BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2 HOÀNG ĐỨC HƢNG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NHÓM TRONG
DẠY HỌC CHƢƠNG “DÒNG ĐIỆN XOAY
CHIỀU” - VẬT LÍ 12 THPT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI, 2014
LỜI CẢM ƠN
Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc, chân thành tới thầy hướng dẫn khoa
học TS Nguyễn Thế Khôi đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ bộ môn Vật lí, các
đồng nghiệp ở trường THPT Liên Hà – Đông Anh – Hà Nội, nơi tôi công tác,
đã đóng góp ý kiến, động viên, khích lệ tôi trong quá trình thực hiện luận văn.
Có được kết quả như ngày hôm nay tôi xin cảm ơn đến công sức của
gia đình, những người thân, luôn sát cánh và động viên, giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 11 năm 2014
Tác giả
Hoàng Đức Hưng
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình ngiên cứu của riêng tôi, các số
liệu và kết quả nghiên cứu ghi trong luận văn là trung thực, chưa được công
bố ở luận văn nào khác.
Hà Nội, tháng 11 năm 2014
TS
Tiến sĩ
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Trang
1. Lý do chọn đề tài
1
2. Mục đích nghiên cứu
3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3
4. Giả thuyết khoa học
3
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
3
6. Phương pháp nghiên cứu
3
7. Đóng góp của đề tài
4
8. Cấu trúc luận văn
4
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI TỔ
CHỨC HOẠT ĐỘNG NHÓM TRONG DẠY HỌC Ở TRƢỜNG
39
1.3.2. Kết quả điều tra
39
Kết luận chƣơng 1
43
Chƣơng 2. TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NHÓM TRONG DẠY HỌC
CHƢƠNG “ DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU” – VẬT LÍ 12 THPT
45
2.1. Mục tiêu dạy học chương “ Dòng điện xoay chiều”
45
2.1.1. Nội dung kiến thức chương “ Dòng điện xoay chiều”
45
2.1.2. Sơ đồ cấu trúc nội dung chương “ Dòng điện xoay chiều”
53
2.1.3. Mục tiêu dạy học chương “ Dòng điện xoay chiều”
54
2.2. Thiết kế tiến trình dạy học kiến thức chương “ Dòng điện xoay
chiều”
54
2.2.1. Mạch điện xoay chiều chỉ có điện trở, chỉ có tụ điện, chỉ
có cuộn cảm thuần
54
2.2.2. Mạch có R, L, C mắc nối tiếp…
74
Kết luận chƣơng 2
82
Chƣơng 3 : THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM
3.1. Mục đích thực nghiệm sư phạm
TÀI LIỆU THAM KHẢO
103
PHỤ LỤC
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong bất cứ một xã hội nào, khi trình độ văn minh của loài người ngày càng
cao, giáo dục càng trở nên một vấn đề thiết yếu. Mỗi nền văn minh đều mong muốn
thực hiện qua nhà trường một xã hội lý tưởng, đào tạo những công dân gương mẫu.
Nhân loại đang bước vào thế kỷ 21, thế kỷ của nền kinh tế tri thức. Đất nước
ta đang trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong thời kỳ hội nhập và phát
triển. Tình hình đó đặt nền giáo dục của nước ta trước những nhiệm vụ hết sức nặng
nề, phải đào tạo HS trở thành những người lao động sáng tạo, năng động, thích ứng
với mọi sự phát triển đa dạng với tốc độ nhanh chóng của xã hội, những con người
toàn diện đáp ứng được nhu cầu, năng lực trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất
nước.
Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật với sự bùng nổ
thông tin khoa học đã làm cho kho tàng tri thức phát triển một cách đáng kể. Do đó,
mâu thuẫn vốn có giữa quỹ thời gian dành cho việc dạy học trong nhà trường và
khối lượng kiến thức cần trang bị cho HS ngày càng trở nên gay gắt. Để giải quyết
vấn đề này, Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII của Ban Chấp hành Trung ương
Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ và cụ thể: “ Đổi mới mạnh mẽ phương pháp
giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng
tạo của người học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện
hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu
cho học sinh…”[4]
Trong giai đoạn năm 2001-2010, giáo dục Việt Nam đề ra yêu cầu tạo
chuyển biến cơ bản và toàn diện về giáo dục, đặc biệt tạo ra bước chuyển mạnh mẽ
về chất lượng giáo dục theo hướng tiếp cận với trình độ tiên tiến của thế giới, phù
- Tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học chương “ Các định luật bảo
toàn” – Vật lí 10 THPT. Chẩu Văn Vụ. Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục ĐHSP
Hà Nội 2. 2013.
3
Việc nghiên cứu tổ chức hoạt động nhóm chương “ Dòng điện xoay chiều” –
Vật lí 12 THPT chưa được nhiều tác giả quan tâm tới.
Xuất phát từ vấn đề trên chúng tôi chọn đề tài : TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG
NHÓM TRONG DẠY HỌC CHƢƠNG “DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU” -
VẬT LÍ 12 THPT
2. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu nội dung và cách thức tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học
chương “ Dòng điện xoay chiều” - Vật lí 12 THPT nhằm phát huy tính tích cực, tự
lực của HS.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động dạy học vật lí của GV và HS lớp 12
THPT
- Phạm vi nghiên cứu: Tổ hoạt động nhóm cho HS trong dạy học thuộc
chương “ Dòng điện xoay chiều” - Vật lí 12 THPT
4. Giả thuyết khoa học
Nếu thiết kế và tổ chức dạy học chương “ Dòng điện xoay chiều” theo hướng
hoạt động nhóm thì sẽ phát huy tính tích cực, tự lực của HS 12 THPT.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc tổ chức hoạt động theo nhóm nhằm
phát huy tính tích cực, tự lực của HS.
5.2. Tìm hiểu thực tế dạy học chương “ Dòng điện xoay chiều” - Vật lí 12
THPT.
5.3.Thiết kế và tổ chức dạy học chương “ Dòng điện xoay chiều” Vật lí 12
THPT theo hoạt động nhóm.
5.4. Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra giả thuyết khoa học của
đề tài.
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA TỔ CHỨC HOẠT
ĐỘNG NHÓM TRONG DẠY HỌC CHƢƠNG “DÒNG ĐIỆN XOAY
CHIỀU” - VẬT LÍ 12 THPT
1.1. Tính tích cực và tự lực học tập của HS
1.1.1. Mục tiêu của giáo dục trong giai đoạn hiện nay
Mục tiêu dạy học bộ môn Vật lí ở trường THPT được đề ra từ mục tiêu của
giáo dục nói chung. Điều 28 Luật Giáo dục của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam năm 2005 về yêu cầu của phương pháp giáo dục phổ thông là: “ Phương
pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác chủ động, sáng tạo của
học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng năng lực tực
học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực
tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú cho HS ” [10].
1.1.2. Mục tiêu của giáo dục ở THPT
Luật Giáo dục của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cho thấy mục
tiêu giáo dục của nước ta ở cấp THPT trong giai đoạn hiện nay đã được xác định
thông qua những yêu cầu của xã hội đối với người lao động, đó là :
- Có khả năng áp dụng những gì đã học vào trong lao động sản xuất.
- Có tính độc lập, luôn làm chủ bản thân.
- Có sự cầu tiến trong cuộc sống.
- Có khả năng làm việc theo nhóm.
- Biết lên kế hoạch hợp lý trong công việc và cả trong nhu cầu cuộc sống
nhằm tạo sự vui vẻ hứng thú trong công việc.
1.1.3. Mục tiêu dạy học Vật lí ở trường THPT hiện nay:
Đổi mới dạy học ở trường THPT theo hướng đảm bảo được sự phát triển
năng lực sáng tạo của HS, bồi dưỡng, tư duy khoa học, năng lực tự tìm tòi chiếm
lĩnh tri thức, năng lực giải quyết vấn đề để thích ứng được với thực tiễn cuộc sống,
với sự phát triển của nền kinh tế tri thức [13].
