nâng cao hứng thú và kết quả học tập phần ii lịch sử thế giới hiện đại từ năm 1917 đến năm 1945 (lịch sử 11) bằng phương pháp sử dụng sơ đồ tư duy - Pdf 25

SỞ GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO KHÁNH HÒA
TRƯỜNG THPT PHAN BỘI CHÂU
Người thực hiện: Bùi Thị Kiều Oanh
Năm học: 2012 - 2013
ĐỀ TÀI
NÂNG CAO HỨNG THÚ VÀ KẾT QUẢ HỌC TẬP
PHẦN II LỊCH SỬ THẾ GIỚI HIỆN ĐẠI TỪ NĂM 1917
ĐẾN NĂM 1945 (LỊCH SỬ 11) BẰNG PHƯƠNG PHÁP
SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY
2
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài

Cùng với việc đổi mới mục tiêu và nội dung dạy học, vấn đề đổi mới phương
pháp theo hướng lấy học sinh làm trung tâm được đặt ra một cách bức thiết. Bản
chất của dạy học lấy học sinh làm trung tâm là phát huy cao độ tính tự giác, tích
cực, độc lập, sáng tạo cũng như sự hứng thú say mê trong học tập.
Từ trước đến nay, chúng ta chỉ quen dạy người học “cái ” nhưng chưa bao
giờ dạy “cách” để lĩnh hội kiến thức hiệu quả nhất. Để làm được điều này thì
v
ấn đề mà người giáo viên cần nhận thức rõ là quy luật nhận thức của người
học. Người học là chủ thể hoạt động chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và thái
độ chứ không phải là “cái bình chứa kiến thức” một cách thụ động.
Trong thực tế nhiều học sinh, sinh viên học tập một cách thụ động; chỉ đơn
thuần là tái hiện kiến thức một cách máy móc. Học bài nào biết bài nấy, cô lập
nội dung của các bộ môn chưa có sự liên kết kiến thức với nhau và với thực tiễn
vì vậy chưa phát huy được tư duy logic và tư duy hệ thống.
Tại các trường phổ thông hiện nay, việc giảng dạy các môn học nói chung và

Lịch sử 11) bằng phương pháp sử dụng sơ đồ tư
duy”
2. Mục đích nghiên cứu
Bước sang thế kỉ XXI, đất nước ta đang trong thời kì hội nhập, đổi mới.Việc
học lịch sử có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn tại của quốc gia dân tộc.Việc học
3
lịch sử trước hết là học về lòng yêu nước, học xưa để biết nay. Nếu các cá nhân
trong một dân tộc không biết về nguồn gốc và tổ tiên của mình thì dân tộc đó sẽ
tiêu vong. Đánh mất lịch sử đồng nghĩa với việc đánh mất quốc gia dân tộc.
Song thực trạng hiện nay cho thấy, tình hình dạy và học bộ môn lịch sử có xu
hướng ngược lại, học sinh không y
êu thích, không hứng thú với bộ môn này.
B
ằng đề tài sáng kiến kinh nghiệm: ” Nâng cao hứng thú và kết quả học tập
Phần II Lịch sử thế giới hiện đại(1917-1945) (Lịch sử 11) bằng phương pháp
sử dụng sơ đồ tư duy” , giúp:
+H
ọc sinh có bức tranh tổng thể về lịch sử nhân loại nói chung và lịch sử
dân tộc nói riêng.
+Kh
ả năng ghi nhớ lâu hơn.
+Phát huy óc sáng tạo và sự hứng thú trong học tập. Đồng thời góp phần
thực hiện chỉ thị năm học 2012-2013: “Đổi mới phương pháp dạy học và kiểm
tra đánh giá của Bộ Giáo Dục
-Đào Tạo”.

