TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC CHỦ NGHĨA DUY VẬT CHẤT PHÁC HY LẠP CỔ ĐẠI & NHỮNG GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ CỦA NÓ - Pdf 24

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
PHÒNG ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài:
NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT CHẤT
PHÁC HY LẠP CỔ ĐẠI
Người viết: Nguyễn Thị Thanh Hằng
STT: 049 Lớp: Đêm 5 Khóa: 21
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
TP.HCM, tháng 02 năm 2012
MỤC LỤC

Lời nói đầu
1
CHƯƠNG I: NHỮNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT
CHẤT PHÁC HY LẠP CỔ ĐẠI
I. ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ RA ĐỜI, PHÁT TRIỂN VÀ CÁC ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN
2
II. NHỮNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT CHẤT PHÁC
HY LẠP CỔ ĐẠI
3
1. Trường phái Milê (Milet)
3
2. Trường phái Hêraclít (Héraclite)
5
3. Trường phái đa nguyên Empêđốc (Empedocle) – Anaxago (Anaxagore)
6
4. Trường phái nguyên tử luận Lơxíp (Leucippe) – Đêmôcrít (Democrite)
7
CHƯƠNG II: NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA CHỦ NGHĨA DUY

thiếu sót, rất mong nhận được những đóng góp chân thành từ giảng viên và người
đọc , ý kiến đóng góp nếu có xin vui lòng gửi về địa chỉ mail cá nhân
Xin chân thành cám ơn !
TP. Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 02 năm 2012
3
Nguyễn Thị Thanh Hằng
CHƯƠNG I
NHỮNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT CHẤT PHÁC
HY LẠP CỔ ĐẠI
I. ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ RA ĐỜI, PHÁT TRIỂN VÀ CÁC ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN
Nền triết học Hy Lạp cổ đại là khúc dạo đầu cho một bản nhạc giao hưởng,
bản hợp xướng của triết học Phương Tây. Một giai đoạn lịch sử khởi nguyên tiềm
tàng của triết học nhân loại làm tiền đề cho toàn bộ hệ thống triết học Phương Tây
sau này
1
.
Trong các nền văn minh cổ đại rực rỡ được biết đến hiện nay thì nền văn
minh Hy Lạp xuất hiện muộn hơn cả nhưng nó lại rất phong phú, đặc biệt là về triết
học. Triết học Hy Lạp cổ đại ra đời trong bối cảnh diễn ra sự chuyển biến lâu dài và
sâu sắc các quan hệ xã hội, đánh dấu bởi sự ra đời của xã hội có giai cấp đầu tiên
trong lịch sử - chế độ chiếm hữu nô lệ, như Ph.Ăngghen nhận xét: "Không có chế độ
nô lệ thì không có quốc gia Hy Lạp, không có nghệ thuật và khoa học Hy Lạp,
không có chế độ nô lệ thì không có đế quốc La Mã mà không có cái cơ sở là nền văn
minh Hy Lạp và đế quốc La Mã thì không có Châu Âu hiện đại được”
2
.
Hy Lạp cổ đại trước đây là một vùng lãnh thổ rộng lớn bao gồm phần đất liền
và vô số hòn đảo lớn nhỏ trên biển Egie, vùng duyên hải Ban căng và Tiểu Á. Với
điều kiện thuận lợi về vị trí địa lý, Hy Lạp nhanh chóng phát triển tất cả các lĩnh
vực, mở rộng bang giao, tiếp nhận nhiều giá trị văn hoá, tạo điều kiện để tư duy con

II. NHỮNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT CHẤT
PHÁC HY LẠP CỔ ĐẠI
1. Trường phái Milê (Milet)
3
Tiểu ban Triết học, Khoa LLCT, Trường ĐH Kinh tế TP.HCM. Triết học Phần I Đại cương về lịch sử Triết học,
TP.HCM, 2011, tr.91
5
TALÉT (624-547 TCN)
Nguồn: philosofaithcircle
Milê là thành thị buôn bán to nhất và quan trọng nhất ở Hy Lạp trong thế kỷ
VII trước CN, với 90 căn cứ địa ở bờ Hắc Hải, một căn cứ địa lớn ở bờ biển Ai Cập
(một khu tự do buôn bán ở thành phố Naucrates) và nhiều thành thị ở Nam nước Ý.
Milê phát triển thương nghiệp với Ai Cập và phía Tây Tiểu Á và Lưỡng Hà vì thế
những nhà bác học tiếp thu được di sản hiểu biết của nền văn minh cổ đại Đông
phương.
Trường phái Milê với đại diện là ba nhà triết học duy vật Talét (Thalès),
Anaximăngđrơ (Anaximandre), Anaximen (Anaximène). Đặc điểm của phái này là
đặt vấn đề: thực chất của thế giới là gì?
Nếu trước kia, tôn giáo đặt vấn đề nguồn gốc thế giới và giải quyết bằng
chuyện hoang đường (ví dụ: ông thần đầu đẻ ra các ông khác ) thì các đại biểu của
trường phái Milê đều coi bản nguyên của thế giới là một cái đơn
nhất. Như theo Talét bản nguyên vật chất của thế giới là nước, còn
Anaximăngđrơ thì cho là apeiron, trong khi Anaximen quan niệm
là không khí.
Talét xuất thân trong một gia đình thương gia giàu có, ông
không chỉ là nhà triết học mà còn là nhà toán học, nhà thiên văn
học… Talét đặt vấn đề thực chất của thế giới là một thứ vật chất:
nước. Nước là yếu tố đầu tiên, là bản nguyên của vạn vật; vạn vật bắt đầu từ nước và
luôn quay trở về với nước; không có nước thì không có gì cả. Nước tồn tại vĩnh
viễn, còn mọi vật do nó tạo ra thì không ngừng sinh ra, biến đổi và mất đi

6
.
Trường phái duy vật đơn nguyên do Hêraclít xây dựng, thể hiện rõ các tư
tưởng biện chứng chất phác, và căn bản thì có tính chất duy vật, dĩ nhiên là không
hoàn toàn. Hêraclít đã xây dựng những khái niệm căn bản của biện chứng pháp: khái
niệm vạn vật biến chuyển, mâu thuẫn nội bộ trong mỗi vật, không phải là mâu thuẫn
giữa cái này và cái kia, mà là trong sự đồng nhất có mâu thuẫn mà chính nó đồng
nhất là vì nó mâu thuẫn với nó.
Tư tưởng của Hêraclít rất khác với phái Milê. Phái Milê là phái tư sản tiến
bộ, tư sản cách mạng, duy vật chủ nghĩa. Tuy họ có quan niệm được vạn vật biến
chuyển, nhưng thực tế lại quan niệm biến chuyển máy móc.
5
Tiểu ban Triết học, Khoa LLCT, Trường ĐH Kinh tế TP.HCM. Triết học Phần I Đại cương về lịch sử Triết học,
TP.HCM, 2011, tr.94
6
Bộ GD-ĐT. Giáo trình Triết học Mác – Lênin, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 63.
7
Quan niệm về thế giới: Hêraclít cho rằng thế giới vật chất là do chính vật
chất sinh ra, mà dạng vật chất đầu tiên sinh ra các dạng vật chất khác đó là lửa. Khi
coi bản nguyên của thế giới là lửa, Hêraclít cho rằng, vạn vật đều từ lửa mà ra, “tất
cả đều được trao đổi với lửa và lửa trao đổi với tất cả như vàng thành hàng hoá và
hàng hoá thành vàng”
7
.
Tư tưởng biện chứng: Theo ông, không có sự vật, hiện tượng nào trường
tồn, bất biến, mà tất cả đều luôn trong trạng thái vận động, biến đổi và chuyển hoá
không ngừng. “Mọi vật đều trôi đi, chảy đi, không có cái gì đứng nguyên tại chỗ”.
Vạn vật vừa tồn tại vừa không tồn tại, không ngừng sinh thành, biến đổi, chuyển hoá
do vậy “không ai tắm được hai lần trong cùng một dòng sông”.
Theo ông cái đồng nhất tồn tại trong sự khác biệt. Thế giới vật chất vừa đa

