z
Tiểu luận triết học
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
PHÒNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài:
“CHỦ NGHĨA DUY LÝ TƯ BIỆN PHƯƠNG TÂY THỜI CẬN ĐẠI
VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ CỦA NÓ”
Người thực hiện : Trần Thị Mỹ Lai
- Số thứ tự : 81
- Lớp : Cao học Đêm 5
- Khóa :21
Giảng viên hướng dẫn Ts. Bùi Văn Mưa
Tp. Hồ Chí Minh, ngày 27 tháng 02 năm 2012
Trang
1
Tiểu luận triết học
MỤC LỤC
MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
NHỮNG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA 3
DUY LÝ TƯ BIỆN PHƯƠNG TÂY THỜI CẬN ĐẠI 3
1.1 SƠ LƯỢC VỀ BỐI CẢNH LỊCH SỬ, XÃ HỘI, KHOA HỌC TRIẾT HỌC
DUY LÝ TƯ BIỆN PHƯƠNG TÂY THỜI CẬN ĐẠI 3
1.2 NHỮNG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC TIÊU BIỂU CỦA CHỦ NGHĨA DUY
LÝ TƯ BIỆN 4
1.2.1 Siêu hình học: 4
1.2.1.1Nguyên tắc “ Nghi ngờ phổ biến” . 4
1.2.1.2 “ Tôi suy nghĩ, vậy tôi tồn tại” 6
Tiểu luận triết học
Chủ nghĩa duy lý tư biện ra đời đã có vai trò vô cùng quan trọng trong lịch sử.
Hegel, nhà triết học Đức đã đánh giá vai trò triết học của Descartes là “đã tạo ra một
cuộc cách mạng trong lịch sử tư tưởng triết học” Tây Âu thời Cận đại. Có nghĩa là
“Ông đã tạo ra một bước rẽ, một bước ngoặt trong hành trình phát triển của triết học
Tây Âu.” Sự ảnh hưởng không nhỏ bởi dòng tư tưởng triết học duy lý của René
Descartes là một thành tựu tư tưởng lớn không chỉ của nước Pháp thế kỷ XVII mà còn
của cả nhân loại, trở thành một phong cách, một lối sống đặc trưng cho xã hội Tây
phương. Đó là lý do tôi chọn đề tài “ Chủ nghĩa duy lý- tư biện phương Tây thời cận
đại” đế làm bài tiểu luận triết học của mình. Bài nghiên cứu này chủ yếu dựa trên sách
giáo trình “Đại cương về lịch sử triết học (phần I), NXB Đại học kinh tế Tp HCM,
2011” và một số giáo trình tham khảo khác.
Trong bài tiểu luận này sẽ được trình bày theo thứ tự: chương 1: Những tư
tưởng triết học cơ bản của chủ nghĩa duy lý tư biện phương Tây thời cận đại và
chương 2: Những giá trị và hạn chế.
Chủ nghĩa duy lý tư biện ra đời đã tạo “một cuộc cách mạng trong lịch sử tư
tưởng triết học”[7]. Nó không chỉ giúp con người nâng cao khả năng tư duy lý luận
của mình mà còn giúp con người dần hiểu hơn về giới tự nhiên, về khoa học. Từ đó
đưa khoa học phục vụ vào đời sống của con người, giúp họ thoát khỏi những cái vô
thần, hư ảo cuộc sống. Tuy nhiên do xuất phát từ tầng lớp tư sản nên các nhà triết gia
cũng chưa thoát khỏi ảnh hưởng của tôn giáo, chưa nhìn nhận thế giới bằng phương
pháp tư duy biện chứng mà vẫn còn mang tính siêu hình phiến diện.
Chương I
NHỮNG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA
NHỮNG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA
DUY LÝ TƯ BIỆN PHƯƠNG TÂY THỜI CẬN ĐẠI.
DUY LÝ TƯ BIỆN PHƯƠNG TÂY THỜI CẬN ĐẠI.
1.1
1.1
SƠ LƯỢC VỀ BỐI CẢNH LỊCH SỬ, XÃ HỘI, KHOA HỌC TRIẾT HỌC
DUY LÝ TƯ BIỆN.
DUY LÝ TƯ BIỆN.
Đến cuối thế kỷ XVII, chủ nghĩa Aristote mất dần ảnh hưởng và suy tàn. Lúc
này nhu cầu xem xét lại toàn bộ hệ tư tưởng trở nên cấp bách hơn bao giờ hết và René
Descartes là người đóng vai trò tiên phong trong cuộc cách mạng về quan niệm này.