3. Đối tượng nghiên cứu
- Học sinh THPT khối 11.
- So
ạn giảng tiết dạy bằng sơ đồ tư duy theo chuẩn kiến thức kĩ năng được

hợp….
Để đánh giá một tiết dạy có hiệu quả hay không đều phụ thuộc vào kĩ năng
vận dụng tốt các thao tác, giúp học sinh hiểu và nắm tốt bài; ghi nhớ lâu hơn và
sơ đồ tư duy đáp ứng những y
êu cầu này

2. Cơ sở thực tiễn
Đổi mới dạy học nói chung và dạy học lịch sử ở trường trung học nói riêng là
m
ột vấn đề lớn, thu hút sự quan tâm không chỉ của những người làm công tác
giáo d
ục mà ngay cả các cấp, các ngành ở trung ương và địa phương. Làm thế
nào để biến tư tưởng đổi mới đó th
ành thực tiễn dạy học nhằm nâng cao chất
lượng bộ môn ở trường phổ thông?
Những năm gần đây, chúng ta thấy xuất hiện ngày càng nhiều tiết học tốt,
dạy tốt của các giáo viên giỏi theo hướng tổ chức cho học sinh hoạt động tích
cực, tự lực chiếm lĩnh tri thức mới. Tuy nhiên tình trạng phổ biến vẫn là “thầy
đọc
”, “trò chép” hoặc giảng giải xen kẽ vấn đáp; giải thích, minh hoạ bằng
phương tiện trực quan.
Với lối dạy này, người thầy đã máy móc rập khuôn, dễ có tính phó mặc
không hứng thú trong cập nhập kiến thức, không sáng tạo trong việc tìm kiếm
các phương án mới ph
ù hợp với đối tượng học sinh để đạt kết quả tối ưu. Người
học theo cách học này sẽ trở nên thụ động, chỉ biết thu nhập kiến thức một
chiều, không động não suy nghĩ, không biết tự mình chiếm lĩnh kiến thức, trở
nên thui chột về tư duy, khó vận dụng kiến thức vào thực tiễn.
Hơn nữa, đã dạy theo kiểu “đọc-chép” thì đề thi phải ra theo kiểu học thuộc.
Học sinh khi học, chép được điều gì thì lúc thi, lại chép những điều ấy vào bài

h
ệ với thực tiễn, phải có thí nghiệm và thực hành. Học và hành phải kết hợp với
nhau”.

Để làm được điều này, giáo viên nên sử dụng nhiều phương pháp tổ chức dạy
học. Tuỳ theo nội dung kiến thức và đối tượng mà lựa chọn phương pháp cho
phù hợp nhằm tạo biểu tượng, hình thành khái niệm, khắc sâu kiến thức cơ
bản…Đặc biệt muốn phát huy hơn nữa tính tích cực của học sinh trong học tập
thì phương pháp sơ đồ tư duy tỏ ra có ưu thế. Mỗi bài học sẽ chứa đựng một số
vấn đề cơ bản của lịch sử, bằng sự hiểu biết của mình, giáo viên nêu vấn đề, tổ
chức cho học sinh cách giải quyết bằng cách tạo lập sơ đồ tư duy qua đó phát
huy tính tích cực và huy động bộ não hoạt động hết công suất cho mỗi bài học.
Sẽ không còn tình trạng học sinh ngồi im thụ động “chờ” giáo viên cho “ghi”
hay l
ại “đọc chép”. Do đó vai trò dẫn đắt của người thầy là hết sức quan trọng.
Dạy học là một nghệ thuật, bằng tâm hồn, sự hiểu biết và nghệ thuật của người
giáo viên, những “phần xác” lịch sử sẽ được “phả hồn” vào một cách sinh động
và đẹp đẽ; giúp các em cảm nhận tốt hơn, yêu thích bộ môn lịch sử hơ
n.