+ Giai đoạn 2: Hận thù tiến vào tâm vũ trụ, đẩy tình yêu ra khỏi tâm, vũ trụ
bắt đầu phân hóa.
+ Giai đoạn 3: Hận thù chiến thắng và ngự ở tâm vũ trụ, đẩy tình yêu ra
ngoài biên, vũ trụ hoàn toàn bị phân hóa thành bốn yếu tố lửa - khí - nước - đất.
+ Giai đoạn 4: Tình yêu tiến dần vào vũ trụ, đẩy hận thù khỏi tâm và kết hợp
với bốn yếu tố lửa - khí - nước - đất tạo nên hay làm mất đi sự vật.
Cũng theo trường phái đa nguyên nhưng Anaxago cho rằng vạn vật được sinh
ra từ những cái tương tự như chúng mà ông gọi là hạt giống, cực nhỏ và có thể phân
chia đến vô tận. Sự biến hóa về chất của vạn vật là kết quả thay thế phần lớn các hạt
giống trong chúng. Dưới tác động của Nus – trí tuệ thuần túy hay linh hồn của thế
giới mà các hạt giống sinh sôi, nảy nở và thay thế cho nhau. Theo Anaxago, mầm
nào sẽ sinh giống nấy, nhưng mỗi hạt giống sẽ chứa tất cả các hạt giống khác ở liều
lượng nhỏ hơn.
4. Trường phái nguyên tử luận Lơxíp (Leucippe) – Đêmôcrít (Democrite)
Đây là trường phái đỉnh cao của triết học Hy Lạp cổ đại trong giai đoạn cực
thịnh. Theo Lơxíp và Đêmôcrít, cơ sở biến chuyển bất sinh bất tử là nguyên tử. Lần
đầu tiên tư tưởng duy vật Hy Lạp đạt tới một khái niệm vật chất thoát khỏi cảm tính
trực quan, quy định vật chất một cách khoa học, chính xác, bằng khối và hình.
Lơxíp cho rằng cái tồn tại (nguyên tử) tồn tại nhưng cái không tồn tại (chân
không) cũng tồn tại. Nguyên tử và chân không cùng là khởi nguyên của thế giới. Từ
9
ĐÊMÔCRÍT (460-370 TCN)
Nguon: PlanetFacts
những cơn lốc xoáy của các nguyên tử trong chân không mà các nguyên tử cùng
kích thước tụ lại với nhau hình thành nên đất, nước, lửa, không khí. Từ đó tạo ra
vùng đất và bầu trời với các tinh tú rực sáng. Vạn vật sinh, diệt theo luật nhân quả.
Kế thừa tư tưởng của người thầy Lơxíp,
Đêmôcrít đã phát triển học thuyết nguyên tử lên một
trình độ mới. Là một trong những nhà duy vật lớn nhất
thời cổ đại, Đêmôcrít cho rằng tất cả mọi vật đều hình

các chuẩn mực đạo đức. Nghệ thuật quản lý nhà nước là một trong những loại nghệ
thuật cao nhất.
CHƯƠNG II
NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA CHỦ NGHĨA
DUY VẬT CHẤT PHÁC HY LẠP CỔ ĐẠI
1. Những giá trị
- Thế giới quan duy vật chất phác không dựa vào cái siêu nhiên hay lòng tin,
đức tin tôn giáo mà dựa vào cái tự nhiên, dựa vào lý trí hay lẽ phải đời thường của
chính con người để lý giải thế giới và đời sống của họ. Thế giới quan duy vật chất
phác đã đặt ra những vấn đề mà triết học và khoa học đời sau phải giải đáp; do vậy
nó đã thúc đẩy hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người phát triển,
góp phần củng cố sức mạnh tinh thần cho các lực lượng chính trị tiến bộ trong xã
hội…
9
- Chủ nghĩa duy vật chất phác Hy Lạp cổ đại giải thích giới tự nhiên theo
quan điểm duy vật thô sơ, thuần phác mà theo Ăngghen thì đó là “quan niệm về thế
9