“Chủ nghĩa duy lý-tư biện ra đời dựa trên cơ sở phương thức tư duy lý luận, nhằm
giúp con người thoát cách nhìn thiển cận về thế giới”[1,144]. Descartes đặt nền móng,
xây dựng và đưa chủ nghĩa duy lý Phương Tây lên đỉnh cao. Spinoza và Leibniz phát
triển chúng theo khuynh hướng duy vật và duy tâm khác nhau.
1.2.1 Siêu hình học:
1.2.1 Siêu hình học:
1.2.1.1Nguyên tắc “ Nghi ngờ phổ biến” .
1.2.1.1Nguyên tắc “ Nghi ngờ phổ biến” .
Theo Descartes, để xây dựng triết học và khoa học mới thì phải dựa trên
nguyên tắc nghi ngờ phổ biến. Triết học mới theo ông là “tổng thể tri thức của con
người về các lĩnh vực.” hay còn là “siêu hình học-cơ sở thế giới quan của con
người”[1,145]. Khi nói đến triết học mới thì ông cho rằng nhiệm vụ trước hết là “khắc
phục được chủ nghĩa hoài nghi, xây dựng nguyên tắc để chỉ đạo các ngành khoa học,
giúp khám phá ra các quy luật của tự nhiên, xây dựng các chân lý khoa học”[1,145]
hay triết học mới phải bàn về khả năng và phương pháp để đạt được những tri thức
đúng đắn, triết học mới phải gắn liền với khoa học nhằm làm chủ tư duy, nâng cao
Trang
4
Tiểu luận triết học
trình độ lý luận của con người. Theo ông toàn bộ thế giới quan khoa học của con
người "tương tự như một cái cây, mà bộ rễ của nó là siêu hình học, thân cây là vật lý
học, còn toàn bộ các khoa học khác có thể quy thành y học, cơ học và đạo đức học thì
như những chiếc cành mọc ra từ thân cây đó".[1,145].Trình độ phát triển của tư duy
triết học là tiêu chuẩn quan trọng nhất để đánh giá mức độ văn minh của con người và
sự ưu việt của dân tộc này so với dân tộc khác. Bởi vì, "chỉ có triết học là phân biệt
Đây được coi là nguyên lý cơ bản của toàn bộ hệ thống siêu hình học duy lý.
Dù dựa trên phương pháp nghi ngờ phổ biến, nhưng “Descartes không đi đến chủ
nghĩa hoài nghi mà là bác bỏ nó và xây dựng nguyên lý cơ bản của toàn bộ hệ thống
siêu hình học duy lý của mình – nguyên lý “ Tôi suy nghĩ, vậy tôi tồn tại”[1,146]. Để
luận chứng cho nguyên lý này, ông suy luận như sau : “dù tôi nghi ngờ về sự tồn tại
của mọi cái nhưng tôi không thể nghi ngờ về sự tồn tại của chính mình, bởi vì , nếu tôi
không tồn tại thì làm sao tôi có thể nghi ngờ được. Mà nghi ngờ là suy nghĩ, là tư duy,
nên tôi suy nghĩ, vậy tôi tồn tại. Tôi tồn tại với cương vị là người suy nghĩ, nghĩa là
suy nghĩ của tôi là có thật. Nó có sự tồn tại, và sự tồn tại đó là không thể nghi ngờ và
cũng không thể bác bỏ được”.
[2,62]
Dựa trên nguyên lý cơ bản “ Tôi suy nghĩ, vậy tôi tồn tại”, ông xây dựng hệ
thống siêu hình học của mình. Đối với ông siêu hình học phải là “học thuyết chặt chẽ
về Thượng Đế, về giới tự nhiên và con người, để từ đó rút ra các nguyên tắc giúp chỉ
đạo hoạt động bản chất của con người – hoạt động nhận thức của linh hồn lý tính”.
[1,146]. Với quan niệm này ta thấy Descartes vẫn chưa thoát khỏi quan điểm chủ quan
về giới tự nhiên.
1.2.1.3 Lý luận về Thượng đế, giới tự nhiên và con người.
1.2.1.3 Lý luận về Thượng đế, giới tự nhiên và con người.
1.2.1.3.1 Về thượng đế.
1.2.1.3.1 Về thượng đế.
Theo Descartes “thượng đế thật sự tồn tại, bởi vì mọi dân tộc, mọi con người
đều nghĩ về Thượng đế; hơn nữa, sự tồn tại của Thượng đế là cái đảm bảo chắc chắn
cho sự tồn tại của giới tự nhiên cũng như của vạn vật sinh tồn trong nó, đảm bảo cho
sự tồn tại của thể xác và năng lực nhận thức vô tận của con người”.[1,147].
