TIỂU LUẬN CHỦ NGHĨA DUY LÝ TƯ BIỆN PHƯƠNG TÂY THỜI CẬN ĐẠI & NHỮNG GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ CỦA NÓ - Pdf 24


TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC

Đề tài:
CHỦ NGHĨA DUY LÝ TƯ BIỆN PHƯƠNG TÂY THỜI CẬN ĐẠI
& NHỮNG GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ

 Người thực hiện: Nguyễn Thị Ngọc Lan
- Số thứ tự : 83 – Nhóm 9
- Lớp : Cao học Đêm 5
- Khóa : 21
 Giảng viên hướng dẫn: Ts. Bùi Văn Mưa

Tp. Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 2 năm 2012
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
PHÒNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU…………………………………………………………………………1
CHƯƠNG I: NHỮNG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA
DUY LÝ TƯ BIỆN PHƯƠNG TÂY THỜI CẬN ĐẠI…………………………… 2
1.1 Sơ lược về bối cảnh lịch sử, xã hội Phương Tây thời cận đại…………………… 2
1.2 Các đặc điểm cơ bản của triết học Phương Tây thời cận đại………………………2
1.3 Những tư tưởng triết học tiêu biểu của chủ nghĩa duy lý - tư biện……………… 3
1.3.1 Siêu hình học………………………………………………………………….4
1.3.2 Khoa học…………………………………………………………………… 10
CHƯƠNG II: GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA CHỦ NGHĨA DUY LÝ - TƯ BIỆN
PHƯƠNG TÂY THỜI CẬN ĐẠI………………………………………………… 12
2.1 Giá trị của chủ nghĩa duy lý - tư biện phương Tây thời cận đại………………… 12
2.1.1 Về tư tưởng………………………………………………………………….12
2.1.2 Về khoa học…………………………………………………………………13

cận đại. Các triết gia tiêu biểu trong truờng phái này: Rene Descartes, Baruc Spinoza,
và Gottfried W.Leibniz. Tư tưởng của các triết gia này đã mang đến cho triết học
Phương Tây sự đổi mới to lớn cũng như cho bản thân em nhận biết vai trò to lớn của lý
trí, nhận thức trong cuộc sống.
Tiểu luận sử dụng tài liệu chính là triết học của Khoa Triết Học – Trường Đại
Học Kinh Tế TP. Hồ Chí Minh do TS. Bùi Văn Mưa chủ biên và tham khảo thêm một
số sách, bài viết của các tác giả khác có nội dung liên quan.
Nguyễn Thị Ngọc Lan Trang 3
Chủ nghĩa duy lý tư biện Phương Tây thời cận đại
GVHD: TS.Bùi Văn Mưa

CHƯƠNG I
NHỮNG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA DUY LÝ
TƯ BIỆN PHƯƠNG TÂY THỜI CẬN ĐẠI.
1.1 SƠ LƯỢC VỀ BỐI CẢNH LỊCH SỬ, XÃ HỘI PHƯƠNG TÂY THỜI CẬN
ĐẠI
Thời cận đại (thế kỷ XVII-XVIII) là thời kỳ phát triển mạnh mẽ của phương
thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và trở thành phương thức sản xuất thống trị Tây Âu dẫn
đến phát sinh nhiều mâu thuẫn, xung đột trong khắp các lĩnh vực kinh tế, chính chị, xã
hội. Đây là nguyên nhân làm bùng nổ ra các cuộc cách mạng tư sản trên khắp các nước
Tây Âu đưa giai cấp tư sản lên vũ đài quyền lực chính trị, xóa bỏ triệt để chế độ phong
kiến, đánh dấu một bước ngoặc lớn. [1, tr.98]
Bên cạnh đó, thời kỳ này cũng là thời kỳ phát triển rực rỡ của Tây Âu trên tất cả
các mặt của đời sống xã hội, tạo ra những vận hội mới cho khoa học, kĩ thuật phát triển
đặc biệt là các ngành khoa học tự nhiên. Đặc điểm của khoa học tự nhiên thời kì này là
khoa học tự nhiên - thực nghiệm dẫn đến thói quen nhìn nhận đối tượng nhận thức
trong sự trừu tượng tách rời, cô lập, không vận động, không phát triển, nếu có nói đến
vận động thì chủ yếu là vận động cơ giới, máy móc. Đó là nguyên nhân chủ yếu làm
cho triết học duy vật thời kỳ này mang nặng tính máy móc siêu hình. [6, tr.2]
Có thể nói, đây là thời kỳ Tây Âu chuyển mình dữ dội sau ngàn năm “yên tĩnh”.

