ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN DUY PHƢƠNG
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG ĐỘI NGŨ
CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TỈNH QUẢNG NINH
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60 34 04 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN CÖC
THÁI NGUYÊN - 2013
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
i
Tỉnh ủy đã nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp thông tin tư liệu, đóng góp ý kiến cho
việc nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã giúp đỡ,
động viên, khích lệ và tạo điều kiện trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành
luận văn.
Tác giả luận văn Nguyễn Duy Phương
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vii
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 2
4. Ý nghĩa khoa học của đề tài 3
5. Những đóng góp của đề tài 3
6. Bố cục của luận văn 3
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NÂNG CAO
CHẤT LƢỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TỈNH QUẢNG NINH 4
1.1. Cơ sở lý luận 4
1.1.1. Một số vấn đề cơ bản về lý luận nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
3.1.1. Khái quát đặc điểm tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội của Quảng
Ninh liên quan đến chất lƣợng đội ngũ CBCC 47
3.1.2. Khảo sát tình hình đội ngũ cán bộ, công chức tỉnh Quảng Ninh 50
3.1.3. Nhận xét chung về đội ngũ CBCC tỉnh Quảng Ninh 59
3.2. Thực trạng công tác nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán bộ, công chức 63
3.3. Đánh giá chung 74
3.3.1. Kết quả đạt đƣợc trong nâng cao chất lƣợng đội ngũ CBCC 74
3.3.2. Những hạn chế trong nâng cao chất lƣợng đội ngũ CBCC 75
3.3.3. Nguyên nhân 76
Chƣơng 4: PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT
LƢỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TỈNH QUẢNG NINH 78
4.1. Quan điểm, phƣơng hƣớng, mục tiêu 78
4.1.1. Dự báo tình hình tác động tới việc nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán
bộ, công chức tỉnh Quảng Ninh 78
4.1.2. Quan điểm 80
4.1.3. Phƣơng hƣớng 82
4.1.4. Mục tiêu 83
4.2. Giải pháp chủ yếu nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán bộ, công chức của tỉnh 85
4.2.1. Nhóm giải pháp đổi mới về chất lƣợng tuyển dụng, lựa chọn, và sử
dụng đội ngũ CBCC 85
4.2.2. Nhóm giải pháp về công tác quy hoạch và đào tạo, bồi dƣỡng 89
4.2.3. Nhóm giải pháp về đổi mới phƣơng thức sử dụng CBCC 98
4.2.4. Nhóm giải pháp về tạo môi trƣờng công tác và đổi mới cơ chế chính sách 104
4.2.5. Nhóm giải pháp về nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng biên chế, đổi
mới tổ chức bộ máy và nâng cao chất lƣợng đội ngũ CBCC làm
công tác tổ chức cán bộ 106
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
v
Bảng 3.1. Số lƣợng và cơ cấu của đội ngũ CBCC cấp tỉnh, cấp huyện đến
31/12/2012 51
Bảng 3.2. Số lƣợng và cơ cấu của đội ngũ CBCC cấp tỉnh, cấp huyện đến
31/12/2005 52
Bảng 3.3. Số lƣợng và cơ cấu của đội ngũ CBCC cấp xã năm 2012 53
Bảng 3.4. Số lƣợng và cơ cấu của đội ngũ CBCC cấp xã năm 2005 54
Bảng 3.5. Cơ cấu nữ, dân tộc CBCC cấp tỉnh, cấp huyện năm 2012 và 2005 54
Bảng 3.6. Số lƣợng, cơ cấu CBCC cấp xã đến 31/3/2012 55
Bảng 3.7. Trình độ chuyên môn của CBCC cấp tỉnh, cấp huyện năm 2005 và 2012 56
Bảng 3.8. Trình độ LLCT của CBCC cấp tỉnh, cấp huyện năm 2005 và 2012 56
Bảng 3.9. Trình độ QLNN của CBCC cấp tỉnh, cấp huyện năm 2005 và 2012 57
Bảng 3.10. Trình độ ngoại ngữ của CBCC cấp tỉnh, cấp huyện năm 2005 và 2012 58
Bảng 3.11. Chất lƣợng CBCC cấp xã năm 2005 và 2012 59
Bảng 3.12. Số lƣợng, cơ cấu đội ngũ CBCC các cơ quan làm công tác tổ chức
CB đến 31/12/2012 73
Bảng 3.13. Số lƣợng, chất lƣợng đội ngũ CBCC của các cơ quan làm công tác
tổ chức cán bộ đến 31/12/2012 73 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Cán bộ, công chức là nguồn nhân lực quan trọng của bộ máy các cơ quan
Đảng, nhà nƣớc và các đoàn thể quần chúng từ Trung ƣơng đến địa phƣơng, yếu tố
quyết định việc hoàn thành chức năng, nhiệm vụ của bộ máy đó. Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã căn dặn: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc"; " Có cán bộ tốt thì việc
gì cũng xong, muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém, đó là
một chân lý" [1, Tr. 220, 221]. Lịch sử hơn 80 năm lãnh đạo của Đảng đã khẳng
Quảng Ninh một cách hệ thống. Vì vậy,việc lựa chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao
chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức tỉnh Quảng Ninh" là vấn đề thiết thực có ý
nghĩa cấp bách cả lý luận và thực tiễn.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu
Đánh giá thực trạng, chất lƣợng đội ngũ cán bộ, công chức của tỉnh Quảng
Ninh, những vấn đề tồn tại, hạn chế cần khắc phục, trên cơ sở đó đề xuất phƣơng
hƣớng và các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán bộ, công
chức của tỉnh.
