Module 2
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NHÓM
TRONG DẠY HỌC SINH HỌC
Module 2
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NHÓM TRONG DẠY HỌC SINH HỌC
33
I. MỤC TIÊU
1. Kiến thức: Qua module này học viên phải
- Trình bày được khái niệm, đặc trưng, vai trò của dạy học theo nhóm
- Phân biệt các hình thức học tập theo nhóm: Nhóm 2 học sinh, nhóm 4-5
học sinh, nhóm kim tự tháp, nhóm chuyên gia và nhóm hoạt động trà trộn.
- Phân tích các bước tổ chức hoạt động nhóm trong quá trình giảng dạy
2. Kỹ năng:
- Học viên vận dụng để lựa chọn nội dung, thiết kế và tổ chức được các
bài học sinh học theo hoạt động nhóm.
3. Thái độ: Học viên thấy được giá trị, vai trò của hoạt động nhóm trong
quá trinh học tập từ đó có ý thức áp dụng trong dạy học sinh học ở trường phổ
thông
II. GIỚI THIỆU MODULE
- Đây là module thứ hai trong tài liệu bồi dưỡng đổi mới PPHD sinh học ở
trường THPT với nội dung giới thiệu về vai trò, các kiểu học tập theo nhóm và
một số ví dụ minh họa xem như là các "mẫu" được chúng tôi nghiên cứu và áp
dụng trong thời gian gần đậy tại trường Đại học Sư phạm Huế.
- Nội dung chính của module:
Đặc trưng và vai trò của hoạt động nhóm
Các hình thức học tập theo nhóm
Các bước tổ chức hoạt động nhóm
Phương pháp và biện pháp tổ chức hoạt động nhóm
Một số kiến thức sinh học được tổ chức theo hoạt động nhóm
III. TÀI LIỆU VÀ THIẾT BỊ THỰC HIỆN MODULE
- Thiết bị: Máy tính, máy chiếu đa chức năng, giấy croquy, bút, băng
- Trình bày các đặc điểm của hoạt động theo nhóm.
Thông tin:
Xem phụ lục số 2.1: Tổ chức hoạt động học tập theo nhóm nhằm nâng
cao hiệu quả nhận thức cho học sinh, gồm các mục:
5. Các hình thức tổ chức dạy học theo nhóm
6. Các hoạt động theo nhóm
Hoạt động3 : Trao đổi theo nhóm ( 3-5 học viên), thời gian 4 tiết
Nhiệm vụ: Học viên tự nghiên cứu tài liệu và trao đổi theo nhóm
nhằm:
- Trình bày quy trình tổ chức hoạt động theo nhóm
35
- Vận dụng để thiết kế một số kiến thức trong chương trình sinh học được
tổ chức theo các hình thức học tập nhóm khác nhau ( Mỗi hình thức 1 ví dụ)
- Vận dụng để soạn 1 bài học hoàn chỉnh được tổ chức dạy học theo nhóm
Thông tin:
Xem phụ lục số 2.1: Tổ chức hoạt động học tập theo nhóm nhằm nâng
cao hiệu quả nhận thức cho học sinh, mục:
7. Một số kiến thức thuộc chương trình sinh học 10 ban KHTN được thiết
kế dạy học theo nhóm
Xem phụ lục 2.2: Một số kiến thức thuộc chương trình sinh học 10 ban
khtn được thiết kế dạy học theo nhóm
Xem phụ lục 2.3: Bài giảng minh họa
Xem phụ lục 2.4: Phương pháp và biện pháp tổ chức dạy học theo
nhóm để nâng cao hiệu quả nhận thức cho học sinh
V. ĐÁNH GIÁ:
Sau khi kết thúc 2 buổi học, học viên phải trả lời được các cẩu hỏi sau:
Câu 1: Trong dạy học sinh học ở trường THPT việc tổ chức dạy học theo
nhóm có những thuận lợi và khó khăn nào? Cho ví dụ.
