Tổ chức dạy học dự án về ứng dụng kĩ thuật chương dòng điện xoay chiều vật lí 12 THPT - Pdf 30



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2

NGUYỄN TRUNG THÀNH

TỔ CHỨC DẠY HỌC DỰ ÁN VỀ ỨNG DỤNG
KĨ THUẬT CHƢƠNG “DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU”
VẬT LÍ 12 THPT

Chuyên ngành: LL và PPDH bộ môn Vật lí
Mã số: 60 14 01 11 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Thị Hồng Việt

HÀ NỘI, 2014

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết
quả là trung thực và chưa được công bố trong bất kì công trình nghiên cứu
nào khác.
Hà Nội, ngày 10 tháng 12 năm 2014
Tác giả Nguyễn Trung Thành
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 4
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
3.1. Đối tượng nghiên cứu 4
3.2. Phạm vi nghiên cứu 4
4. Giả thuyết khoa học 4
5. Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6. Phương pháp nghiên cứu 5
7. Đóng góp của đề tài 6
8. Cấu trúc đề tài 6
NỘI DUNG 7
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC
DỰ ÁN VỀ ỨNG DỤNG KĨ THUẬT MÔN VẬT LÍ
1.1. Tổng quan 7
1.2. Cơ sở lý luận 8
1.2.1. Dạy học dự án 8

án chế tạo máy bóc vỏ lạc 33
1.3.3. Phân tích kết quả điều tra, tìm giải pháp 34
Kết luận chƣơng 1
Chƣơng 2. XÂY DỰNG TIẾN TRÌNH DẠY HỌC DỰ ÁN VỀ
ỨNG DỤNG KĨ THUẬT CHƢƠNG “DÒNG ĐIỆN XOAY
CHIỀU”
-
VẬT LÍ 12 THPT 38
2.1. Xây dựng tiến trình dạy học dự án về ứng dụng kĩ thuật, nhằm góp
phần phát huy tính tích cực và năng lực sáng tạo cho học sinh THPT 38
2.2. Các hình thức đánh giá 47

2.3. Các tiêu chí đánh giá kết quả hoạt động dự án 48
2.3.1. Tiêu chí đánh giá hoạt động của thành viên trong nhóm 48
2.3.2. Tiêu chí đánh giá quá trình làm việc của nhóm 49
2.3.3. Tiêu chí đánh giá sản phẩm dự án 50
2.4. Phiếu đánh giá 56
2.5. Cách tính điểm 60
2.5.1 Cách tính điểm trung bình các nhóm 60
2.5.2. Cách tính điểm cho mỗi thành viên trong nhóm 60
2.6. Nghiên cứu nội dung, chương trình và xây dựng cấu trúc logic
chương “Dòng điện xoay chiều”

Vật lí 12 THPT 62
2.6.1. Cấu trúc logic nội dung chương “Dòng điện xoay chiều”
-
Vật
lí 12 THPT 62
2.6.2. Chuẩn kiến thức kĩ năng của chương 63
2.7. Xây dựng tiến trình dạy học dự án về một số ứng dụng kĩ thuật

Ban giám khảo
CLB
Câu lạc bộ
CHKQ
Câu hỏi khách quan
CHBH
Câu hỏi bài học
CHND
Câu hỏi nội dung
CNTT
Công nghệ thông tin
DĐXC
Dòng điện xoay chiều
DHDA
Dạy học dự án
ĐH
Đại học
ĐHSPHN
Đại học sư phạm Hà Nội
ĐHSPQG
Đại học sư phạm Quốc Gia
GTSP
Giới thiệu sản phẩm
MPĐ
Máy phát điện
NLST
Năng lực sáng tạo
NT
Nhóm trưởng
NXB