Phương tiện dạy học bằng sơ đồ tư duy ngày càng trở nên phổ biến và được
nhiều nước tiên tiến trên thế giới sử dụng đạt hiệu quả cao. Nếu khai thác tốt sơ
đồ tư duy sẽ l
à công cụ hỗ trợ đắc lực cho giáo viên trong quá trình giảng dạy.
Dạy và học là quá trình tác động qua lại thống nhất không tách rời. Việc sử
dụng sơ đồ tư duy tạo điều kiện cho học sinh có cơ hội trao đổi với thầy và bạn
phát huy tính tích cực, chủ động vươn lên chiếm lĩnh tri thức. Đồng thời còn tạo
được sự hấp dẫn, hứng thú (
thông qua hình vẽ) giảm dần tính biên niên trong
d

ệu tham khảo về nội dung và phương pháp dạy học phong phú, cơ
sở vật chất được đầu tư.
+ Đặc biệt sự b
ùng nổ công nghệ thông tin, tạo điều kiện cho cả thầy và
trò có c
ơ hội tiếp xúc, tìm hiểu, đi sâu vào một vấn đề hay một lĩnh vực nào đó.
Song sự phát triển của giáo dục hiện nay, chưa đáp ứng yêu cầu đào tạo thế
hệ trẻ trong thời kì mới. Sự đổi mới về phương pháp quá chậm so với sự thay
đổi
hệ thống giáo dục và nội dung khoa học. Có lẽ một trong những điểm chúng
ta chưa gặt hái được nhiều th
ành công trong cải cách giáo dục là không có
nh
ững cải tiến đáng kể về phương pháp. Nó còn theo đường mòn, lạc hậu về
nhiều mặt, đòi hỏi phải nhanh chóng đổi mới.
Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng như vậy là do:
+ Chưa quán triệt quan điểm của Đảng trong chiến lược phát triển đất
nước
lấy con người làm trung tâm. “Con người là mục tiêu và động lực phát
triển của kinh tế - xã hội” (Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VII - 1991). Chiến
lược con người không chỉ là cơ sở hoạch định chiến lược phát triển giáo dục nói
chung mà còn là nguyên tắc phương pháp luận chỉ đạo việc dạy, học các bộ môn
trong đó có lịch sử.
+ Quan niệm môn chính, môn phụ
+ Mặt trái của cơ chế thị trường tác động vào giáo dục - một nghề vốn
thanh cao - làm thay đổi bậc thang giá trị của các môn học. Việc dạy thêm các
“môn chính” làm cho đời sống giữa hàng ngũ giáo viên phân hoá, chênh lệch; vì
h
ọc sinh học thêm với mục đích rất thực dụng - đua nhau vào các ngành có thể
kiếm việc làm nhiều tiền sau này. Việc dạy thêm có những điểm tích cực nhất

- Khó khăn:
+ Hầu như giáo viên chưa giảng dạy theo phương pháp sơ đồ tư duy, tỏ ra
bở ngỡ, nên cần đầu tư nhiều thời gian để xây dựng bản đồ tư duy sao cho dễ
nhớ, dễ nhìn nhưng đầy đủ nội dung.
+ Phần lớn học sinh chưa quen với cách học mới, nên còn lúng túng khi
vi
ết hoặc tóm tắt nội dung sách giáo khoa sang sơ đồ tư duy.
+ Sơ đồ tư duy được tạo lập từ những từ khoá, kí hiệu, h
ình vẽ…; học
sinh tạo được sơ đồ tư duy nhưng khi kiểm tra, đánh giá các em không có khả
năng diễn giải, li
ên kết các sự kiện.
4. Các bước tiến hành
- Chuẩn bị kĩ nội dung kiến thức tiết học thông qua bài soạn.
- L
ựa chọn đồ dùng dạy học phù hợp với nội dung từng bài.
- Chu
ẩn bị hệ thống câu hỏi sao cho phát huy được tính tích cực của học sinh.
- L
ựa chọn nội dung để giao cho nhóm hoặc cá nhân thảo luận. Mỗi cá nhân
(nhóm) phải đọc sách giáo khoa và chuẩn bị sơ đồ tư duy theo ý riêng. Đồng
thời sưu tầm tư liệu, hình ảnh để minh họa cho bài thuyết trình.
- Xây d
ựng sơ đồ tư duy, tuỳ theo nội dung từng bài mà lựa chọn cho phù
h
ợp ( có thể sử dụng sơ đồ tư duy để khai thác kiến thức mới hoặc củng cố…).
5. Nội dung thực hiện
5.1. Bộ não kì diệu
5.1.1. Hoạt động của bộ não
Để đánh giá một người nào đó thông minh hay bình thường, chúng ta