Câu 2: Hãy nêu các điều kiện cần và có để tổ chức học tập theo nhóm đạt
hiệu quả.
số điều kiện, có thể tổ chức học sinh thành các nhóm, tiến hành các hình thức học
tập khác nhau để giải quyết bài tập của nhóm mình, qua đó đạt mục tiêu giờ học.
3. Đặc trưng của hình thức học tập theo nhóm
*Trò- chủ thể tích cực chủ động sáng tạo của hoạt động học tập: Dạy học theo
nhóm là sự tác động trực tiếp giữa học sinh với nhau, sự cùng phối hợp hoạt
động của họ. Với hình thức học tập theo nhóm không diễn ra sự tiếp xúc trực tiếp
giữa giáo viên với học sinh mà chỉ trong trường hợp cần thiết người giáo viên
mới tham gia vào công việc của nhóm riêng rẽ. Vai trò của người giáo viên thông
qua sự chỉ dẫn bằng ngôn từ được đề ra trước khi tiến hành công tác của nhóm.
Trong trường hợp giáo viên tham gia vào công tác của nhóm nhỏ đó thì sự giao
tiếp mang tính chất cá nhân hơn là tính chất công việc như trong hình thức dạy
học chung toàn lớp.
37
Công tác với toàn lớp trong điều kiện học tập nhóm tại tiết học có tính chất
hoàn toàn khác. Nhóm báo cáo trước toàn lớp công việc của mình. Nội dung từng
báo cáo đó đối với những học sinh của nhóm khác có thể là những thông tin mới.
Điều đó có nghĩa là những nhóm khác và từng học sinh riêng rẽ nắm tốt tài liệu
đến mức nào phụ thuộc vào chất lượng thực hiện nhiệm vụ của mỗi nhóm. Với
sự thảo luận các báo cáo, cả tính chất tác động lẫn nhau trong lớp cũng biến đổi.
Nếu với công tác dạy học toàn lớp như thường lệ sự tiếp xúc trực tiếp giữa học
sinh ít, thì bây giờ khả năng tiếp xúc như vậy tăng lên đáng kể. Và sự đánh giá
lẫn nhau trong công tác với toàn lớp nay có vai trò rất lớn.
Từ đó có thể nói công tác với toàn lớp trong điều kiện học tập nhóm tại
lớp là công tác có tính tập thể như là hình thức công tác độc lập
* Giáo viên – “ người thức tỉnh” tổ chức và đạo diễn: Trong giờ học theo
nhóm, giáo viên dẫn dắt học sinh khám phá, lĩnh hội kiến thức qua từng bước.
Các nhóm học sinh tự tiến hành các hoạt động , qua đó có thể rút ra các tri thức
cần thiết cho mình. Giáo viên là người tổ chức, điều khiển học sinh tự tiến hành
các hoạt động. Tuy nhiên, để giúp học sinh tránh những sai lầm, trong tổ chức
giờ học theo nhóm, cần có một khoảng thời gian để giáo viên tổ chức cho học
học. Khi làm việc trong nhóm sẽ có sự so sánh thường xuyên các kết quả của
từng cá nhân, học sinh sẽ có một ý niệm rõ ràng về giá trị chân thực của chính
mình, lòng tự trọng, chính đó là điều kiện đầu tiên của sự trưởng thành về mặt
nhân cách xã hội.
- Nếu xét các thành tố giáo dục, có tính đến yếu tố “dạy lẫn nhau”, hoạt động
nhóm bao gồm tất cả những gì học sinh cần. Học sinh có cơ hội thực hành các
kỹ năng trí tuệ bậc cao như kỹ năng sáng tạo, đánh giá, tổng hợp và phân tích.
Các em cũng thực hành các “kỹ năng thông thường” như khả năng cùng làm việc
và giao tiếp với nhau.
- Ngoài ra, hoạt động nhóm mang lại cho học sinh một cơ hội thuận lợi để làm
quen với nhau. Nó cũng khơi dậy sự gắn bó tập thể, đặc biệt là khi có hiện diện
yếu tố cạnh tranh, sẽ là một động cơ học tập rất mạnh.