2.2. Nhiệm vụ
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản của việc nâng cao chất lƣợng
đội ngũ cán bộ, công chức ở nƣớc ta nói chung và tỉnh ta nói riêng.
- Nghiên cứu kinh nghiệm của một số nƣớc trên thế giới và của một số địa
phƣơng về nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán bộ, công chức, rút ra bài học có thể vận
dụng cho tỉnh Quảng Ninh.
- Phân tích, đánh giá đúng thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức và công tác
tổ chức cán bộ của tỉnh; những kết quả đạt đƣợc tồn tại và nguyên nhân của những
hạn chế.
- Đề xuất, kiến nghị phƣơng hƣớng và những giải pháp cơ bản nhằm nâng
cao chất lƣợng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu của tỉnh giai đoạn hiện
nay và những năm tiếp theo.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Thực trạng chất lƣợng đội ngũ cán bộ, công chức của tỉnh, gồm: cán bộ,
công chức ở các cơ quan Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính
trị - xã hội cấp tỉnh, cấp huyện và đội ngũ cán bộ, công chức xã, phƣờng, thị trấn.
- Các giải pháp nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán bộ, công chức của tỉnh trên
các mặt: đánh giá, tuyển chọn, quy hoạch, ĐTBD, điều động luân chuyển, bố trí sử
dụng, bổ nhiệm, chính sách đãi ngộ, công tác tổ chức cán bộ, đó là những nhân tố
quan trọng tác động đến việc nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán bộ, công chức của
4
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NÂNG CAO
CHẤT LƢỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
TỈNH QUẢNG NINH
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Một số vấn đề cơ bản về lý luận nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức
1.1.1.1. Một số khái niệm cơ bản về cán bộ, công chức
Cán bộ, công chức (CBCC) là những thuật ngữ cơ bản của chế độ công chức,
công vụ, thƣờng xuyên xuất hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong khoa học
quản trị nguồn nhân lực, hành chính, kinh tế, theo cách tiếp cận khác nhau, ngƣời ta đã
đƣa ra các cách giải thích khác nhau về thuật ngữ “cán bộ”, “công chức”.
Thuật ngữ “cán bộ” (CB) đƣợc sử dụng và bao hàm trong phạm vi rộng là
những ngƣời làm việc thuộc khu vực nhà nƣớc và các tổ chức chính trị - xã hội. Tuy
nhiên, để xác định cụ thể những tiêu chí nào là CB thì từ trƣớc đến nay chƣa có văn
bản quy định chính thức.
Thuật ngữ “công chức” (CC) thƣờng đƣợc hiểu một cách khái quát là những
ngƣời đƣợc Nhà nƣớc tuyển dụng, nhận một công vụ hoặc một nhiệm vụ nhất định,
do Nhà nƣớc trả lƣơng và có nghĩa vụ, bổn phận phục vụ nhân dân, phục vụ nhà
nƣớc theo quy định của Pháp luật.