bắp và không thể nhắc lại những điều cô vừa dạy. Nguyên nhân từ đâu?
Th
ật ra một trong những lí do làm cho điều này thêm trầm trọng là do hệ
thống giáo dục của chúng ta có khuynh hướng về những môn học có liên quan
đến não trái như toán, ngôn ngữ, hoá học…Hơn nữa, trong giờ lên lớp, giáo
viên có xu hướng dạy các phương pháp chỉ tập trung v
ào não trái (giảng bài đơn
điệu với nhữ
ng con số khô khan, dữ liệu thuần tuý, các bài tập, bài kiểm tra ).
Ngoài ra các lớp học truyền thống ít sử dụng các dụng cụ trực quan khơi gợi trí
sáng tạo, lôi cuốn cảm xúc hay trí tưởng tượng của người học. Khi não phải
không có cơ hội tham gia nhiều v
ào quá trình học, nó tìm cách giết thời gian
bằng cách dệt nên những hình ảnh. Đó là lí do tại sao ngồi học môn sử lại mơ
mộng bên ngoài cửa sổ. Nếu không thì nó cũng hí hoáy vẽ, chọc phá các bạn bên
c
ạnh…hiện tượng này xuất phát từ việc não phải cần có sự “dịch chuyển”,
“tưởng tượng” hay ”âm điệu” l
àm cho bận rộn. Kết quả, học sinh đó bị phân tán
không thể tập trung vào bài học.
Khi hiện tượng này xảy ra thường xuyên, những đứa trẻ này bị qui kết là
“hi
ếu động thái quá”, “tiếp thu kém”, “khả năng tập trung ngắn”…Thực chất,
đứa trẻ n
ày không có vấn đề gì về mặt đầu óc, chính phương pháp dạy học và
cách h
ọc mới là vấn đề.
5.1.3. Học bằng cả bộ não
Bí quyết giúp trẻ chú ý, tập trung và học hành hiệu quả là gì? Câu trả lời
là tận dụng cả hai bán cầu não vào quá trình học. Tức là hãy học bằng cả bộ não.

+ Cách 2: ghi chú dưới dạng nhiều phần mục (1…
2….
3… )
Nh
ững bất lợi:
+ Không tiết kiệm thời gian: kiểu ghi chú này chứa đựng những nội dung
quan trọng tạo thành một câu văn hoàn chỉnh nhưng lại không cần thiết (nhiều
từ), lãng phí thời gian học.
+ Không nhớ bài tốt: không có hình ảnh để hình dung;
không th
ể hiện sự khác nhau giữa các điểm chính
mà chỉ đơn thuần là liệt kê
không làm n
ổi bật thông tin, không sử dụng màu sắc
không tận dụng trí tưởng tượng.
+ Không sử dụng tối ưu sức mạnh của cả bộ não.
V
ậy để ghi chú một cách tốt nhất thì sơ đồ tư duy là công cụ ghi chú tối ưu.
5.2. Khái niệm sơ đồ tư duy
Theo TONY BUZAN, người đầu tiên tìm hiểu và sáng tạo ra sơ đồ tư duy thì :
Sơ đồ tư duy là một hình thức ghi chép sử dụng màu sắc và hình ảnh để mở rộng
và đào sâu các
ý tưởng. Ở giữa bản đồ là một ý tưởng hay một hình trung tâm. Ý
tưởng hay hình ảnh trung tâm này sẽ được phát triển thành các nhánh tượng
trưng cho các
ý chính và đều được nối với các ý trung tâm. Với phương thức
tiến dần từ trung tâm ra xung quanh, bản đồ tư duy khiến tư duy con người cũng
phải hoạt động tương tự. Từ đó các ý tưởng của con người sẽ phát triển.
5.2.1. Nguyên lí hoạt động
Hoạt động theo nguyên tắc liên tưởng “ý này gọi ý kia” của bộ não. Từ một