5. Các hình thức tổ chức dạy học theo nhóm
Làm việc theo cặp 2 học sinh (Pairwork)
Đây là hình thức học sinh trao đổi với bạn ngồi kế bên để giải quyết tình
huống do giáo viên nêu ra, trong quá trình giải quyết các tình huống, học sinh sẽ
thu nhận kiến thức một cách tích cực. Nhóm này thường được sử dụng khi giao c
ho HS chấm bài, sửa bài cho nhau (qua phiếu học tập, qua các bài tập lựa chọn
trong sách giáo khoa ).Ưu điểm của hình thức tổ chức này là không mất thời
gian tổ chức, không xáo trộn chỗ ngồi mà vẫn huy động được HS làm việc cùng
nhau.
Làm việc theo nhóm 4-5 học sinh hoặc 7-8 học sinh (Group work)
Giáo viên chia lớp thành nhiều nhóm và thảo luận các bài tập, câu hỏi tình
huống do giáo viên nêu ra.
Có 2 loại hình bài tập: Bài tập cho hoạt động trao đổi và bài tập cho hoạt
động so sánh. Trong hoạt động trao đổi, mỗi nhóm giải quyết 1 vấn đề khác nhau
(nhưng cùng 1 chủ đề), sau đó trao đổi vấn đề và giải quyết vấn đề của nhóm
mình đối với nhóm khác. Trong hoạt động so sánh, tất cả các nhóm cùng giải
quyết một vấn đề, sau đó so sánh cách giải quyết khác nhau giữa các nhóm. Hoạt
học. Đầu tiên giáo viên nêu một vấn đề cho các học sinh làm việc độc lập. Sau đó
ghép 2 học sinh thành một cặp để các học sinh chia sẻ ý kiến của mình. Kế đến
các cặp sẽ tập hợp thành nhóm 8, nhóm 16…Cuối cùng cả lớp sẽ có 1 bảng tổng
kết các ý kiến hoặc một giải pháp tốt nhất để giải quyết một vấn đề. Như vậy, bất
kỳ ý kiến các nhân nào cũng đều dựa trên ý kiến của số đông.
Hình thức học tập này thể hiện tính dân chủ và dựa trên nguyên tắc tương
hỗ, mô hình này phù hợp với các giờ ôn tập khi học sinh phải nhớ lại các định
nghĩa, khái niệm, công thức…đã học trong một chương.
40
AA
AA
BB
BB
CC
CC
A B
C D
DD
DD
Mô hình nhóm kim tự tháp
Hoạt động trà trộn (Mingling Activities)
Trong hình thức này, tất cả các học sinh trong lớp phải đứng dậy và di
chuyển trong lớp học để thu thập thông tin từ các thành viên khác. Sự di chuyển
khỏi chỗ ngồi cố định làm cho các học sinh cảm thấy thích thú, năng động hơn.
Đối với các học sinh yếu thì đây là cơ hội cho họ hỏi nhiều người khác nhau
cùng một câu hỏi mà không cảm thấy xấu hổ. Cũng bằng cách học này, họ sẽ
thấy rằng có thể có nhiều câu trả lời đúng, nhiều ý kiến, nhiều quan điểm khác
nhau cho cùng một vấn đề. Có thể coi hoạt động trà trộn là bảng “trưng cầu ý
kiến” và “khảo sát ý kiến” của tập thể. Hoạt động này thường được dùng trong
vì thế vào bất kỳ thời điểm nào ta cũng có các nhóm tiến hành các hoạt động
khác nhau; nhưng đến cuối giờ các nhóm đều thực hiện xong phần việc của
mình. Phương pháp này cho phép tiến hành được các bài tập có đòi hỏi giáo cụ
và đồ dùng thí nghiệm nhưng không đủ cho cả lớp.
Ví dụ: Có 3 nhóm A, B, C. Trong ma trận thứ nhất có 3 bài tập và thời lượng
như nhau; ma trận thứ 2 có thể dùng 5 bài tập trong đó có bài tập 1 có thời gian
dài gấp đôi các bài tập khác.