Với sự kết hợp hài hòa giữa các mục tiêu nhân văn, đáp ứng nhu cầu học tập
và phát triển của cá nhân, của các phong cách học tập khác nhau với mục tiêu
6
của môn vật lí nói riêng cũng như các môn học khác đạt được kết quả khả quan nếu
biết điều chỉnh một cách hợp lý, nhất là điều chỉnh về phương pháp.
1.1.4. Tính tích cực học tập
1.1.4.1. Quan niệm
Tính tích cực là một thuộc tính nhân cách, nó liên quan và phụ thuộc vào
các thuộc tính khác như thái độ, nhu cầu, hứng thú và động cơ chủ thể…Tính tích
cực luôn gắn với một hoạt động cụ thể nào đó. Nó nằm trong hoạt động, biểu hiện
qua hành động và ảnh hưởng lớn đến kết quả hành động.
Theo GS.TSKH. Thái Duy Tuyên: “ Tính tích cực trong học tập là một hiện
tượng sư phạm biểu hiện ở sự cố gắng cao về nhiều mặt trong học tập [17].
Theo GS. TS TRần Bá Hoành: “ Tính tích cực nhận thức là thái độ cải tạo
của chủ thể đối với khách thể thông qua sự huy động ở mức độ cao các chức năng
tâm lí nhằm giải quyết các vấn đề học tập – nhận thức. Nó vừa là mục đích hoạt
động, vừa là phương tiện, điều kiện để đạt được mục đích, vừa là kết quả của hoạt
động”[6].
Con người chỉ thực sự nắm vững cái mà chính mình đã giành được bằng hoạt
động của bản thân. HS sẽ thông hiểu và ghi nhớ những gì mình đã trải qua hoạt
động nhận thức tích cực của mình, trong đó các em đã phải cố gắng, nỗ lực hết
mình, đó là chưa nói lên tới một trình độ nhất định thì sự học tập tích cực sẽ mang
tính nghiên cứu khoa học và người học cũng làm ra kiến thức mới cho nhân loại.
Theo chúng tôi tính tích cực học tập của HS vừa biểu hiện ở những hoạt
động trí tuệ vừa biểu hiện ở những hoạt động cơ bắp thường đi liền với nhau. Người
học - đối tượng của hoạt động “ dạy”, đồng thời là chủ thể của hoạt động “ học”
được cuốn hút vào các hoạt động học tập do GV tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự
lực khám phá những điều mà mình chưa biết rõ chứ không phải thụ động tiếp thu
những tri thức đã được GV sắp đặt trước. Được đặt vào những tình huống của đời
sống thực tế, người học trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn
đề đặt ra theo cách suy nghĩ của riêng mình, từ đó nắm kiến thức, kĩ năng mới, vừa
8
nắm được phương pháp tìm ra kiến thức, kĩ năng đó, không dập khuôn mẫu sẵn có,
phê phán trong tư duy, trí tò mò khoa học, sự sáng tạo trong học tập…
- Sự tự giác: là dấu hiệu cơ bản của tính tích cực. Đó là việc quan tâm đến
môn học, tự giác học tập, không bị bắt buộc bởi các tác nhân bên ngoài như gia đình,
bạn bè.
- Sự chú ý trong học tập: tính tích cực còn thể hiện trong việc tập trung, chú
ý nghe giảng, học và làm bài, hứng thú trong học tập. Tính tích cực cao sẽ kéo dài
thời gian chú ý, tập trung học tập.
- Sự quyết tâm trong học tập: tính tích cực học tập còn thể hiện trong việc
HS có quyết tâm, nổ lực vượt qua khó khăn trong học tập.
- Kết quả học tập: nó thể hiện tính tích cực học tập. HS ghi nhớ tốt những
điều đã học hay không? Có hiểu bài học không? Có vận dụng những điều đã học
vào thực tiễn hay không? Có hoàn thành nhiệm vụ được giao hay không? Tiếp thu
bài giảng có nhanh không?