- Sau đó nối các nhánh chính cấp 1 đến hình trung tâm, nối nhánh cấp 2→1,
nối nhánh cấp 3→ 2…bằng đường kẻ. Đường kẻ càng gần trung tâm thì càng tô
đậm hơn.

* Lưu ý: Nên dùng đường cong thay cho đường thẳng (thu hút sự chú ý của
mắt). Tất cả các nhánh toả ra trên cùng một điểm nên tô một màu, chỉ thay đổi
màu sắc khi đi từ ý chính ra ý phụ.
Bước 4: Người viết nên thêm nhiều hình ảnh, kí hiệu để làm nổi bật, tăng
tính sinh động (sao cho dễ nhớ v
à hấp dẫn).
13
5.2.4. Tác dụng của sơ đồ tư duy
- Tiết kiệm thời gian, công sức
- Nhìn thấy bức tranh tổng thể
- Tổ chức và phân loại suy nghĩ
- Ghi nhớ tốt hơn
- Kích thích tiềm năng sáng tạo, hình thành các ý tưởng độc đáo
- Sử dụng rộng rãi, hiệu quả và dễ dàng ở nhiều lĩnh vực, trên nhiều phương
tiện, tại mọi địa điểm
- Ngoài ra, sơ đồ tư duy còn là công cụ tư duy hiệu quả giúp tối đa hoá
nguồn lực của cá nhân và tập thể.
* Lưu ý: Sơ đồ tư duy là một công cụ giúp học sinh học tập hiệu quả, nâng
cao hứng thú học tập. Tuy nhiên sơ đồ tư duy không phải là một tác phẩm hội
hoạ nên cần tránh rơi vào việc trang trí cầu kì, thay cho ghi chú (mục đích chính
khi sử dụng sơ đồ tư duy).
5.3. Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học lịch sử
Trước khi đi vào Phần II LSTG hiện đại (1917-1945) - nội dung tôi chọn
làm đề t
ài nghiên cứu. Tại một số tiết với dung lượng kiến thức ngắn (đã được
giảm tải), tôi vận dụng sơ đồ tư duy. Cụ thể:

Các em đưa
ra vô số lí do và yêu cầu quay lại lối dạy truyền thống. Tuy
nhiên một bộ phận khác tỏ ra hào hứng khi nhìn vào bức tranh sinh động đầy đủ
màu sắc và hình vẽ của mình.
Năm học 2012- 2013, tôi được tổ chuyên môn phân công giảng dạy ở hai
kh
ối lớp 11 và 12. Tổng số lớp tôi phụ trách là năm lớp (HK I) và mười lớp
(HKII), giúp tôi có nhiều cơ hội để thực hiện đề tài nghiên cứu.
Dạy học lịch sử bằng sơ đồ tư duy không có gì mới, điều này đã được triển
khai từ cấp hai, nhưng lên cấp ba lại không có điều kiện thực hiện và phổ biến,
vì:
- N
ội dung bài học quá dài khó triển khai bằng sơ đồ tư duy
- Kiến thức phải được trình bày rõ ràng, cụ thể đáp ứng mục tiêu thi cử
- Áp lực điểm số.
Do đó, giáo viên chỉ sử
dụng sơ đồ nhánh hoặc lập bảng biểu vào các tiết
ôn tập.
Đối với học sinh cấp ba khối lượng kiến thức mà các em tiếp thu hàng
ngày là r
ất lớn, chưa kể việc học thêm và cả áp lực từ việc thi đại học. Vì vậy
việc ôn tập và tái hiện kiến thức là điều rất cần thiết nhưng lại vô cùng vất vả.
Nhằm giúp các em giảm áp lực thi cử và hứng thú với việc học, tôi đẩy
mạnh hơn nữa việc áp dụng sơ đồ tư duy; ngay cả kiểm tra miệng, 15 phút và
làm bài vi
ết tôi buộc các em phải trình bày theo sơ đồ vào bài làm. Kết quả vượt
ngoài sự mong đợi của tôi, giờ kiểm tra bài cũ 90% học sinh xung phong (chưa
15
có trong tiền lệ); bài mới các em giơ tay lên bảng vẽ sơ đồ để được điểm cộng.
Tiết học thật sôi nổi hào hứng.