Nhóm Bài tập
A 1 2 3
B 2 3 1
C 3 1 2
Ma trận 1: 3 bài tập có cùng thời lượng và thời gian quay vòng là sau 10
phút
Nhóm Bài tập
A 1 1 2 3 4 5
B 2 3 4 5 1 1
C 4 5 1 1 2 3
Ma trận 2: Bài tập1 kéo dài 10 phút,các bài tập khác kéo dài 5
phút. Thời gian quay vòng
cũng sau 10
phút
7. Quy trình tổ chức dạy học theo nhóm
Quy trình tổ chức giờ học theo nhóm bao gồm 4 bước cơ bản:
- Điểm xuất phát: Giáo viên Học sinh Đối tượng học tập
- Bước 1: Hướng dẫn Tự nghiên cứu Kinh nghiệm cá nhân
- Bước 2: Tổ chức HS HS Kinh nghiệm cá nhân
(hợp tác, thảo luận)
hướng.
- Tự đặt mình vào các tình huống, tự
sắm vai đưa ra cách xử lý tình
huống, trao đổi ý kiến, thảo luận
trong nhóm, xử lý thông tin.
-Tự ghi lại ý kiến theo chủ kiến của
mình, khai thác những gì đã hợp tác
với bạn hoặc tham khảo thêm ý kiến
của GV để bổ sung sản phẩm ban
đầu của mình
Bước 3
- Yêu cầu mỗi nhóm báo cáo kết
quả.
- Ghi lại những điểm nhất trí và
chưa nhất trí, những khía cạnh mà
các nhóm bỏ qua.
- Tổ chức thảo luận toàn lớp
- Đại diện các nhóm trình bày, bảo
vệ sản phẩm của mình trước lớp.
- Tỏ thái độ trước những ý kiến của
các nhóm khác,
- Khai thác bổ sung ý kiến của các
nhóm khác, điều chỉnh sản phẩm
của nhóm mình.
Bước 4
- Tóm tắt từng vấn đề.
- Đưa ra những nhận xét đánh giá
về kết quả của từng nhóm, từ đó
đưa ra các kết luận khoa học
- Giáo viên tổng kết, đặt vấn đề
nước
III. Tổ chức: Hoạt động nhóm 2 HS, thảo luận nội dung Phiếu học tập học tập
sau:
Phiếu học tập :
- Hãy kể tên các liên kết hoá học mà em biết?
- Quan sát hình 7.2 và 7.3 SGK 1 trang 27, em hãy phân tích để chỉ ra các liên
kết bền vững và các liên kết yếu, qua đó em hãy cho biết liên kết hoá học là gì?
2 Thiết kế hình thức dạy học theo nhóm 4-5 HS hoặc 7-8 HS:
- Ví dụ : Kiến thức các cấp độ tổ chức của sự sống
I. Mục tiêu: Sau khi học xong kiến thức này, HS phải:
- Hiểu được thế giới sống là một hệ thống mở có tổ chức phức tạp theo cấp
44
bậc lệ thuộc
- Phân biệt được các cấp độ tổ chức của hệ thống sống
- Giải thích được sự đa dạng và thống nhất giữa các cấp tổ chức
- Vẽ được sơ đồ các cấp tổ chức sống từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức
tạp
II. Nội dung chính:
* Đặc điểm nổi bậc của sự sống là có tổ chức phức tạp gồm nhiều cấp độ: Các
cấp độ đó là: Tế bào ,Cơ thể ,Quần thể ,Loài ,Quần xã , Hệ sinh thái -Sinh quyển
1. Cấp tế bào:
- Tế bào là đơn vị tổ chức cơ bản của sự sống
- Thành phần chính: Màng sinh chất, chất tế bào và nhân
- Thành phần cấu tạo nên tế bào: Các phân tử; các đại phân tử; các bào quan.
2. Cấp cơ thể:
- Cơ thể đơn bào
- Cơ thể đa bào: Tế bào , mô ,cơ quan ,cơ thể
Như vậy: Cơ thể là một thể thống nhất, gồm nhiều cấp độ tổ chức nhưng hoạt
động rất hoà hợp và thống nhất nhờ có sự điều hoà, điều khiển chung. Do đó, cơ
sau:
Tế bào→ → → cơ thể
- Nếu mô cơ tim, quả tim cũng như hệ tuần hoàn bị tách ra khỏi cơ thể chúng có
hoạt động co rút, bơm máu và tuần hoàn máu được không? Tại sao?
