
b. Chuẩn bị:
- Mỗi nhóm HS chuẩn bị 4 que diêm.
c. Cách chơi:
- Số người chơi: chơi cá nhân
- Thời gian chơi: 3 phút.
- Luật chơi: Cho HS chơi cá nhân. Mỗi HS chuẩn bị sẵn 4 que diêm trên bàn. Khi
GV nêu yêu cầu: "Từ 4 que diêm hãy xếp thành 1 hình vuông" thì HS bắt đầu xếp.
- Phạm vi áp dụng: Áp dụng trò chơi vào tiết Hình vuông, hình tròn (Trang 6 -
SGK)

biền và coi là một điểm.
+ Từng nhóm đứng trước hình tam giác của nhóm mình để chờ
hiệu lẹnh của GV.
+ GV hô, chẳng hạn: " Điểm A, D ở trong hình tam giác; điểm B,
C, E ở ngoài hình tam giác". Các "điểm" ở từng nhóm sẽ làm theo hiệu lệnh của GV.
Nếu nhóm nào đúng sẽ được 1 điểm, nhóm nào sai được 0 điểm. HS vẫn đứng nguyên
vị trí đó, chờ GC hô tiếp lượt hai.
+ Sau 5 lượt như vậy, từng đội sẽ công điểm của đội mình lại. Đội
nào có số điểm cao nhất sẽ thắng cuộc.
15
A
B
C
D E
Lưu ý:
- Phạm vi áp dụng: Trò chơi được tổ chức vào cuối tiết học: Điểm ở trong, điểm ở
ngoài một hình (Trang 133 - SGK).
III. Những kết quả đạt được:
Tôi đã áp dụng dạy thực nghiệm một số trò chơi trong một số trò chơi đã trình
bày ở trên vào một số tiết học Toán sau:
Thứ ngày Tên bài dạy. Trang Trò chơi áp dụng
Luyện tập 128 Xếp theo thứ tự
Luyện tập 130 Buộc dây cho bóng
Luyện tập 132 Làm tính tiếp sức
Điểm ở trong, điểm ở ngoài một hình 133 Ai ở trong, ai ở ngoài
VD: Khi dạy bài: Luyện tập (Trang 128):
Mục tiêu của tiết học này là: Biết đọc, viết, so sánh các số tròn chục; bước đầu
nhận biết cấu tạo số tròn chục (40 gồm 4 chục và 0 đơn vị); Luyện kĩ năng đọc, viết,
so sánh và nhận biết cấu tạo số tròn chục; Giáo dục học sinh yêu thich học Toán.
Sau khi tiến hành cho học sinh luyện tập củng cố các bài tập

Độ lệch chuẩn 1.44 1.97
Giá trị P của T-test
0.050
Chênh lệch giá trị TB chuẩn (SMD)
0.8
Đối chiếu kết quả kiểm tra sau tác động, ta thấy:
+ Chênh lệch ĐTB cho kết quả P = 0,005 cho thấy chênh lệch giữa ĐTB nhóm
thực nghiệm và nhóm đối chứng rất có ý nghĩa (Chênh lệch kết quả không do ngẫu
nhiên mà do tác động trò chơi học tập đưa lại)
+ Kết quả của bài kiểm tra sau khi áp dụng đề tài của nhóm thực nghiệm là ĐTB =
8,5; kết quả bài kiểm tra tương ứng của nhóm đối chứng là ĐTB = 6,9. Độ chênh lệch
giữa điểm số hai nhóm là ĐTBTN – ĐTBĐC = 1,6. Điều đó cho thấy điểm TBC của
hai nhóm có sự khác biệt rõ rệt, nhóm thực nghiệm có ĐTB cao hơn nhóm đối chứng.
+ Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn của hai bài kiểm tra là SMD = 0,8. Điều này
có nghĩa là mức độ ảnh hưởng của trò chơi học tập vào tiết dạy là lớn.
Để rõ hơn, tôi xin minh họa bằng biểu đồ sau:
17
H.1: Biểu đồ so sánh ĐTB trước tác động và sau tác động của
nhóm thực nghiệm va nhóm đối chứng.
Như vậy việc áp dụng trò chơi học tập vào tiết dạy Toán 1 đã góp phần rất lớn
trong việc tạo hứng thú học Toán cho HS lớp 1. Đồng thời trò chơi học tập cũng góp
phần không nhỏ nhằm làm cho chất lượng môn Toán của HS nâng cao.
PHẦN III. KẾT LUẬN:
I/ Kết quả của việc áp dụng đề tài:
Ngoài những trò chơi học tập đã giới thiệu ở trên, tôi còn sưu tầm , thiết kế một số
trò chơi khác để phục vụ cho dạy học môn Toán và các môn Tiếng việt, Tự nhiên xã
hội. Tổ chức trò chơi tuy vất vả nhưng tôi đã tìm thấy niềm vui trong dạy học và càng
thấy yêu nghề hơn bởi thông qua các trò chơi, quan hệ cô - trò không còn khoảng
cách (vì nhiều lúc cô cũng tham gia chơi với trò). Tình cảm bạn bè giữa HS với HS
ngày càng gần gũi, gắn bó hơn. Những giờ học thoải mái, sôi nổi, hiệu quả ngày càng