phương pháp và phương tiện dạy học để tạo ra nguồn nhân lực có trình độ
cao, có đầy đủ những phẩm chất, năng lực; giỏi về chuyên môn, vững về tay
nghề, năng động, sáng tạo, tích cực, tự lực, có kĩ năng vận dụng vào thực tiễn.
Đó chính là nhiệm vụ được đặt ra rất cấp thiết đối với ngành giáo dục, vì sản
phẩm của giáo dục chính là con người, mục tiêu của giáo dục chính là đào tạo
ra những con người đáp ứng được nhu cầu của xã hội.
Để đào tạo được nguồn nhân lực có trình độ cao phù hợp với nhu cầu hội
nhập quốc tế thì bắt buộc nền giáo dục nước ta phải đổi mới toàn diện, trong đó
có nội dung, phương pháp giáo dục trong các trường phổ thông sao cho phù
hợp với yêu cầu thực tiễn. Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII đã chỉ rõ “Đổi
mới mạnh mẽ về phương pháp giáo dục – đào tạo, khắc phục lối truyền
thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học, từng bước
áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại và quá trình dạy
học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh…”.
Trước yêu cầu bức thiết đó, ngành Giáo dục đã tiến hành đổi mới mạnh mẽ
phương pháp dạy học (PPDH) theo hướng tích cực hoá hoạt động nhận thức
của học sinh; tăng cường khai thác và sử dụng các PPDH tích cực nhằm rèn
luyện cho học sinh biết cách tự học, tích cực, chủ động và sáng tạo trong việc
phát hiện và giải quyết vấn đề để tự chiếm lĩnh tri thức mới; góp phần giáo dục
kĩ năng sống, tư duy bậc cao và giáo dục toàn diện cho học sinh.
2

Vật lý là một môn học có nhiều ứng dụng quan trọng trong các lĩnh vực
khoa học và đời sống. Những hiện tượng vật lí trong tự nhiên diễn ra vô cùng
phong phú và thú vị. Tuy nhiên, việc dạy học vật lí hiện nay ở trường phổ
thông phần lớn là chỉ tập trung dạy những kiến thức thuần túy và tập trung
vào việc luyện giải bài tập. Điều đó phần nào làm cho học sinh giảm hứng thú
với môn học, làm cho kiến thức học sinh học được ở trường chưa gắn với
thực tiễn. Vì vậy việc gắn liền tri thức được học với những ứng dụng trong
cuộc sống rất cần được quan tâm nghiên cứu.

điều kiện để tổ chức DHDA.
Chương “Dòng điện xoay chiều”
-
Vật lí lớp 12 là một trong những
chương có nhiều kiến thức gắn liền với thực tiễn, các ứng dụng này rất gần
gũi trong cuộc sống của người dân Việt Nam nói chung và tỉnh Nam Định nói
riêng. Vì vậy học sinh có nhiều điều kiện để tiếp cận, tìm tòi các ứng dụng
của lí thuyết vào thực tiễn, tạo cho học sinh cảm giác hứng thú và thiết thực
khi nghiên cứu nó.
Vụ Bản thuộc tỉnh Nam Định là huyện trồng rất nhiều lạc, từ xa xưa
người dân ở đây thường dùng tay để bóc tách, do đó công sức bỏ ra rất nhiều
mà năng suất lao động vẫn rất thấp. Thực ra, ngoài thị trường đã có máy bóc
lạc, tuy nhiên giá bán khá cao: Khoảng 12 000 000 đ nên đại đa số gia đình
không đủ tiền mua máy để sử dụng. Trước thực tiễn đó, câu hỏi đặt ra cho
chúng tôi là: Hãy làm gì để có thể ứng dụng kiến thức về động cơ điện đã học
vào việc có lợi cho việc bóc tách lạc, nhằm giải phóng sức lao động và tăng
năng suất lao động cho người dân huyện Vụ Bản?
Thông qua nghiên cứu và tìm hiểu, hiện nay trên thế giới và ở Việt
Nam đã có một số công trình nghiên cứu về DHDA (sẽ được trình bày ở phần
tổng quan các vấn đề nghiên cứu). Tuy nhiên chưa có đề tài nào nghiên cứu
4