-Em hãy kể tên và chức năng 1 số mô, cơ quan, hệ cơ quan mà em biết?
Phiếu học tập 3: (nhóm 3)
- Em hãy đọc thông tin trong SGK và cho biết, tại sao nói quần thể là đơn vị
sinh sản và tiến hóa? Cho ví dụ về quần thể? Có nhận xét gì về các cá thể trong
quần thể?
- Em biết gì về đơn vị phân loại loài?
- Quần thể có tương ứng bằng loài không? Vì sao?
Phiếu học tập 4: (nhóm 4)
-Tìm ví dụ về quần xã? Khái niệm quần xã?
- Vì sao ở cấp quần xã sinh vật giữ được mức cân bằng?
- Hãy sắp xếp tên các quần xã tương ứng theo nhiều cách gọi:
+Theo địa điểm phân bố
+Theo chủng loại phát sinh
+ Theo dạng sống
+Theo loài hay nhóm sinh vật SV ưu thế
Quần xã tương ứng
a.Quần xã(QX) thực vật ven hồ, QX động vật hoang mạc
46
b.QX SV đồng cỏ, QX cây bụi, QX sồi dẻ…
c. QX SV bãi triều, QX SV núi đá vôi…
d. QX SV nổi, QX SV tự bơi…
Phiếu học tập 5: (nhóm 5 )
- Tìm ví dụ về hệ sinh thái? Khái niệm hệ sinh thái?
- Cho biết cấp độ tổ chức sống cao nhất và lớn nhất của hệ thống sống là gì? Vì
sao?
Ví dụ : Kiến thức Cacbon hiđrat (bài 8)
I. Mục tiêu: Sau khi học xong kiến thức này, HS phải:
- Liệt kê được tên các loại đường đơn, đường đôi, đường đa có trong các cơ
thể sinh vật và phân biệt được các loại đường này
- Nêu được chức năng của từng loại đường trong cơ thể sinh vật.
II. Nội dung chính:
* Cacbon hiđrat: Là hợp chất hữu cơ đơn giản chỉ chứa 3 loại nguyên tố,
công thức cấu tạo chung: C
n
(H
2
O)
n
và được chia thành các loại: Monosaccarit,
disaccarit, polisaccarit.
1. Monosaccarit:
- Công thức cấu tạo phân tử: C
6
H
12
O
6
, tồn tại ở dạng mạch thẳng và mạch
vòng
- Có tính khử mạnh
- Vai trò: +Tham gia tạo axit nuclêic (đường ribôzơ và đường đêoxiribôzơ)
+ Nguồn năng lượng của tế bào (glucôzơ, fructôzơ và galactôzơ)
2.Disaccarit:
- CTCTPT: C
12
Phiếu học tập 3:
- Đường phức được hình thành như thế nào? Kể tên các đường phức mà em biết?
- Chức năng của đường phức?
Phiếu học tập 4: (Phát cho HS sau khi HS trở về nhóm gốc)
- So sánh đường đôi và đường đơn?
- Đường phức có gì khác với đường đôi và đường đơn?
5. Thiết kế hình thức dạy học theo kiểu hoạt động trà trộn
Ví dụ 1: Kiến thức Các nguyên tố cơ bản của của tế bào (bài 7)
I. Mục tiêu: Sau khi học kiến thức này, HS phải:
- Kể tên được các nguyên tố cơ bản của vật chất sống
- Trình bày được tính thống nhất về vật chất giữa giới vô cơ và giới hữu cơ
II. Nội dung chính:
1. Những nguyên tố cơ bản của tế bào: O, C, H, N, Ca, P, K, S, Cl, Na, Mg,
Fe
- Những nguyên tố này có những tính chất lý hoá phù hợp với cơ thể sống
và các nguyên tố cấu trúc nên cơ thể sống có bản chất hoá học hoàn toàn giống
với các nguyên tố đó ở ngoài tự nhiên
III. Tổ chức: Hoạt động trà trộn để thực hiện nội dung học tập sau:
Phiếu học tập
1. Em hãy kể tên các nguyên tố hoá học mà em biết? Có khoảng bao nhiêu
nguyên tố cấu thành nên cơ thể sống?