luận đối với sự giải thoát, và chính niềm tin vào lý luận như một phương tiện cốt yếu
đạt đến mục đích đã thật sự giúp Descartes thành công trong những khám phá mang
tính khoa học và triết học. Lịch sử triết học, khoa học và văn minh tinh thần của
Phương Tây chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi các tư tưởng của ông [1, tr.144&145], Tư
tưởng của Descartes được Spinoza (1632-1677) - nhà triết học luôn hướng đến cái
thiện, phục vụ con người và Leibniz (1646-1716) –người đầu tiên nhận thấy trong triết
Nguyễn Thị Ngọc Lan Trang 5
Chủ nghĩa duy lý tư biện Phương Tây thời cận đại
GVHD: TS.Bùi Văn Mưa

học Phương Tây có hai trào lưu đối lập nhau là chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm
phát triển theo hai khuynh hướng duy vật và duy tâm khác nhau [1, tr.154&155.].
Nội dung chủ yếu của chủ nghĩa duy lý – tư biện gồm hai phần: siêu hình học và
khoa học.
1.3.1 SIÊU HÌNH HỌC
Trong siêu hình học, Descartes là nhà nhị nguyên luận ngã về duy tâm [1,
tr.144]. Theo ông, triết học mới phải là siêu hình học - cơ sở thế giới quan, lấy việc xây
dựng các nguyên tắc chỉ đạo lý trí khám phá ra chân lý làm nhiệm vụ [1, tr.145]. Các
tư tưởng nổi bật của ông:
“Nghi ngờ phổ biến”: Theo Descarte, để đạt được tri thức đúng đắn trước hết
phải khắc phục chủ nghĩa hoài nghi, gạt bỏ những đạo lý kinh viện của tôn giáo. Ông cho
rằng mọi chân lý đều bắt nguồn từ lý tính, và nghi ngờ phổ biến tức nghi ngờ mang
tính phương pháp luận là biện pháp cần thiết để lý tính không mắc sai lầm trong nhận
thức. Nhận thức là quá trình lý tính thông qua năng lực trực giác của mình xâm nhập
vào chính mình để khám phá ra tri thức bẩm sinh chứa đựng trong mình, và sử dụng
những tri thức này để tiếp cận thế giới, giúp các khoa học lý thuyết xây dựng các định
lý, định luật về thế giới xung quanh. Descartes đề cao lý tính phân tích toàn diện những
tri thức do trực giác phát hiện ra hay do suy diễn mang lại, và hạ thấp năng lực cảm
tính tổng kinh nghiệm mà quan sát thí nghiệm đem đến hay tri thức do quy nạp mà có.
Với nguyên tắc nghi ngờ phổ biến, ông cho rằng mọi cái tồn tại chỉ có thể trở thành

thời gian, siêu vận động, là nguyên nhân của chính nó. Thực thể có vô vàn thuộc tính
và biểu hiện thành vô vàn dạng thức. Thuộc tính là tính chất cố hữu mà qua đó thực thể
biểu hiện ra. Có vô số thuộc tính nhưng chúng ta chỉ biết hai thuộc tính của thực thể là
tư duy (suy nghĩ) và quãng tính (vật chất). Do mọi sự vật đều bắt nguồn từ Thực thể có
tư duy và quãng tính nên chúng đều được cấu thành từ vật chất và biết suy nghĩ, không
chỉ riêng con người mới biết tư duy. Thuộc tính tư duy thể hiện sự phát triển của thực
thể thông qua sự phát triển khả năng tự suy nghĩ. Spinoza phân tư duy thành hai loại:
Nguyễn Thị Ngọc Lan Trang 7
Chủ nghĩa duy lý tư biện Phương Tây thời cận đại
GVHD: TS.Bùi Văn Mưa