1.1.4.3.Một số biện pháp phát huy tính tích cực trong học tập.
Để phát huy tính tích cực của HS, ta cần phát huy rất nhiều yếu tố từ cả GV
lẫn HS. Ví dụ như :
- Chuẩn bị về năng lực : gồm hai phần chính.
+ Nâng cao năng lực chuyên môn cho người GV vật lí: nâng cao các kỹ
năng thí nghiệm, các kỹ năng giải bài tập, kỹ năng nghiên cứu khoa học…
+ Nâng cao trình độ nghiệp vụ sư phạm: nâng cao kỹ năng dạy học, kỹ
năng sử dụng các phương tiện dạy học.
- Sử dụng các PPDH một cách linh hoạt: GV phải có sự đầu tư đích đáng
không chỉ ở kiến thức chuyên môn mà còn cả cách sử dụng, phối hợp các PPDH
hiệu quả. Khi người giáo viên biết khéo léo đưa vào bài giảng những thí nghiệm vui,
lý thú, hấp dẫn, thực tế, hay những câu chuyện vật lý hóm hỉnh thì HS sẽ dễ dàng
tham gia vào bài học một cách hứng thú, tò mò. Điều này sẽ kích thích HS hoạt
động, suy nghĩ, tìm tòi và sáng tạo.
10
- Tích cực hóa hoạt động của HS: là sử dụng các biện pháp dạy học làm
chuyển biến việc học từ chỗ là sự học, sự bắt chước, sự tái hiện, sự ghi nhớ, sao
- Câu hỏi phải vừa sức đối với HS, phù hợp với trình độ, điều kiện học tập
và thời gian trả lời. Câu hỏi không nên quá khó làm HS không thể trả lời được,
nhưng cũng không quá dễ sẽ làm cho HS không có cơ hội tư duy.
- Câu hỏi phải định hướng rõ ràng, nhằm đúng bản chất vấn đề, trọng tâm
bài học. Khi chia nhỏ vấn đề thì các câu hỏi phải liên hệ với nhau, mang tính khái
quát hóa.
- Câu hỏi phải ngắn gọn nhưng tránh những câu hỏi mà HS sẽ trả lời đúng
hoặc sai vì câu hỏi dạng này làm cho HS thói quen trả lời theo đoán mò, may rủi.
- Câu hỏi chứa đựng mâu thuẫn sẽ là yếu tố kích thích sự tập trung chú ý của
HS.
1.1.5. Tính tự lực trong học tập
1.1.5.1. Quan niệm
Hiện nay, Việt Nam đang xây dựng nền kinh tế trí thức vì vậy tri thức không
những là sản phẩm và vốn quí nhất của con người mà nó còn có vai trò cực kỳ
quan trọng là “dùng trí thức để tạo ra trí thức mới” và được bổ sung liên tục theo
kiểu cấp số nhân. Do đó mà lượng kiến thức một người học được trong nhà trường
từ phổ thông đến đại học trở nên ít ỏi và mau chóng lạc hậu, không đủ dùng trong
suốt cuộc đời. Vì vậy để thích ứng với nền kinh tế trí thức, trong sự bùng nổ thông
tin, bùng nổ về khoa học kỹ thuật thì việc học tập suốt đời mặc nhiên trở thành một
nhu cầu tất yếu của mọi người, buộc mỗi thành viên trong xã hội phải luôn là một
HS, phải học tập thường xuyên dù đang ở cương vị nào, độ tuổi nào. Nhưng để học
tập thường xuyên, học suốt đời có kết quả thì phải biết tự học vì làm gì có thầy hàng
ngày, bên cạnh ta suốt đời. Tuy nhiên để có khả năng cũng như biết cách tự học thì
có lẽ vai trò của người GV trong việc bước đầu giúp HS hình thành khả năng tự lực
trong học tập ở cấp phổ thông là khá quan trọng, là tiền đề cho khả năng tự học khi
lớn lên. Vậy thế nào là tính tự lực trong học tập?