trong học tập cũng như sự sáng tạo, mạnh dạn thể hiện cái tôi của mình.
Sau đây tôi xin trình bày một số dạng bài tôi thường sử dụng và đạt nhiều
hiệu quả trong quá trình giảng dạy.
5.3.1. Sử dụng sơ đồ tư duy để khai thác kiến thức mới
Vận dụng trong Bài 9 – Tiết 12 : CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA
NĂM 1917 VÀ CÔNG CUỘC XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA X
à HỘI Ở LIÊN

XÔ (1921 – 1941).
Cách 1: Sử dụng sơ đồ tư duy trong suốt tiết học (giáo viên và học sinh
cùng tạo lập sơ đồ ngay tại lớp)
Bước 1: Giáo viên giới thiệu khái quát chương và nội dung bài mới
Bước 2: N
êu câu hỏi định hướng nhận thức cho học sinh nhằm:
+ Xác định nhiệm vụ nhận thức của người học
+ Hướng học sinh vào kiến thức trọng tâm của bài, huy động tối đa các
hoạt động của các giác quan trong quá trình học tập.
Câu 1: Vì sao năm 1917 ở Nga diễn ra hai cuộc cách mạng.
16
Câu 2: Trình bày quá trình chuyển biến từ Cách mạng dân chủ tư sản
sang Cách mạng tháng Mười Nga.
Câu 3: Ý nghĩa lịch sử của Cách mạng ttháng Mười Nga.
Bước 3: Lập sơ đồ tư duy
- Gíao viên vẽ hình ảnh trung tâm (có thể sử dụng quốc kì của Nga minh
họa).
- Sau khi t
ạo xong hình ảnh trung tâm, giáo viên nêu câu hỏi:
+ Bài này có những nội dung chính, cơ bản nào? ( thay cho nhánh)
+ H
ọc sinh lên bảng vẽ nối tiếp chủ đề chia thành các nhánh lên bảng, có