Tư duy với tính cách là thuộc tính của thực thể và tư duy của con người - là sự thể hiện
cao thuộc tính tư duy của thực thể. [1, tr.151&152]
Dạng thức là trạng thái, sự biểu hiện đơn lẻ của thực thể. Dạng thức tồn tại trong
không gian, thời gian, luôn vận động và bị chi phối bởi luật nhân quả. [1, tr.152]
Lý luận về thực thể của Spinoza thể hiện thế giới quan duy vật sâu sắc của ông.
Spinoza muốn khẳng định rằng, bản thân Thượng đế cũng chỉ là Giới tự nhiên, vì vậy,
Thượng đế cũng mang tính tự nhiên. Còn bản thân Giới tự nhiên là một chỉnh thể thống
nhất, tồn tại độc lập, vĩnh viễn, tự nó sản sinh ra nó; vì vậy, muốn tìm hiểu Giới tự
nhiên phải xuất phát từ chính bản thân Giới tự nhiên, xuất phát từ tư duy – một thuộc
tính của Thực thể - Giới tự nhiên để nhận thức Giới tự nhiên như một thực thể. [1,
tr.152&153]
Về con người, Descarte cho rằng con người là một sự vật đặc biệt được tạo
thành từ hai thực thể Thượng đế và Giới tự nhiên. Nó vừa có linh hồn bất tử vừa có cơ
thể khả tử. Là một sinh vật chưa hoàn thiện nhưng có khả năng đi đến hoàn thiện, là
bậc thang trung gian giữa Thượng đế và hư vô, nên con người vừa cao siêu, không mắc
sai lầm vừa thấp hèn, có thể mắc sai lầm. [1, tr.147]
Spinoza coi con người là dạng thức của thực thể, là sản phẩm của Giới tự nhiên
và là mục đích cuối cùng của triết học. Con người thể hiện ít nhất hai thuộc tính của
Thực thể là quãng tính và tư duy dưới dạng thể xác và linh hồn. Thể xác và linh hồn là

Spinoza phủ nhận sự tồn tại tư tưởng bẩm sinh, ông coi nhận thức là hoạt động
mang tính bản chất của con người. Nhiệm vụ của nhận thức là phát hiện ra các nguyên
nhân khách quan của sự tồn tại và quy luật tự nhiên chi phối sự thay đổi của các dạng
thức thực thề. Đối với ông, khả năng nhận thức của con người là vô hạn, tuân theo các
quy luật tự nhiên, đây là cách thức vươn tới tự do của con người. Nhận thức bao gồm
nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính.
Nguyễn Thị Ngọc Lan Trang 9
Chủ nghĩa duy lý tư biện Phương Tây thời cận đại
GVHD: TS.Bùi Văn Mưa

Cũng như Descarte, Spinoza là một nhà duy lý, ông đề cao nhận thức lý tính,
nhận thức cảm tính chỉ cho phép cảm thụ được tính đa dạng và sinh động của sự vật
đơn lẻ. Nhận thức lý tính cho phép nắm bắt những đặt tính tổng quát và căn bản của sự
vật, khám phá ra thuộc tính, bản chất của thực thể. Không tồn tại tự do ý chí, chỉ có
xúc cảm chi phối hành động con người.
Descarte coi trực giác là năng lực linh cảm của linh hồn lý tính mang lại những
ý niệm rõ ràng, rành mạch, hiển nhiên là hình thức nhận thức tối cao khám phá ra các
tư tưởng bẩm sinh đó. Ông coi lý trí khúc chiết chỉ nhận thức được chân lý khi nó dựa
vào trực giác như là điểm khởi đầu và là hình thức hoạt động trí tuệ cao nhất của mình.
Bản thân lý trí khúc chiết tự nó không khẳng định hay phủ định điều gì cả, nên nó
không bao giờ mắc sai lầm. Còn Spinoza cho rằng trực giác không chỉ là năng lực
nhận thức cao nhất của lý tính khám phá ra bản chất của Thực thể mà còn là tiêu chuẩn
của chân lý. [1, tr.148]S
Các nguyên tắc phương pháp luận nhận thức: Theo Descarter, một linh hồn vĩ
đại cũng có thể sản sinh ra những điều nhảm nhí, nếu nó không biết dựa vào một
phương pháp luận đáng tin cậy. Vì vậy, nhiệm vụ của siêu hình học là xây dựng các
nguyên tắc mang tính phương pháp luận nhằm chỉ đạo hoạt động nhận thức của linh
hồn lý tính, giúp hoàn thiện trí tuệ- năng lực tư duy, đồng thời cũng là để giúp cho các
ngành khoa học khám phá ra các chân lý. Theo ông, có 4 nguyên tắc phương pháp luận
nhận thức: [1, tr.148&149]