Tiểu ban Triết học, Khoa LLCT, Trường ĐH Kinh tế TP.HCM. Triết học Phần II Các chuyên đề về Triết học Mác -
Lênin, TP. HCM, 2010, tr.14.
11
giới một cách nguyên thủy, ngây thơ, nhưng căn bản là đúng”
10
. Quan niệm duy vật
thô sơ của triết học Hy Lạp đã đóng vai trò to lớn trong cuộc đấu tranh chống chủ
nghĩa duy tâm, tôn giáo và thần học thời cổ đại; lấy giới tự nhiên để phản ánh giới tự
nhiên mà không viện đến thần linh hay thượng đế để giải thích thế giới. Vai trò của
tự nhiên và con người được đề cập một cách khách quan. Nhằm đi đến tìm hiểu con
người và tự nhiên từ đâu mà có và đi về đâu.
- Với những nhà tư tưởng tiêu biểu như Hêraclít, chủ nghĩa duy vật chất phác

tự nhiên.
2. Những hạn chế
- Thế giới quan duy vật chất phác thường đồng nhất vật chất với vật cụ thể;
do đó nó thường mang tính trực quan, phỏng đoán, thiếu những chứng cứ khoa học
cụ thể, biểu hiện dưới hình thức ngây thơ, phù hợp với nhận thức của người thời cổ.
- Thế giới quan duy vật chất phác không triệt để vì nó không lý giải được bản
tính của các hiện tượng tinh thần cũng như mối quan hệ giữa tinh thần và vật chất;
nó chỉ mới giải thích thế giới chứ chưa thật sự góp phần cải tạo thế giới.
- Về thế giới quan là duy vật có ý nghĩa chống lại những tư tưởng sai lầm của
triết học duy tâm và tôn giáo; nhưng về mặt phương pháp luận thì chưa có cơ sở
khoa học, bởi nó mang tính trực quan, cảm tính chủ yếu dựa vào tri thức kinh
nghiệm của chính bản thân các nhà triết học hơn là những khái quát khoa học của
bản thân tri thức triết học. Quan điểm của chủ nghĩa duy vật thời kỳ này nói chung
là đúng đắn nhưng mang tính ngây thơ chất phác vì chủ yếu dựa vào quan sát trực
tiếp, chưa dựa vào các thành tựu của các bộ môn khoa học chuyên ngành vì lúc đó
chưa phát triển. Chính phép biện chứng còn ngây thơ chất phác nên sau giai đoạn
phát triển rực rỡ đã không đứng vững và bị phép siêu hình xuất hiện từ nửa cuối thế
kỉ XV thay thế.
- Còn những khái niệm mang ảnh hưởng của chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo như
13
“linh hồn” (Hêraclít), “tình yêu”, “hận thù” (Empêđốc).
- Chưa thấy được hết khả năng của con người trong việc cải tạo biến đổi thế
giới và còn chịu ảnh hưởng của giai cấp chủ nô thống trị, một phần do xuất phát từ
quan niệm bảo vệ quyền lợi của tầng lớp mình nên tư tưởng của triết gia thời này
vẫn bảo vệ lợi ích giai cấp, chưa thấy được tính tất yếu của việc giải phóng con
người hoàn toàn tự do khỏi chế độ nô lệ.
KẾT LUẬN
Những thành tựu của chủ nghĩa duy vật ngây thơ, chất phác trong triết học
Hy Lạp có ý nghĩa rất lớn đến sự phát triển của chủ nghĩa duy vật nói chung và sự
nhận thức của con người nói riêng về thế giới. Những thành tựu này góp phần tạo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status