DHDA về ƯDKT chương “Dòng điện xoay chiều”
-
Vật lí 12 tại địa bàn
nghiên cứu Tỉnh Nam Định.
Với những lí do nêu trên, chúng tôi đã chọn đề tài nghiên cứu: "Tổ
chức dạy học dự án về ƢDKT chƣơng “Dòng điện xoay chiều”
-
Vật lí 12

5.2.1. Điều tra thực trạng việc vận dụng DHDA về ƯDKT trong dạy
học chương “Dòng điện xoay chiều ”
-
Vật lí 12 ở địa bàn nghiên cứu.
5.2.2. Điều tra nhu cầu thực tiễn ở địa phương về động cơ điện xoay
chiều và máy biến áp thuộc chương “Dòng điện xoay chiều”
-
Vật lí 12.
5.2.3. Phân tích kết quả điều tra, tìm giải pháp
5.3. Đề xuất tiến trình tổng quát DHDA về ƯDKT môn vật lí ; nhằm phát huy
tính tích cực, năng lực sáng tạo cho học sinh THPT và đáp ứng nhu cầu sản
xuất ở địa phương
5.4. Xây dựng cấu trúc logic nội dung và nghiên cứu nội dung chương trình
chương “Dòng điện xoay chiều”
-
Vật lí 12
5.4.1. Xây dựng cấu trúc logic nội dung chương
5.4.2. Chuẩn kiến thức kĩ năng
5.5. Đề xuất tiến trình DHDA về ƯDKT chương “Dòng điện xoay chiều”
-

Vật lí 12; nhằm phát huy tính tích cực và năng lực sáng tạo cho học sinh
THPT
Trên cơ sở đó chúng tôi dự kiến đề xuất hướng dự án sau: “ Ứng dụng
nguyên lý dòng xoay chiều trong thực tiễn” với 2 dự án thành phần
5.5.1. Hướng dự án về động cơ điện: Chế tạo máy bóc vỏ lạc
5.5.2. Hướng dự án về máy biến áp Chế tạo máy biến áp tăng áp
5.6. Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm chứng giả thuyết khoa học
mà đề tài đã đặt ra
6. Phƣơng pháp nghiên cứu

bày trong 3 chương:
Chƣơng 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của DHDA về ƯDKT.
Chƣơng 2. Xây dựng tiến trình DHDA về ƯDKT chương “Dòng điện
xoay chiều”
-
Vật lí 12.
Chƣơng 3. Thực nghiệm sư phạm.

7

NỘI DUNG

Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC DỰ ÁN
VỀ ỨNG DỤNG KĨ THUẬT

1.1. Tổng quan
Đổi mới giáo dục hiện nay vẫn đang là xu hướng toàn cầu. Để đổi mới
giáo dục, cần phải đổi mới PPDH. Xuất phát từ yêu cầu đó, có rất nhiều đề tài
khoa học nghiên cứu về các PPDH theo hướng phát huy tính tích cực và năng
lực sáng tạo của học sinh, góp phần rèn luyện một cách toàn diện, đầy đủ các
kĩ năng cần thiết cho học sinh. Trong các PPDH đó thì DHDA là phương
pháp được nghiên cứu, khai thác rất thành công và trở thành chiến lược dạy
học ở nhiều nước trên thế giới, tuy nhiên vẫn còn khá mới mẻ ở Việt Nam, cụ
thể là ở các trường phổ thông. Từ năm 2003, hình thức DHDA được Bộ Giáo
dục – Đào tạo kết hợp với công ty Intel Việt Nam triển khai trong chương
trình “Dạy học cho tương lai”. DHDA đã có một số công trình nghiên cứu
như sau:
Chỉ xét đến các đề tài luận văn, DHDA đã được đề cập và nghiên cứu
trong các đề tài sau:

hiện nhằm đạt mục tiêu đề ra” [28].
Dự án hiểu theo nghĩa phổ thông là một đề án, một dự thảo hay một kế
hoạch, trong đó đề án, dự thảo hay kế hoạch này cần được thực hiện nhằm đạt
mục đích đề ra. Khái niệm dự án được sử dụng phổ biến trong hầu hết các
lĩnh vực kinh tế - xã hội như: trong sản xuất, doanh nghiệp, trong nghiên cứu
khoa học cũng như trong quản lí xã hội
9