2. Vì sao trong tự nhiên có nhiều nguyên tố nhưng chỉ có chừng đó nguyên tố cấu
thành nên cơ thể sống?
3. Tại sao các tế bào khác nhau nhưng lại được cấu tạo chung từ một số nguyên
tố nhất định?
4. Các nguyên tố cấu trúc nên cơ thể sống có giống với các nguyên tố ở ngoài tự
nhiên không? Qua đó ta rút ra kết luận gì?
49
- Ưa ẩm: Nhiệt độ thích hợp 20- 40
o
C
- Ưa nhiệt: + Ưa nhiệt: 55- 65
o
C
+ Rất ưa nhiệt: 75-80
o
C
50
+ Cực kỳ ưa nhiệt: 95-100
o
C
Nhiệt độ thích hợp là nhiệt độ mà vi khuẩn sinh trưởng mạnh mẽ nhất.
2. pH: Dựa vào pH thích hợp của VSV, chia thành 3 nhóm:
- Ưa trung tính: pH từ 6 đến 8 và ngừng sinh trưởng ở: pH < 4 hoặc pH > 9
- Ưa axit: pH từ 4 đến 6
- Ưa kiềm: pH < 9. đôi khi pH >11
3. Áp suất thẩm thấu:
- Khi sinh trưởng trong môi trường nước có nồng độ chất hoà tan cao hơn
nồng độ nội bào, nước bên trong tế bào sẽ bị rút ra ngoài dẫn đến hiện tượng
co nguyên sinh và sinh trưởng bị kiềm hãm. Ngược lại nếu môi trường có
nồng độ chất hoà tan quá thấp, nước từ bên ngoài sẽ xâm nhập vào tế bào
IV. Hoạt động dạy học:
Hoạt động của GV Hoạt động của HS
*Bước 1: Đặt vấn đề:
Chiếu nội dung phiếu 1 qua đèn
overhead, cho HS thảo luận ở nhóm
gốc.
Sau khi biết được các yếu tố vật lý ảnh
nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng
* Nhận các Phiếu học tập , phân
công nhiệm vụ cho từng thành
viên.
* Về các nhóm chuyên sâu hoạt
động, thảo luận giải quyết các vấn
đề học tập
- Không xác định được.
- Hiểu được vấn đề, suy luận và
biết được: Sự phân định các nhóm
sinh vật trên không phải là tuyệt
đối mà thường giới hạn giữa các
nhóm có phần xen cài lên nhau
- Chưa tìm ra hướng giải quyết
- Thành tế bào vi khuẩn cứng nên
tế bào vi khuẩn sẽ không bị vỡ do
51
bào vi khuẩn.
*Bước 3: Yêu cầu HS trở về nhóm gốc,
các chuyên gia báo báo lại kết kết quả
mình đã học tập được ở nhóm chuyên
sâu
* Phát bài tập cho các nhóm gốc
* Bước 4: Cùng HS thảo luận sửa bài
tập và giải đáp các vấn đề HS còn bỏ
lửng hoặc HS chưa hiểu
* Nhận xét, đánh giá hiệu quả học tập
các nhóm. Có thể cho điểm thưởng các
nhóm hoạt động tốt
áp suất nội bào tăng lên, do có
…………………………
gọi là pH
Giá trị pH……………….
-Dựa vào pH thích hợp, ta
chia 3 nhóm VSV:
+
+
+
-Vd về hiện tượng
thẩm thấu của VSV?
-Cơ chế cân bằng áp
suất thẩm thấu của
VK biển:…
……………………
………
……………………
……
Ứng dụng: Ứng dụng: Ứng dụng:
52
* Các Phiếu học tập học tập được sử dụng trong tiết học:
Phiếu học tập 1: (HS thảo luận ở nhóm gốc)
- Giải thích vì sao về mùa hè ta để thức ăn thường mau bị ôi thiu hơn mùa
đông?