- Nguyên lý về tính gián đoạn: mỗi sự vật đều có giới hạn tương đối để phân
biệt được với nhau (tính nhảy vọt trong sự phát triển).
- Nguyên lý về tính toàn vẹn: mọi sự vật đều chứa đựng trong mình đầy đủ
những tính chất cần thiết cho sự tồn tại của chính mình (tính đầy đủ của sự tồn tại).
Nguyễn Thị Ngọc Lan Trang 11
Chủ nghĩa duy lý tư biện Phương Tây thời cận đại
GVHD: TS.Bùi Văn Mưa

- Nguyên lý về tính hoàn thiện: mọi sự vật cũng như bản thân thế giới đều vận
động theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn (tính hướng đích).
- Nguyên lý về mối liên hệ giữa khả năng và hiện thực: mọi sự vật dù là vật chất
hay tinh thần đều không tách biệt nhau.
- Nguyên lý về tính cần thiết tư duy lôgích: lý tính phải tuân thủ các quy luật
lôgích hình thức và các quy tắc tam đoạn luận của nó.
- Nguyên lý về cơ sở đầy đủ: một sự vật chỉ được coi là có thật hay chân lý nếu
nó có đầy đủ cơ sở để chứng minh cho sự tồn tại của chính mình là như thế này mà
không thể là như thế khác.
- Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến: mọi sự vật đều có mối liên hệ với nhau.
- Nguyên lý về tính thống nhất giữa cực đại và cực tiểu: cực tiểu của bản chất
sản sinh ra cực đại của tồn tại.
Từ đó, Leibniz đưa ra hai nội dung của siêu hình học mới:
Đơn tử luận: Ông khẳng định tính đa dạng và thống nhất giữa vật chất và tinh
thần của thế giới, tính năng động của sự vật đơn nhất. Từ đó, ông đưa ra khái niệm về
đơn tử - thực thể như là những điểm của Siêu hình học. Đơn tử không chỉ có năng lực
hoạt động mà còn có khả năng nhận thức. Quá trình phát triển của các đơn tử từ thấp
đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện luôn tuân theo nguyên tắc hài hòa tiền định,
tức theo sự sắp đặt cùa Thượng đế. [1, tr.157]
Thần học: Ông cho rằng Thượng đế vừa là đơn tử vừa là đấng sáng tạo ra các
đơn tử khác, là đơn tử của mọi đơn tử, là lý tính siêu thế giới. Giới tự nhiên, con người
chỉ là kết quả sáng tạo của Thượng đế. [1, tr.158].

gắn liền với linh hồn lý tính bất tử. Trong lĩnh vực siêu hình học, Descarter chỉ coi cơ
thể là nơi trú ngụ tạm thời của linh hồn để linh hồn thực hiện hoạt động bản chất của
mình là nhận thức, nhưng trong lĩnh vực khoa học, do tiếp cận được quan điểm duy
Nguyễn Thị Ngọc Lan Trang 13
Chủ nghĩa duy lý tư biện Phương Tây thời cận đại
GVHD: TS.Bùi Văn Mưa

vật, nên ông đã coi cơ thể con người là khí quan vật chất, còn linh hồn là chức năng
hoạt động của cơ thể con người. [1, tr.150]
d)Trong nhân bản học: Leibniz coi con người là sự thống nhất giữa linh hồn và
thể xác. Thể xác là vỏ bên ngoài, linh hồn là cái bản chất tiềm ẩn bên trong. Ông cũng
xem con người là cái máy tự nhiên có tính tổ chức cao do Thượng đế tạo ra. [1, tr.158].
e)Trong nhận thức luận: Leibniz coi nhận thức là một quá trình tương đối đi
từ những hiểu biết mơ hồ đến hiểu biết chính xác chứ không phải là hành động trực
giác như Descarter đã thừa nhận. Ông không thừa nhận sự tồn tại tư tưởng bẩm sinh,
mà chỉ thừa nhận sự tồn tại những khả năng bẩm sinh của con người. Theo ông nhận
thức có hai loại là nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính. Nhận thức cảm tính mang
lại những chân lý sự kiện, nói về dáng vẻ bên ngoài cũa những sự vật đơn lẻ. Nhận
thức lý tính mang lại những chân lý vĩnh hằng, nói về bản chất bên trong của sự vật. [1,
tr.159].
CHƯƠNG II
GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA CHỦ NGHĨA DUY LÝ TƯ BIỆN PHƯƠNG TÂY
THỜI CẬN ĐẠI.
Do ảnh hưởng của nền tư tưởng đương thời nên những tư tưởng, lý luận của
Descarter, Spinoza và Leibniz còn bộc lộ nhiều hạn chế nhưng vẫn toát lên những giá
trị vô cùng to lớn cho thời đại lúc bấy giờ cũng như hiện nay.
2.1GIÁ TRỊ CỦA CHỦ NGHĨA DUY LÝ TƯ BIỆN PHƯƠNG TÂY THỜI CẬN
ĐẠI.
2.1.1 Về tư tưởng: Chủ nghĩa duy lý tư biện nhận ra vai trò của lý trí trong lý luận về
nhận thức, chống lại những đạo lý kinh viện của tôn giáo và lòng tin vô căn cứ, các