Trong một dự án, những người tham gia chủ yếu tự lập kế hoạch cho
những gì họ muốn làm và muốn đạt tới. Chính họ tiến hành hầu hết mọi hoạt
động. Trong quá trình đó, những người tham gia học cách đề ra những mục
tiêu thực tế, cách sử dụng thời gian giải quyết các vấn đề theo phân công công
việc và đưa một kế hoạch đi đến kết thúc. Một dự án có sự tham gia của nhiều
chuyên gia, ví dụ như chuyên gia thẩm định, nhân viên marketing…
Chúng tôi thấy rằng khái niệm dự án đã đi từ lĩnh vực kinh tế, xã hội
vào lĩnh vực giáo dục, đào tạo không chỉ với ý nghĩa là các dự án phát triển
giáo dục mà còn được sử dụng như một phương pháp dạy học.
 Dạy học dự án
Theo Đỗ Hương Trà: “DHDA là một mô hình dạy học lấy học sinh làm
trung tâm, nó giúp phát triển kiến thức và các kỹ năng liên quan thông qua
quá trình học sinh giải quyết một bài tập tình huống gắn với thực tiễn bằng
những kiến thức theo nội dung môn học – được gọi là dự án. Dự án đặt học
sinh vào vai trò tích cực như: người giải quyết vấn đề, người ra quyết định,
điều tra viên hay người viết báo cáo…” [29].
DHDA khuyến khích học sinh tìm tòi, hiện thực hoá những kiến thức
đã học trong quá trình thực hiện và tạo ra những sản phẩm của chính mình.
Chương trình DHDA được xây dựng dựa trên những câu hỏi định hướng quan
trọng, lồng ghép các chuẩn nội dung và tư duy bậc cao trong những bối cảnh
thực tế. Bài học thiết kế theo dự án chứa đựng nhiều kỹ thuật dạy học khác
nhau, có thể lôi cuốn được mọi đối tượng học sinh không phụ thuộc vào cách

thông tin, có sự đánh giá, lựa chọn các công cụ (kiến thức, công nghệ…) để
thực hiện các nhiệm vụ học tập, tạo ra một tổng thể kiến thức mới khác với
nội dung của bài học.
11

Khác với dạy học truyền thống, tư duy phát triển một cách tuần tự và
có giới hạn, kiến thức tiếp nhận sau quá trình học trên lớp chỉ dừng lại ở mức
độ biết hoặc hiểu, còn để thực sự hiểu học sinh phải giải thật nhiều bài tập vận
dụng, trình độ tư duy theo mô hình dạy học như vậy thường chỉ đến mức độ
vận dụng, học sinh cũng rất khó có thể thiết lập một tổng thể kiến thức mới
hay vận dụng một cách sáng tạo vào giải quyết các vấn đề thực tiễn.
*/ Hướng tới phát triển kĩ năng sống
Hợp tác, giao tiếp, quản lý, tổ chức, điều hành, ra quyết định, tích hợp
công nghệ thông tin vào giải quyết công việc và thực hiện sản phẩm… là
những mục tiêu mà các mô hình dạy học tích cực hướng tới. DHDA có ưu thế
đặc biệt trong việc thực hiện hóa các mục tiêu này: Học sinh trong quá trình
thực hiện dự án toàn quyền quyết định phương tiện và cách thức hoạt động,
phải có khả năng học hỏi và hiểu biết về điểm mạnh của các thành viên trong
nhóm, phải có khả năng hợp tác cao độ, phải biết tranh luận và biết lắng nghe,
phải biết tự kiểm tra, đánh giá và tự điều chỉnh hoạt động, phải huy động tối
đa khả năng tích hợp công nghệ vào sản phẩm học tập của nhóm…
1.2.1.3. Những ưu – nhược điểm của dạy học dự án
Theo nhiều ý kiến của nhiều tác giả, cụ thể là tác giả Tống Xuân Tám
[20], tập đoàn Intel trong chương trình “Teach to the future” tại Hà Nội [21],
tập đoàn Microsoft trong tài liệu tập huấn bồi dưỡng giáo viên [23] . DHDA
có một số ưu và nhược điểm sau đây:
* Ƣu điểm: So với một số PPDH khác thì DHDA có khá nhiều ưu điểm
đáp ứng nhu cầu đổi mới giáo dục, phát huy tính tích cực của người học, cụ
thể:
- Gắn lí thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã

hứng thú, tính tự lực cao của người học, định hướng hành động, định hướng
13

sản phẩm, có tính phức hợp và cộng tác làm việc. Tuy nhiên, theo Đỗ Hương
Trà [29], chung quy lại thì có ba đặc điểm quan trọng nhất, chúng bao hàm cả
các đặc điểm trên, cụ thể đó là:
*/ Định hƣớng vào học sinh
- Chú ý đến hứng thú của người học, tính tự lực cao: học sinh được
trực tiếp tham gia chọn đề tài, nội dung học tập phù hợp khả năng và hứng thú
của cá nhân, khuyến khích tính tích cực, tự lực, tính trách nhiệm, sự sáng tạo
của người học. Giáo viên đóng vai trò là người tư vấn, hướng dẫn và giúp đỡ;
- Người học được cộng tác làm việc, lựa chọn nhiệm vụ phù hợp: Các
dự án được thực hiện theo nhóm, có sự cộng tác và phân công công việc giữa
các thành viên trong nhóm, rèn luyện tính sẵn sàng và kĩ năng cộng tác làm
việc giữa các thành viên tham gia, giữa giáo viên và học sinh cũng như các
lực lượng xã hội tham gia vào dự án.
*/ Định hƣớng vào thực tiễn
- Gắn liền với hoàn cảnh: Chủ đề dự án xuất phát từ tình huống của
thực tiễn nghề nghiệp, đời sống xã hội, phù hợp trình độ người học;
- Có ý nghĩa thực tiễn xã hội: Các dự án gắn việc học tập trong nhà
trường với thực tiễn đời sống xã hội, địa phương, gắn với môi trường, mang
lại tác động xã hội tích cực;
- Kết hợp giữa lý thuyết và thực hành: Thông qua đó, kiểm tra, củng cố,
mở rộng hiểu biết lý thuyết cũng như rèn luyện kỹ năng hành động, kinh
nghiệm thực tiễn của người học;
- Dự án mang nội dung tích hợp: Kết hợp tri thức của nhiều môn học
hay lĩnh vực khác nhau để giải quyết một vấn đề mang tính phức hợp.
*/ Định hƣớng vào sản phẩm
Các sản phẩm được tạo ra, có thể là sản phẩm nghiên cứu lý thuyết
hoặc sản phẩm vật chất của hoạt động thực tiễn, thực hành… có thể sử dụng,