- Căn cứ vào nhu cầu sinh trưởng, nếu phải nuôi một chủng nấm men để thu
sinh khối, em sẽ cung cấp cho chúng những điều kiện gì?
- Ngoài nhu cầu dinh dưỡng, vi sinh vật đòi hỏi nhu cầu vật lý nào để tồn tại
và phát triển?
Phiếu học tập 2:
- Dựa trên phạm vi nhiệt độ sinh trưởng dưới đây, hãy nêu các nhiệt độ cực đại,
ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ NHẬN THỨC CHO HỌC SINH
1. Thành phần nhóm
- Tuỳ thuộc vào mục đích sư phạm và yêu cầu của vấn đề học tập mà ta
có nhiều cách chia nhóm Thông thường để đảm bảo học sinh cùng làm việc nên
xếp mỗi nhóm từ 2 đến 8 học sinh. Các nhóm được duy trì ổn định trong cả tiết
học hoặc thay đổi theo từng hoạt động, từng phần của tiết học. Khi thành lập
nhóm học tập tại lớp, cần lưu ý:
+ Nhịp điệu làm việc của các thành viên trong nhóm.
+ Trình độ học lực của các cá nhân trong nhóm.
+ Mối quan hệ giữa học sinh với nhau.
- Các nhóm HS có khả năng khác nhau có thể làm việc cùng nhau rất tốt,
tuy nhiên vẫn phải tạo điều kiện cho những học sinh có cùng khả năng, đặc biệt
là những học sinh có khả năng cao làm việc cùng nhau. Chẳng hạn những học
sinh có khả năng cao có thể đóng vai trò “giáo viên” giúp cho việc học tập nhóm
để những HS khác dễ dàng học hỏi bạn mình. Nhóm nói chung là không có nhóm
trưởng mà chỉ thay nhau làm đại diện cho nhóm trong những thời điểm nhất
định. Song, trong hoàn cảnh trình độ tổ chức của các thành viên còn yếu thì có
thể cử nhóm trưởng trong thời gian đầu. Khi các thành viên nhóm đã quen dần
với việc tổ chức học nhóm thì có thể loại bỏ. Tất nhiên, nhóm trưởng phải là
người có kết quả học tập tương đối tốt, có ý thức giúp đỡ các thành viên trong
nhóm.Các nhóm sẽ làm việc tốt nhất nếu các HS hài hoà được kỹ năng hợp tác.
54
- Xây dựng đồng đội là việc làm cần thiết để giúp vượt qua những vấn đề
khác nhau gắn liền với việc cùng làm việc. Do đó, giáo viên phải dạy cho học
sinh các kỹ năng xây dựng đồng đội bao gồm:
+ Khả năng hiểu được nhu cầu của người khác và biết nhận lượt mình.
+ Khả năng biểu đạt được một quan điểm.
+ Khả năng nghe quan điểm của người khác.
+ Khả năng đáp lại, đặt câu hỏi, thảo luận, tranh luận và lập luận.
- Để học sinh có được những kỹ năng trên, giáo viên cần cho học sinh
55
vấn đề cùng quan tâm, trao đổi các quan điểm khác nhau nhằm đạt tới một sự
hiểu biết chung về vấn đề đó.
Thảo luận là một hình thức không thể thiếu được trong tổ chức hoạt động
nhóm trong dạy học. Hình thức thảo luận có tác dụng phát huy cao độ tính tích
cực, tính độc lập của cá nhân kết hợp với sự giúp đỡ, sự hợp tác với nhau để cùng
giải quyết vấn đề đặt ra, giúp học sinh trình bày và bảo vệ ý kiến của mình trước
một số đông người.