phát triển ý tưởng ra xung quanh. Cứ làm việc như vậy, học sinh sẽ biết cách tự
17
vận động tìm tòi kiến thức. Sơ đồ tư duy không chỉ là công cụ ghi chú tối ưu mà
còn là công cụ gợi mở, kích thích quá trình học hỏi của trẻ.
Sau ít phút thảo luận, học sinh báo cáo, thuyết trình về sơ đồ tư duy
Giáo viên có thể chỉ bất kì hoặc nhóm cử đại diện lên báo cáo. Qua hoạt
động n
ày giáo viên vừa biết rõ hiểu biết của các em vừa rèn luyện khả năng
thuyết trình trước đám đông, giúp các em tự tin mạnh dạn hơn. Sau khi đại diện
của từng nhóm trình bày, giáo viên yêu cầu nhóm khác nhận xét, cá nhân bổ
sung, chỉnh sửa để hoàn thiện sơ đồ về kiến thức và cấu trúc (có sự hỗ trợ của
giáo viên). Cuối mỗi nhánh chuẩn bị chuyển sang nhánh khác (ý khác), giáo
viên sử dụng câu chốt cuối mục nhằm khắc sâu kiến thức.
Nhánh cấp 3
2. Từ Cách mạnh tháng Hai đến Cách mạng tháng Mười:
Giáo viên cho học sinh đọc nhanh sách giáo khoa trang 49-50 và tóm tắt
diễn biến bằng sơ đồ (biểu diễn sự đi lên của cách mạng).
Giáo viên tiếp tục nêu câu hỏi:
+ Cách mạng tháng Hai đã thực hiện được những nhiệm vụ gì ?
+ Giáo viên khai thác tranh, đoạn phim, truyện kể nhằm làm tiết học
thêm sinh động.
Sau khi hoàn thành Cách mạng tháng Hai, giáo viên lập bảng so sánh và
yêu c
ầu học sinh hoàn thành, từ đó rút ra tính chất và ý nghĩa của cách mạng
Nội dung Các cuộc CMTS trước Cách mạng tháng Hai
Nhiệm vụ
Lãnh đạo
Lực lượng
Chính quyền thành lập
Hướng phát triển cm

ngay trên sơ đồ.
19
20
5.3.2. Sử dụng sơ đồ tư duy để khai thác kiến thức mới
Vận dụng trong Bài 12 – Tiết 15 : NƯỚC ĐỨC GIỮA HAI CUỘC CHIẾN
TRANH TH
Ế GIỚI ( 1918 – 1939)
Rút kinh nghiệm từ Bài 9 - Tiết 12 : CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA
NĂM 1917 VÀ CÔNG CUỘC XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở LIÊN

XÔ (1921 – 1941).
Tôi chọn Cách 2: Sử dụng sơ đồ tư duy trong suốt tiết học (học sinh lập sơ đồ
ở nh
à)
Bước 1: Giáo viên nêu câu hỏi kiểm tra bài cũ cũng là cách liên hệ dẫn dắt
vào bài mới
Nguyên nhân, đặc điểm của cuộc khủng hoảng kinh tế (1929 – 1933)?
H
ậu quả?
Bước 2: Nêu câu hỏi định hướng nhận thức
21
Câu 1. Tình hình nước Đức trong những năm 1929 – 1933 có gì nổi
bật? Tại sao chủ nghĩa phát xít thắng thế ở Đức?
Câu 2. Trong những năm 1933 – 1939, chính phủ Hitle đã thực hiện
chính sách kinh tế, chính trị và đối ngoại như thế nào ? Hậu quả?.
Bước 3: Lập sơ đồ tư duy
- Học sinh đã quen với các thao tác tạo lập sơ đồ tư duy, tôi chỉ nêu
câu h
ỏi và các em hoàn thành theo sơ đồ đã chuẩn bị lên giấy Ruki hoặc bảng
phụ.