Câu hỏi khái quát chính là cầu nối giữa các bài học, giữa bài học và môn học,
giữa các môn học và thậm chí cả khóa học trong một năm;
- Chúng thường là những CHKQ về thực tế. Đối với các câu hỏi loại
này thường không chỉ có một câu trả lời đúng. Chúng xuất hiện nhiều lần và
theo thời gian, trình độ người học ngày càng tăng thì các câu trả lời cũng ngày
càng đa dạng, phức tạp và mang nhiều sắc thái hơn;
- Mở rộng đến những câu hỏi khác. CHKQ mở rộng vấn đề, mở rộng
tính phức tạp và phong phú của chủ đề, mở rộng hướng nghiên cứu, không
chấp nhận những câu trả lời mơ hồ, những kết luận vội vàng.
*/ Câu hỏi bài học
CHBH có tác dụng hỗ trợ CHKQ, cũng là những câu hỏi mở nhưng bó
hẹp trong một chủ đề hoặc bài học cụ thể, hỗ trợ và phát triển CHKQ. Mỗi
CHBH trong một khóa học giúp khám phá ra một khía cạnh của CHKQ. Đặc
điểm là:
- Có đáp án mở, lôi cuốn các em vào việc khám phá những ý tưởng cụ
thể đối với từng chủ đề, môn học hoặc bài học. Một CHBH có thể dùng chung
cho một vấn đề chung thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau;
- Đưa ra những vấn đề hoặc kích thích thảo luận hướng đến chủ đề
hoặc bài học cụ thể nhằm bổ trợ cho CHKQ;
- Khuyến khích khám phá, tạo ra và duy trì hứng thú, cho phép học
sinh trả lời theo cách tiếp cận sáng tạo, độc đáo. Các câu hỏi loại này kích
thích học sinh tự lực tìm lời giải cho các vấn đề.
*/ Câu hỏi nội dung
CHND khác với CHKQ và CHBH. Nó là các câu hỏi “đóng”, trực tiếp
liên quan đến nội dung bài học cần nghiên cứu. Đặc điểm của CHND là:
- Trực tiếp hỗ trợ những chuẩn kiến thức và mục tiêu học tập;
- Có những câu trả lời “đúng” cụ thể, rõ ràng;
16

- Sắp xếp theo những tiêu chuẩn về nội dung, mục tiêu dạy học, hỗ trợ

* Tài liệu hỗ trợ tiến trình thực hiện dự án:
- Kế hoạch thực hiện dự án;
- Mẫu phiếu phân công nhiệm vụ trong nhóm;
- Mẫu phiếu tổng hợp dữ liệu;
- Biên bản thảo luận nhóm;
- Mẫu phiếu trình bày kết quả thu được của nhóm;
- Mẫu tiêu chí đánh giá gói sản phẩm dự án.
1.2.1.7. Tiến trình dạy học dự án
Nếu dựa trên cấu trúc chung của một dự án trong lĩnh vực sản xuất,
kinh tế, nhiều tác giả phân chia cấu trúc của DHDA qua bốn giai đoạn sau:
quyết định, lập kế hoạch, thực hiện, kết thúc dự án.
Nếu dựa trên cấu trúc của tiến trình PPDH, theo Đỗ Hương Trà có thể
chia cấu trúc của DHDA làm nhiều giai đoạn nhỏ hơn [29]:
*/ Xây dựng ý tưởng dự án, quyết định chủ đề: giáo viên và học sinh
cùng nhau thảo luận, đề xuất, xác định đề tài và mục đích của dự án. Trong
giai đoạn này, giáo viên cần tạo tình huống xuất phát từ những vấn đề mang
tính cấp thiết trong đời sống xã hội, hoặc có thể đặt ra cho học sinh một
nhiệm vụ cần giải quyết, nhưng phải chú ý đến hứng thú của học sinh đối với
đề tài và ý nghĩa xã hội của đề tài. Giáo viên hướng dẫn học sinh tự đề xuất
hoặc có thể giới thiệu một số hướng đề tài để học sinh lựa chọn và cụ thể hoá.
Nội dung dự án có thể do học sinh đề xuất.
*/ Xây dựng kế hoạch thực hiện dự án: Trong giai đoạn này, giáo viên
hướng dẫn học sinh xây dựng đề cương cũng như kế hoạch cho việc thực hiện
dự án. Trong việc xây dựng kế hoạch cần xác định cụ thể số thành viên trong

Trích đoạn Biện pháp phát huy tính tích cực Dấu hiệu phát huy tính tích cực Biện pháp phát huy năng lực sáng tạo
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status