lại hạnh phúc, tự do cho con người từ khả năng chinh phục tự nhiên, chứ không dừng
lại ở lý tưởng như thời kỳ phục hưng.
Nguyễn Thị Ngọc Lan Trang 15
Ch ngha duy lý t bin Phng Tõy thi cn i
GVHD: TS.Bựi Vn Ma

Spinoza l ngi sỏng lp ch dõn ch v thỳc gic giỏo hi phi l thuc
vo quc gia. ễng bo v quyn t do by t ý kin v trờn tt c tỡm cỏch gii phúng
con ngi khi s s hói [3, tr.373].
2.2 NHNG HN CH CA CH NGHA DUY Lí T BIN PHNG TY
THI CN I.
2.2.1 Hn ch th 1: Chu nh hng ca cỏc quan nim c hc, c gii nờn quan
im v th gii mang tớnh duy vt siờu hỡnh, mỏy múc, phim din (phng phỏp siờu
hỡnh t bin). Xem xét sự vật trong trạng thái đứng im, không vận động, tách rời cô lập
và tách biệt nhau. Cách xem xét cho chúng ta nhìn thấy sự tồn tại của sự vật hiện tợng ở
trạng thái đứng im tơng đối, nhng nếu tuyệt đối hoá phơng pháp này sẽ dẫn đến sai lầm
phủ nhận sự phát triển, không nhận thấy mối liên hệ giữa các sự vật hiện tợng.
2.2.2 Hn ch th 2: Tuy cú nhng quan im trit hc tin b v lnh vc xó hi,
nhng nhỡn chung vn cha thoỏt khi quan im duy tõm trong vic gii thớch vn
xó hi v lch s.
Descarter ó khụng nhỡn thy, khụng th i tỡm tin xut phỏt ca nhn thc ngay
trong nhn thc m phi tỡm t bn thõn i sng thc tin xó hi.
2.2.3 Hn ch th 3: Ch thy mt mt ca quỏ trỡnh nhn thc - mt lý tớnh, xem nh
cm tớnh, kinh nghim, do ú c s phng phỏp lun ny cng mang tớnh siờu hỡnh.
Descarter ó tha nhn mt cỏch sai lm rng, nhng nguyờn tc c bn ca logic hc v
toỏn hc l nhng cỏi bm sinh, khụng ph thuc vo kinh nghim.
2.2.4 Hn ch th 4: Khụng vch ra mi liờn h gia cỏc s vt hin tng v khụng
xỏc nh ỳng n nguyờn nhõn ca s vn ng v phỏt trin .
Descarter coi vn ng khụng phi cỏi gỡ khỏc ngoi s hot ng, m qua ú
mt vt c chuyn v trớ t ch ny sang ch khỏc. ễng quy ton b cỏc dng vn

TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh.
2. TS.Bùi Văn Mưa (2008), Triết học & Bức tranh vật lý học về thế giới, Đại Học
Quốc Gia TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh.
3. Hoàng Xuân Việt (2004), Lược sử Triết học Phương Tây, Tổng hợp thành phố Hồ
Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh.
4. Nguyễn Ước (2009), Đại cương Triết học Tây Phương, Tri Thức, Hà Nội.
5.
6. />Nguyễn Thị Ngọc Lan Trang 18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status