Tuy nhiên, theo Spinoza thượng đế là toàn bộ trật tự giới tự nhiên, ông coi
thượng đế, giới tự nhiên và thực thể là một. “Thượng đế phải là cái độc nhất mà sự
giải thích của nó nằm ở nội tại – ngay bên trong nó, mọi cái hữu hạn đều có thể bị gây
ra bởi cái gì đó ngoại tại nhưng Thượng đế thì không thể như thế vì không có cái gì ở
bên ngoài (ngoại tại) Thượng đế”[1,152]
Lý luận về thực thể của Spinoza thể hiện thế giới quan duy vật sâu sắc của ông.
Bởi vì, khi coi Thượng đế, Giới tự nhiên, Thực thể chỉ là một, Spinoza muốn khẳng
định rằng, bản thân Thượng đế cũng chỉ là Giới tự nhiên, vì vậy, Thượng đế cũng
mang tính tự nhiên. Còn bản thân Giới tự nhiên là một chỉnh thể thống nhất, tồn tại
độc lập, vĩnh viễn, tự nó sản sinh ra nó; vì vậy, muốn tìm hiểu Giới tự nhiên phải xuất
phát từ chính bản thân Giới tự nhiên, xuất phát từ tư duy – một thuộc tính của Thực
thể - Giới tự nhiên để nhận thức Giới tự nhiên như một thực thể.
Trang
7
Tiểu luận triết học
1.2.1.3.3 Về con người.
1.2.1.3.3 Về con người.
Descartes coi con người là “một sự vật đặc biệt được tạo thành từ thực thể tinh
thần phi vật chất và thực thể vật chất phi tinh thần, nó vừa có linh hồn bất tử vừa có cơ
thể khả tử; là một sinh vật chưa hoàn thiện nhưng có khả năng đi đến hoàn thiện, là
bậc thang trung gian giữa Thượng đế và hư vô, nên con người vừa cao siêu, không
mắc sai lầm vừa thấp hèn, có thể mắc sai lầm”.[1,147]
Tuy nhiên, Spinoza coi con người là “dạng thức của thực thể, là sản phẩm của
giới tự nhiên và là mục đích cuối cùng triết học”[1,153]. Spinoza đã đưa ra lý luận
hoàn thiện hơn về con người so với Descartes. Spinoza cho rằng “do con người là một
dạng thức của thực thể, nên nó thể hiện ít nhất hai thuộc tính của thực thể (quãng tính
và tư duy) dưới dạng thể xác và linh hồn. Mối quan hệ giữa chúng là mối quan hệ giữa
cấu trúc và khả năng, vì vậy chúng tồn tại không thể tách rời nhau, nhưng cũng không
quy định nhau”[1,153].Và vì con người là sản phẩm giới tự nhiên, nên nó hoạt động
hoàn toàn theo quy luật tự nhiên. “Con người là sự thể hiện khả năng của giới tự nhiên
tự nhận thức, tự ý thức về mình. Trong quá trình nhận thức giới tự nhiên, con người
khám phá ra các quy luật của nó, và khi tuân theo quy luật này con người có thể hành
động một cách tự nhiên để giải quyết một cách hiệu quả mọi tệ nạn xã hội, mọi khó
khăn trong cuộc sống của chính mình”.[1,153].
1.2.1.4 Lý luận về linh hồn và nhận thức của con người.
của siêu hình học là xây dựng các nguyên tắc mang tính phương pháp luận nhằm chỉ
đạo hoạt động nhận thức của linh hồn lý tính, giúp hoàn thiện trí tuệ- năng lực tư duy,
đồng thời cũng là để giúp cho các ngành khoa học khám phá ra các chân lý. Theo ông,
có 4 nguyên tắc phương pháp luận nhận thức: một là, chỉ coi chân lý là những gì rõ
ràng, rành mạch, không gợn một chút nghi ngờ nào cả (nhờ vào trực giác). Hai là, phải
chia đối tượng phức tạp thành các bộ phận đơn giản cấu thành để tiện lợi trong việc
nghiên cứu. Ba là, quá trình nhận thức phải xuất phát từ những điều đơn giản, sơ đẳng
nhất, dần dần đến những điều phức tạp hơn. Bốn là, phải xem xét toàn diện mọi dữ
kiện, tài liệu để không bỏ sót một cái gì trong quá trình nhận thức.