Để tổ chức thảo luận có hiệu quả:
- GV phải chú ý đến việc bố trí chỗ ngồi sao cho mọi HS tham gia thảo
luận có thể nhìn thấy mặt nhau một cách rõ ràng (có thể xếp lại bàn ghế hoặc bàn
ghế đã sắp sẵn cho HS chỉ cần đổi hướng)
Trong dạy học qua thảo luận GV không nên can thiệp sâu vào cuộc thảo
luận, thể hiện đúng vai trò của mình:
+ GV với tư cách chuyên gia: Trong nhiều tình huống GV cần phải đóng
vai trò chuyên gia, duy trì sự chú ý của các cá nhân hay các nhóm, dẫn dắt HS
đến những cấp độ hiểu biết cao hơn thông qua các phương pháp dạy học trực
tiếp. Ví dụ: Nội dung HS thảo luận: “Pha tối quang hợp không phụ thuộc vào
pha sáng có chính xác không?”
Qua thảo luận HS chỉ biết được là pha tối có phụ thuộc vào pha sáng
nhưng không giải thích được vì sao.
GV có thể gợi ý: Sản phẩm của pha sáng là gì? Nguyên liệu pha tối sử
dụng? Nếu không có ánh sáng kéo dài thì pha tối có xảy ra không?
Qua sự gợi ý này, chắc chắn HS sẽ hiểu đầy đủ và giải quyết chính xác được vấn
đề đưa ra.
+ GV với tư cách là người tạo điều kiện: Trong khi các nhóm thảo luận,
HS có thể tự do tìm hiểu các ý tưởng và cộng tác với nhau, GV không cần
thường xuyên tham vấn, GV chỉ nên can thiệp khi các nhóm bị lạc đề. GV nên
can thiệp bằng cách tổ chức thêm các tình huống cho HS làm việc theo nhóm.
Ví dụ: Nội dung HS thảo luận: “Các đại phân tử như prôtêin, axit nuclêic,
bày ngắn gọn mục đích, yêu cầu và nội dung vấn đề thảo luận (nội dung thể hiện
trong các Phiếu học tập giao việc, bằng lời nói )
- Trong học tập qua thảo luận, một số HS luôn ở trạng thái thụ động, HS
không phát biểu có nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân lớn nhất vẫn là sự
nhút nhát. Để giái quyết tình trạng này, GV nên chia HS thành những nhóm nhỏ
để thảo luận, có thể thảo luận theo cặp trước khi thảo luận chung. Gọi tên HS để
khuyến khích tham gia thảo luận. Cách tốt nhất để khuyến khích HS ít phát biểu
tham gia thảo luận là yêu cầu HS đóng góp ý kiến về lĩnh vực mà HS đó hiểu
một cách thấu đáo hoặc đặt câu hỏi trước cho cả lớp, giao nhiệm vụ cho HS
chuẩn bị và chỉ định HS sẽ báo cáo vấn đề thảo luận trước lớp.
- Đôi khi để có sự thay đổi trong tổ chức học tập, thông thường các nhóm
sau khi thảo luận để giải quyết các vấn đề trong Phiếu học tập giao việc sẽ có đại
diện các nhóm lên trình bày kết quả thảo luận của nhóm, ta có thể cho các nhóm
sau khi thảo luận không báo cáo kết quả, mà đưa ra các vấn đề mà nhóm chưa
giải quyết được để các nhóm khác giải quyết hoặc GV giúp giải quyết (GV với
tư cách là người tham gia). Sau đó trên tinh thần các vấn đề học tập đã được giải
quyết, GV gọi bất kỳ HS trình bày các vấn đề học tập còn lại.
- Khi những người phát biểu tranh luận những vấn đề vụn vặt, không
trọng tâm hoặc trình bày những vấn đề xuôi chiều, GV có thể hướng sự thảo luận
lại và nêu lên những vấn đề mâu thuẫn với ý kiến chung của những người tham
gia thảo luận. Ngoài ra, GV phải nhận xét thêm về tinh thần, thái độ chuẩn bị của
cả lớp, của các cá nhân đặc biệt sau đó đánh giá cho điểm.
- Việc cho HS thảo luận thường xảy ra tình trạng cháy giáo án, có thể khắc
phục bằng cách chỉ cho HS thảo luận những vấn đề trọng tâm đồng thời xác định
57