12
Theo GS.TSKH. Thái Duy Tuyên[17]: Tính tự lực là một tronh những phẩm
chất trung tâm của nhân cách. “ Nếu đặc trưng của tính tích cực là sự nỗ lực của bản
thân, thì đặc trưng của tính tự lực lại là ở mối quan hệ với người khác: không chịu
- Tạo môi trường sư phạm thuận lợi: GV cần phải biết chờ đợi, động viên
giúp đỡ sao cho HS mạnh dạn tham gia thảo luận, phát biểu.
- Tạo điều kiện để HS có thể giải quyết thành công những nhiệm vụ được
giao.
- Rèn luyện cho HS kĩ năng như: quan sát, lắp ráp thí nghiệm…và thao tác tư
duy, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, cụ thể hóa…GV có thể hướng dẫn HS bằng
các câu hỏi mà HS muốn trả lời được thì phải thực hiện mmotj thao tác tư duy nào
đó.
- Hình thành phương pháp tự học cho HS.
- Xây dựng các nhiệm vụ học tập độc lập.
1.2. Dạy học theo nhóm
1.2.1.1. Phương pháp
Thuật ngữ phương pháp trong tiếng Hy Lạp là “méthodos” có nghĩa là con
đường, cách thức hoạt động nhằm đạt được mục đích nhất định. Vì vậy, phương
pháp là hệ thống những hành động tự giác, tuần tự nhằm đạt được những kết quả
phù hợp với mục đích đã định. Địng nghĩa này cho thấy phương pháp có cấu trúc
phức tạp, bao gồm mục đích được đề ra, hệ thống những hành động (hoạt động),
những phương tiện cần thiết (phương tiện vật chất, phương tiện thực hành, phương
tiện trí tuệ), quá trình làm biến đổi đối tượng, kết quả sử dụng phương pháp (mục
đích đạt được). Khi sử dụng đúng phương pháp sẽ dẫn đến kết quả theo dự định.
Nếu mục đích không đạt được thì có nghĩa là phương pháp không phù hợp với mục
đích hoặc không được sử dụng đúng.
Bất kỳ phương pháp nào, dù là phương pháp nhận thức hay phương pháp
thực hành sản xuất, để thực hiện có kết quả vào đối tượng nào đó thì cũng phải biết
được tính chất của đối tượng, tiến trình biến đổi của nó dưới tác động của phương
14
pháp đó. Nghĩa là phải nhận thức những quy luật khách quan của đối tượng mà chủ
thể định tác động vào thì mới đề ra những biện pháp hoặc hệ thống những thao tác
cùng với những phương tiện tương ứng, để nhận thức và để hành động thực tiễn.
1.2.1.2. Phương pháp dạy học
1.2.1.3. Phương pháp dạy học tích cực
Thuật ngữ “Phương pháp dạy học tích cực” được dùng để chỉ những
phương pháp giáo dục – dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo
của người học
Phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của HS có nghĩa là phải thay đổi
cách dạy và cách học. Chuyển cách dạy thụ động, truyền thụ một chiều “đọc- chép”,
GV làm trung tâm sang cách dạy lấy HS làm trung tâm hay còn được gọi là dạy và
học tích cực. Trong cách dạy này HS là chủ thể hoạt động, GV là người thiết kế, tổ
chức, hướng dẫn, tạo nên sự tương tác tích cực giữa người dạy và người học.
Vấn đề phát huy tính tích cực học tập của HS đã được đặt ra trong ngành
giáo dục Việt Nam từ những năm 1960. Ở thời điểm này, các trường sư phạm đã có
khẩu hiệu: “Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo”. Trong cuộc cải cách
giáo dục lần thứ hai, từ năm 1980, phát huy tính tích cực đã là một trong các
phương hướng cải cách, nhằm đào tạo những người lao động sáng tạo, làm chủ đất
nước. Từ đó, trong nhà trường xuất hiện ngày càng nhiều tiết dạy tốt của các GV
giỏi, theo hướng tổ chức cho HS hoạt động, tự lực chiếm lĩnh tri thức mới.
Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, sự thách thức của quá
trình hội nhập kinh tế toàn cầu đòi hỏi phải có nguồn nhân lực, người lao động có
đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của xã hội trong giai đoạn mới. Người
lao động phải có khả năng thích ứng, khả năng thu nhận và vận dụng linh hoạt, sáng
tạo tri thức của nhân loại vào điều kiện hoàn cảnh thực tế, tạo ra những sản phẩm
đáp ứng yêu cầu của xã hội.
Để có nguồn nhân lực trên, yêu cầu đặt ra là phải đổi mới giáo dục, trong đó
có đổi mới mục tiêu giáo dục, đổi mới nội dung giáo dục và phương pháp dạy và
16
học. Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong Nghị
Quyết Trung ương 4 khóa VII (1-1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (12-
1996) và được thể chế hóa trong Luật Giáo dục sửa đổi ban hành ngày 27/6/2005.
Theo PGS.TS. Đỗ Hương Trà Dạy và học tích cực thật sự có hiệu quả khi
GV thực hiện tốt 5 yếu tố tăng cường sự tham gia hoạt động cua HS [16]:
1.2.2.1 Khái niệm dạy học theo nhóm
Dạy học nhóm là một hình thức xã hội của dạy học, trong đó HS của một lớp
học được chia thành các nhóm nhỏ trong khoảng thời gian giới hạn, mỗi nhóm tự
lực hoàn thành các nhiệm vụ học tập trên cơ sở phân công và hợp tác làm việc. Kết
quả làm việc của nhóm sau đó được trình bày và đánh giá trước toàn lớp.
Dạy học nhóm còn được gọi bằng những tên gọi khác nhau như dạy học hợp
tác, dạy học theo nhóm nhỏ. Dạy học nhóm không phải một phương pháp dạy học
cụ thể mà là một hình thức xã hội, hay là hình thức hợp tác của dạy học. Cũng có tài
liệu gọi đây là một hình thức tổ chức dạy học. Tùy theo nhiệm vụ cần giải quyết
trong nhóm mà có những phương pháp làm việc khác nhau được sử dụng. Khi
không phân biệt giữa hình thức và PPDH cụ thể thì dạy học nhóm trong nhiều tài
liệu cũng được gọi là PPDH nhóm. Số lượng HS trong một nhóm thường khoảng 4 -
6 HS. Nhiệm vụ của các nhóm có thể giống nhau hoặc mỗi nhóm nhận một nhiệm
vụ khác nhau, là các phần trong một chủ đề chung.
Dạy học nhóm thường được áp dụng để đi sâu, vận dụng, luyện tập, củng cố
một chủ đề đã học, nhưng cũng có thể để tìm hiểu một chủ đề mới. Trong các môn
khoa học tự nhiên, công việc nhóm có thể được sử dụng để tiến hành các thí nghiệm
và tìm các giải pháp cho những vấn đề được đặt ra. Trong các môn nghệ thuật, âm
nhạc, các môn khoa học xã hội, các đề tài chuyên môn có thể được xử lý độc lập
trong các nhóm, các sản phẩm học tập sẽ được tạo ra. Trong môn ngoại ngữ có thể
chuẩn bị các trò chơi đóng kịch,
Ở mức độ cao, có thể đề ra những nhiệm vụ cho các nhóm HS hoàn toàn độc
lập xử lý các lĩnh vực đề tài và trình bày kết quả của mình cho những HS khác ở
dạng bài giảng.
18
1.2.2.2. Một số hình thức tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học vật lí
Dựa trên cơ sở và nhiệm vụ nhận thức của HS, trong dạy học có thể tổ chức
các hình thức hoạt động nhóm như:
1) Thống nhất về nhiệm vụ nhận thức
Đây là dạng mà các nhóm trong cùng lớp học và các HS trong cùng một