Như vậy, theo Descartes, quá trình nhận thức đúng đắn phải dựa vào năng lực
trực giác của linh hồn lý tính để khám phá ra những tri thức bẩm sinh chứa sẵn trong
nó. Sau đó, linh hồn lý tính sử dụng hiệu quả tư duy phân tich một cách toàn diện và
phép suy diễn hợp lý ( diễn dịch toán học) để xây dựng mọi tri thức khoa học lý
thuyết; đồng thời, qua đó mà hoàn chỉnh lý trí khúc chiết để phát triển chủ nghĩa duy
lý.
Trang
9
Tiểu luận triết học
Spinoza coi nhận thức là “hoạt động mang bản chất của con người, nhận thức
bao gồm nhận thức cảm tính và lý tính. Nhận thức cảm tính cho phép cảm thụ được
tính đa dạng và sinh động của sự vật đơn lẻ, nhận thức lý tính cho phép nắm bắt
những đặc tính tổng quát và căn bản của sự vật”[1,154]. Và cũng giống Descartes, ông
cho rằng “trực giác không chỉ là năng lực nhận thức cao nhất của lý tính khám phá ra
bản chất của thực thể mà còn là tiêu chuẩn của chân lý”[1,154]. Spinoza đề cao nhận
thức lý tính, coi thường nhận thức cảm tính, cũng quy cho cảm tính trách nhiệm gây ra
sai lầm trong nhận thức.
Leibniz thì cho rằng “nhận thức là một quá trình tương đối đi từ những hiểu
biết mơ hồ đến hiểu biết chính xác chứ không phải là hành động trực giác”[1,159],
như Descates đã thừa nhận. Ông không thừa nhận sự tồn tại tư tưởng bẩm sinh, mà chỉ
thừa nhận sự tồn tại những khả năng bẩm sinh của con người. “Nhận thức là quá trình
năng nhận thức riêng”. [1,157]. “Quá trình phát triển của các đơn tử từ thấp đến cao,
từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện luôn tuân theo nguyên tắc hài hòa tiền định, nghĩa là
theo sự sắp đặt cùa Thượng đế”. [1, 157].
Thần học: Ông cho rằng “Thượng đế vừa là đơn tử vừa là đấng sáng tạo ra các
đơn tử khác, là đơn tử của mọi đơn tử, là lý tính siêu thế giới. Giới tự nhiên, con người
chỉ là kết quả sáng tạo của Thượng đế”. [1, 158].
1.2.2 Khoa học.
1.2.2 Khoa học.
1.2.2.1 Trong lĩnh vực vật lý học.
1.2.2.1 Trong lĩnh vực vật lý học.
Descartes xây dựng lý luận về vật chất và vận động. Vật chất bao gồm các hạt
nhỏ, mịn có thể được phân chia đền vô cùng tận. Bản chất của vật chất là quãng tính;
hay quãng tính là thuộc tính của thực thể vật chất. Không gian, thời gian và vận động
là những thuộc tính gắn liền với những vật thể vật chất. Không có không gian trống
rỗng. Vận động của vật thể có nguồn gốc sâu xa từ cái hích ban đầu của Thượng đế;
sau đó, vận động của các vật thể không thể được sinh ra, không thể bị tiêu diệt ( bảo
toàn). Vận động của vật thể là vận động cơ giới, nghĩa là sự thay đổi vị trí của vật thể
thể trong không gian, theo thời gian dưới sự chi phối bởi các định luật cơ học. Dựa
theo quan điểm này, Descarter xây dựng mô hình vũ trụ. Nhờ vào cái hích đầu tiên của
Thượng đế, thế giới có được một xung lượng ban đầu. Xung lượng này đưa vật chất
đồng nhất nguyên thủy – ete vào trạng thái chuyển động xoáy, dẫn tới sự hình thành
các hạt vật chất lớn dần. Đó là những hạt lửa bao trùm toàn bộ vũ trụ, những hạt
không khí rồi những hạt đất to nhất tạo thành các hành tinh và các vật cứng khác.
Xung lượng này luôn được bảo toàn trong quá trình vận động của vũ trụ”[1,149-150].
Tuy nhiên Leibniz cho là “giới tự nhiên là một hệ thống chỉnh thể liên kết vạn
vật tồn tại trong tính đa dạng của mình. Vạn vật trong giới tự nhiên đều được cấu
Trang
11
Tiểu luận triết học
thành từ các đơn tử -bản chất của vạn vật”. Ông đưa ra quan niệm về không gian
ra”. [1,158].