chất lượng học Toán cho HS lớp 1.
Kính mong nhận được sự góp ý của đồng nghiệp!
Xin trân trọng cảm ơn!
19
PHẦN PHỤ LỤC:
I. KẾ HOẠCH BÀI HỌC:
1. Kế hoạch bài học 1: bài 90: Luyện tập (Trang 128)
I. Mục đich yêu cầu:
- Biết đọc, viết, so sánh các số tròn chục; bước đầu nhận biết cấu tạo số
tròn chục (40 gồm 4 chục và 0 đơn vò).
- Luyện kó năng đọc, viết, so sánh số, nhận biết cấu tạo số tròn chục.
- Giáo dục học sinh hứng thú trong giờ học.
(Bài tập cần làm: Bài 1, Bài 2, Bài 3, Bài 4.)
II. Đồ dùng dạy học:
-Các số tròn chục từ 10 đến 90.
-Bộ đồ dùng toán 1.
III. Các hoạt động dạy học:
Hoạt động GV Hoạt động HS
1.KTBC: Hỏi tên bài học.
Giáo viên nêu yêu cầu cho việc
KTBC:
Hai chục còn gọi là bao nhiêu?
Hãy viết các số tròn chục từ 2 chục
đến 9 chục.
So sánh các số sau: 40 … 80 , 80 … 40
Nhận xét về kiểm tra bài cũ.
2.Bài mới:
Giới thiệu trực tiếp, ghi tựa.
3. Hướng dẫn học sinh làm các bài
3 học sinh thực hiện các bài tập:

Hai nhóm thi đua nhau, mỗi
nhóm 5 học sinh chơi tiếp sức để
hoàn thành bài tập của nhóm
mình.
Số 40 gồm 4 chục và 0 đơn vò.
Số 70 gồm 7 chục và 0 đơn vò.
Số 50 gồm 5 chục và 0 đơn vò.
Số 80 gồm 8 chục và 0 đơn vò.
Học sinh khoanh vào các số
Câu a: Số bé nhất là: 20
Câu b: Số lớn nhất là: 90
Học sinh viết:
Câu a: 20, 50, 70, 80, 90
Câu b: 10, 30, 40, 60, 80
2. Kế hoạch bài học 2: bài : Luyện tập (Trang 130)
I. Mục đich yêu cầu:
- Biết đặt tính, làm tính, cộng nhẩm số tròn chục; bước đầu biết về tính
chất phép cộng; biết giải toán có phép cộng.
- Bài tập cần làm: Bài 1, Bài 2a, Bài 3, Bài 4.
II. Đồ dùng dạy học:
21
-Bộ đồ dùng toán 1.
III. Các hoạt động dạy học:
Hoạt động GV Hoạt động HS
1.KTBC: Hỏi tên bài học.
Gọi học sinh lên bảng làm bài tập
số 1 và tính nhẩm bài toán số 3.
Giáo viên nhận xét về kiểm tra bài
cũ.
2.Bài mới:

Viết tên đơn vò kèm theo (cm)
Học sinh tính nhẩm và nêu kết
quả.
Đọc đề toán và tóm tắt.
Lan hái : 20 bông hoa
Mai hái : 10 bông hoa
Cả hai bạn hái :? bông hoa
Số bông hoa của Lan hái được
cộng số bông hoa của Mai hái
được.
Giải
Cả hai bạn hái được là:
20 + 10 = 30 (bông hoa)
Đáp số: 30 bông hoa.
Học sinh tự nêu cách làm và làm
bài.
22
Hoạt động GV Hoạt động HS
4.Củng cố, dặn dò:
Hỏi tên bài.
Nhận xét tiết học, dặn dò tiết sau.
Thi đua theo hai nhóm ở hai bảng
phụ.
Học sinh khác cổ động cho nhóm
mình thắng cuộc.
Học sinh nêu nội dung bài.
23
24
3. Kế hoạch bài học 3: bài : Luyện tập (Trang 132)
BÀI 97: LUYỆN TẬP

Hai nhóm thi đua nhau, mỗi nhóm 4
học sinh chơi tiếp sức để hoàn thành
bài tập của nhóm mình.
Đúng ghi Đ, sai ghi S:
60 cm – 10 cm = 50
60 cm – 10 cm = 50 cm
60 cm – 10 cm = 40 cm
Giải
Đổi 1 chục = 10 (cái bát)
Số bát nhà Lan có là:
20 + 10 = 30 (cái bát)
Đáp số: 30 cái bát
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status