5.3.3. Sử dụng sơ đồ tư duy trong từng đơn vị kiến thức
Vận dụng trong Bài 17 – Tiết 22 : CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI
(1939 – 1945)
Để tiết học đạt hiệu quả , sau mỗi bài dạy tôi đều yêu cầu học sinh
soạn bài (sơ đồ tư duy hoặc bài viết) trước khi lên lớp.
Bài dạy bằng máy chiếu (sử dụng Power Point)
Đối với b
ài Chiến tranh thế giới thứ hai (1939 – 1945), do dung lượng
kiến thức phong phú , nhiều sự kiện, khái niệm. Bài học có liên hệ thực tiễn về
hậu quả của chiến tranh đối với nhân loại và bài học cho một thế giới hòa bình
hôm nay. Đồng thời nêu lên các giải pháp nhằm chống chủ nghĩa khủng bố -
hi
ểm họa của thế giới trong thế kỉ XXI. Do đó tôi chọn áp dụng sơ đồ tư duy vào
m
ột số đơn vị kiến thức ở tiết hai.
*
Lưu ý: Tiết hai, nội dung chủ yếu là trình bày diễn biến, giáo viên dễ mắc
những lỗi sau trong quá trình giảng dạy.
- Quá đơn điệu, tẻ nhạt với việc thống kê các sự kiện
- Hoặc quá sa đà vào những câu chuyện hòng làm sinh động cho tiết
học mà quên đi trọng tâm cần khắc sâu.
23
Bước 1: Kiểm tra bài cũ
Giáo viên yêu cầu học sinh sử dụng bảng đồ nêu tóm tắt diễn biến của
chiến tranh thế giới thứ II (9/1939 – 6/1941) và rút ra nhận xét, tính chất của
giai đoạn n
ày.
Giáo viên nhấn mạnh, như vậy đến mùa hè năm 1941 phe phát xít thống trị phần
lớn châu Âu. Phát xít Đức chuẩn bị xong mọi điều kiện cần thiết để tấn công
Liên Xô.

24
- Sử dụng sơ đồ tư duy trong từng đơn vị kiến thức cũng hấp dẫn không
kém việc ứng dụng trong toàn bài. Qua đó còn thấy được khả năng của người
giáo viên trong việc sử dụng linh hoạt nhiều thao tác nhằm đạt được mục đích
cuối cùng là học sinh nắm và hiểu bài tốt cũng như tái hiện kiến thức ngay tại
lớp.
- Sơ đồ tư duy là phương tiện rất hiệu quả trong các bài chiến tranh, khởi
nghĩa…giảm tính biên niên trong dạy học lịch sử và sự khô khan khó nhớ của
những con số.
- Việc liên hệ thực tế đến một thế giới tương lai tốt đẹp không tiếng súng
vừa có tác dụng giáo dục vừa góp phần định hướng đạo đức, nhân cách học sinh.
5.3.4. Sử dụng sơ đồ tư duy trong việc củng cố kiến thức bài học
Vận dụng trong Bài 11 – Tiết 14 : TÌNH HÌNH CÁC NƯỚC TƯ BẢN
GIỮA HAI CUỘC CHIẾN TRANH THẾ GIỚI (1918 – 1939 )
Mục đích của củng cố bài
- Giúp h
ọc sinh tái hiện, khắc sâu kiến thức bài học
- Định hướng nhận thức cho học sinh thông qua câu hỏi củng cố, giáo
viên biết được dung lượng kiến thức học sinh nắm cũng như hiểu chưa thấu đáo
25
những nội dung nào…, từ đó giáo viên đề xuất phương pháp dạy học tích cực
cho những tiết sau.
Tuy nhiên trên thực tế nhiều giáo viên dạy nhưng không củng cố, vì:
- Không k
ịp bài, hết giờ vẫn dạy nên củng cố qua loa.
- Trong quá trình dạy, giáo viên quan sát học sinh (tập trung chủ yếu ở
những bạn khá, giỏi) và nêu câu hỏi tư duy, các em trả lời tốt, giáo viên cho
r
ằng cả lớp hiểu bài không cần khắc sâu.
- Tâm lí m

pháp?
+ Bước 4: Trong suốt tiết học, học sinh đã được giới thiệu, làm rõ, phân
tích…được khắc sâu nhiều lần. Vì vậy đến khi củng cố được gợi lại, các em tái
hiện rất nhanh và với đặc thù của sơ đồ tư duy là màu sắc, hình vẽ càng tạo điều
kiện cho việc khắc sâu trở nên thuận lợi.
* Qua tiết dạy sử dụng SĐTD trong việc củng cố kiến thức bài học, bản
thân tôi rút ra một số kinh nghiệm .
- Tái hiện và khắc sâu kiến thức

Trích đoạn BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status