Trang
12
Tiểu luận triết học
Chương II
Chương II
NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA CHỦ NGHĨA DUY LÝ
NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA CHỦ NGHĨA DUY LÝ
TƯ BIỆN PHƯƠNG TÂY THỜI CẬN ĐẠI.
TƯ BIỆN PHƯƠNG TÂY THỜI CẬN ĐẠI.
2.1 NHỮNG GIÁ TRỊ CỦA CHỦ NGHĨA DUY LÝ TƯ BIỆN PHƯƠNG
2.1 NHỮNG GIÁ TRỊ CỦA CHỦ NGHĨA DUY LÝ TƯ BIỆN PHƯƠNGTÂY THỜI CẬN ĐẠI.
TÂY THỜI CẬN ĐẠI.
Chủ nghĩa duy lý ra đời đã có ý nghĩa rất to lớn đối với thời đại, nó đã chống
lại những đạo lý kinh viện của tôn giáo, góp phần đưa con người thoát khỏi những
niềm tin không có căn cứ của giáo lý. Các nhà triết gia trong thời kỳ này đã hoàn
thành xứ mạng của mình là đặt nền móng cho khoa học lý thuyết phát triển sau này.
Giá trị thứ 1: Đề cao vai trò của lý trí trong lý luận về nhận thức để chống lại
những đạo lý kinh viện của tôn giáo, chống lại lòng tin vô căn cứ. Descartes đã đề cao
vai trò của lý trí trong tư duy “ Tôi tư duy nên tôi tồn tại”. Ý nghĩa tiến bộ của nguyên
lý trên là ở chỗ nó đề cao vai trò của lý trí, phủ nhận một cách tuyệt đối những gì mà người ta
mê tín. Descartes phê phán chủ nghĩa kinh viện đã tạo ra một tri thức ít ỏi. Ông khẳng
định về bản chất hệ thống triết học của ông là “khác với các nhà thần học; tôi với tư
cách là nhà triết học đã trình bày một triết thuyết không hề tuân thủ một tôn giáo
nào Và do vậy có thể được tiếp nhận khắp nơi ” [8].Thật vậy, vì triết học của ông
không tuân thủ một tôn giáo nào nên nó thoát ra tất cả những giáo điều mà các tôn
giáo đã áp đặt. Chính vì nó thoát ra khỏi tôn giáo cho nên được nhân loại chấp nhận
hay hình tam giác. Ông là nhà toán học đầu tiên phân loại các đường cong dựa theo
tính chất của các phương trình tạo nên chúng. Ông cũng có những đóng góp vào lý
thuyết về các đẳng thức. Descartes cũng là người đầu tiên dùng các chữ cái cuối cùng
của bảng chữ cái để chỉ các ẩn số và dùng các chữ cái đầu tiên của bảng chữ cái để chỉ
các giá trị đã biết. Ông cũng đã sáng tạo ra hệ thống ký hiệu để mô tả lũy thừa của các
số (chẳng hạn trong biểu thức x²). Mặc khác, chính ông đã thiết lập ra phương pháp,
gọi là phương pháp dấu hiệu Descartes, để tìm số nghiệm âm, dương của bất cứ
phương trình đại số nào.”[8].
Trong lĩnh vực sinh lý học, Descartes giữ quan điểm rằng “máu là một chất
lỏng tinh tế mà ông gọi là hồn của động vật. Ông tin rằng hồn động vật tiếp xúc với
chất suy nghĩ ở trong não và chảy dọc theo các dây thần kinh để điều khiển cơ bắp và
các phần khác của cơ thể”.[8]. Nhưng tới khi Leibniz thì ông đã coi “con người là sự
thống nhất giữa linh hồn và thể xác.”[1,158].
Trang
14
Tiểu luận triết học
Về quang học, Descartes đã “khám phá ra định luật cơ bản của sự phản xạ: góc
tới bằng góc phản xạ. Tiểu luận của ông là văn bản đầu tiên trình bày đề cập đến định
luật này. Việc Descartes xem ánh sáng như một thứ áp lực trên môi trường chất rắn đã
dẫn đường cho lý thuyết sóng của ánh sáng”.[8].
Giá trị thứ 3: Lý luận về con người: hướng tới sự hoàn thiện và phát triển khả
năng trí tuệ của con người, thúc đẩy nhận thức khoa học phát triển. Descartes cho rằng
một ai đó "dù đi rất chậm, nhưng nếu anh ta đi đường thẳng, vẫn có thể vượt xa so với
những ai mặc dù chạy nhưng lai không đi theo con đường thẳng ấy"[9]. “Luận điểm
"Cogito, ergo sum" của Descartes có ý nghĩa tích cực: nó chống lại quan niệm giáo
điều, giáo lý nhà thờ, đồng thời nó đề cao vai trò đặc biệt của lý tính, của trí tuệ con
người, coi đó là chuẩn mực đánh giá suy nghĩ và hành động của con người.”[7].
Leibniz coi con người là “sự thống nhất giữa linh hồn và thể xác. Trong đó, thể xác là
cái vỏ bên ngoài, linh hồn là cái bản chất tiềm ẩn bên trong”.[1,158-159].
Giá trị thứ 4: Chủ nghĩa nhân đạo mang sắc thái mới-chủ nghĩa dân chủ,
nhưng nhìn chung vẫn chưa thoát khỏi quan điểm duy tâm trong việc giải thích vấn đề
xã hội và lịch sử. Descartes cho rằng “cái vật chất đã vượt ra ngoài phạm vi của cái
tâm lý. Song, vì chưa thoát ra khỏi ảnh hưởng của tôn giáo, chưa dám và cũng không
thể bác bỏ những giáo lý trong Kinh thánh để nói rằng cái vật chất có ảnh hưởng đến
cái tinh thần, quyết định cái tinh thần, nên ông chỉ mới phân biệt linh hồn với thể xác.
ông cho rằng thế giới vật chất là một thế giới riêng biệt và nó chỉ tuân theo những luật
của vật chất, và do vậy, nhưng ai muốn nghiên cứu vũ trụ thì cần phải rời bỏ hết
những thành kiến của linh hồn”[9]. Leibniz cũng cho rằng Thượng đế tạo ra con
người. “Con người là sự thống nhất giữa linh hồn và thể xác” tuy nhiên “ông cũng
xem con người là cái máy tự nhiên có tính tổ chức cao do thượng đế tạo ra”[1,158-
159]. “Đơn tử không chỉ có năng lực hoạt động mà còn có khả năng nhận thức. Ứng
với từng cấp độ phát triển của thế giới có từng nhóm đơn tử với một mức độ năng
động và khả năng nhận thức riêng”[1,159]
Hạn chế thứ 3: Chịu ảnh hưởng của các quan niệm cơ học, cơ giới nên quan
điểm về thế giới mang tính duy vật siêu hình, máy móc. Spinoza cho rằng “vật chất
chỉ là một trong vô vàn thuộc tính của thực thể- thượng đế- giới tự nhiên, chứ không
phải là nguồn gốc duy nhất của mọi sự vật” và “ không chỉ có con người mà mọi sự
vật trong giới tự nhiên đều biết tư duy”.[1,152]
Hạn chế thứ 4: Không vạch ra mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng và không
xác định đúng đắn nguyên nhân của sự vận động và phát triển. “Descartes thừa nhận sự
xuất hiện của thế giới thực vật và động vật trong quá trình vận động. Nhưng ông chưa thấy sự
khác nhau về chất giữa thế giới sinh vật, coi cơ thể sống là một cỗ máy phức tạp. Ông cho
rằng, sự khác biệt giữa con người và con vật là ở chỗ: con người không chỉ là một cơ thể vật
Trang
16
Tiểu luận triết học
chất mà còn là một thực thể có lý trí. Nhưng lý trí, theo ông không phụ thuộc vào qúa trình
vật chất”[3,18].
PHẦN KẾT LUẬN
“Chủ nghĩa duy lý tư biện phương Tây thời cận đại” ra đời không những có vai
3. Th.S Trịnh Đình Thanh,Triết học phương Tây.
4. Nguyễn Ước, Đại cương triết học phương Tây, Nxb Tri Thức, 2009.
5. Hoàng xuân Việt, Lịch sử triết học phương Tây, Nxb tổng hợp Tp HCM, Tp HCM,
2004.
6. Samuel enoch stumpf & Donald C.abel, Nhập môn triết học phương Tây, Lưu Văn Hy
biên dịch, Nxb tổng hợp Tp HCM, 2004.
7.
Itemid=265&id=376&option=com_content&task=view
Trang
18
Tiểu luận triết học
8.
option=ban_tin&view=ban_tin_chitiet&cd_id=28&post_id=3804&lang=vn.
9.
Trang
19