Ở nƣớc ta, trải qua một thời gian dài cho đến trƣớc khi Luật cán bộ, công
chức đƣợc ban hành năm 2008, trong nhận thức cũng nhƣ trong các hoạt động quản
lý, chúng ta chƣa xác định rõ ràng cán bộ; công chức; viên chức. Trong hệ thống
pháp luật nƣớc ta, kể từ Hiến pháp năm 1992 (đã sửa đổi, bổ sung) cho đến các luật
khác (Luật tổ chức Chính Phủ; Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân
dân ) đều có những điều, khoản sử dụng các thuật ngữ “cán bộ”, “công chức”,
nhƣng chƣa có văn bản nào giải thích thuật ngữ này. Ở nƣớc ta, có một đặc điểm
đặc biệt là đội ngũ CBCC, viên chức luôn có sự liên thông với nhau. Theo yêu cầu
nhiệm vụ, cơ quan có thẩm quyền có thể điều động, luân chuyển họ giữa các cơ
quan, tổ chức Đảng, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội Với điểm đặc thù này,
thƣờng, không có chức vụ Với nghĩa thứ nhất, CB không chỉ là những ngƣời làm
công tác có chuyên môn nghiệp vụ trong cơ quan nhà nƣớc, mà còn trong cả hệ
thống chính trị và cũng chỉ những ngƣời có trình độ đã qua đào tạo từ cao đẳng, đại
học trở lên. Những ngƣời có trình độ đào tạo thấp hơn gọi là nhân viên. Bộ phận CB
có chuyên môn nghiệp vụ thƣờng đƣợc hình thành thông qua con đƣờng đào tạo từ
nhà trƣờng. Với nghĩa thứ hai, CB là những ngƣời có chức vụ trong một cơ quan,
một tổ chức; là đội ngũ CB lãnh đạo, quản lý, những ngƣời có chức vụ, phân biệt
với ngƣời không có chức vụ. Bộ phận CB này đƣợc hình thành thông qua việc bầu
cử dân chủ hoặc đƣợc đề bạt, bổ nhiệm.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
6
Theo Luật cán bộ, công chức thông qua ngày 13/11/2008, có hiệu lực thi hành
từ ngày 01/01/2010, thì khái niệm cán bộ: “Cán bộ là công dân Việt Nam, đƣợc bầu
cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của
Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ƣơng, ở tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ƣơng (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị
xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hƣởng
lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc”; “Cán bộ xã, phƣờng, thị trấn (sau đây gọi chung là
cấp xã) là công dân Việt Nam, đƣợc bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong
Thƣờng trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thƣ, Phó Bí thƣ Đảng ủy,
ngƣời đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội”.
- Khái niệm công chức
Công chức là một thuật ngữ đƣợc dùng từ rất sớm trong quản lý nhà nƣớc ở
nƣớc ta, chỉ những ngƣời đƣợc các cơ quan nhà nƣớc tuyển dụng, bổ nhiệm vào làm
việc thƣờng xuyên trong các cơ quan nhà nƣớc và hƣởng lƣơng từ ngân sách. Khái
niệm “công chức” xuất hiện ở nƣớc ta, sau khi nhân dân ta giành đƣợc chính quyền
năm 1945, đã hình thành đội ngũ CC, trong Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 do
Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành về qui chế công chức đã qui định rõ “những
đội nhân dân Việt Nam, về công an nhân dân Việt Nam điều chỉnh. Với Pháp lệnh
cán bộ, công chức, các tiêu chí: Công dân Việt Nam, trong biên chế, hƣởng lƣơng
từ Ngân sách nhà nƣớc mới chỉ là những căn cứ để xác định một ngƣời có phải là
"cán bộ, công chức" hay không. Đến năm 2003, theo yêu cầu cải cách bộ máy và
công chức cho phù hợp với điều kiện mới, Uỷ ban Thƣờng vụ quốc hội đã qui định
lại CC nhà nƣớc.
Luật cán bộ, công chức đƣợc thông qua ngày 13/11/2008 và có hiệu lực thi
hành từ ngày 01/01/2010 đã chỉ ra rõ ràng nhƣ thế nào thì là “cán bộ”, là “công
chức” và thế nào là “cán bộ xã, phƣờng, thị trấn”, “công chức cấp xã”. Đây là một
ƣu điểm quan trọng của Luật CBCC, bởi thực tế cũng cho thấy rõ ràng địa vị pháp
lý của những ngƣời này có sự khác biệt nhất định. Theo Điều 4, thì công chức đƣợc
khái niệm:
Công chức là công dân Việt Nam, đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào
ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam,
Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện;
trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan,
quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị
thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên
nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập
của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội (sau
đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hƣởng
lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo,
quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lƣơng đƣợc bảo đảm từ quỹ
lƣơng của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”; “công
chức cấp xã là công dân Việt Nam đƣợc tuyển dụng giữ một chức danh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
8
chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và
Theo quy định này thì tiêu chí để xác định CC gắn với cơ chế tuyển dụng, bổ
nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh. Những ngƣời đủ các tiêu chí chung của
CBCC mà đƣợc tuyển vào làm việc trong các cơ quan, đơn vị của Đảng, Nhà nƣớc,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
9
tổ chức chính trị - xã hội, bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập
thông qua quy chế tuyển dụng (thi tuyển, xét tuyển), bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ,
chức danh thì đƣợc xác định là CC. Công chức là những ngƣời đƣợc tuyển dụng lâu
dài, hoạt động của họ gắn với quyền lực công (hoặc quyền hạn hành chính nhất
định) đƣợc cơ quan có thẩm quyền trao cho và chịu trách nhiệm trƣớc cơ quan, tổ
chức có thẩm quyền về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đƣợc giao. Việc quy
định CC trong phạm vi nhƣ vậy xuất phát từ mối quan hệ liên thông giữa các cơ
quan của Đảng, Nhà nƣớc và tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị. Đây
là điểm đặc thù khác so với một số nƣớc trên thế giới nhƣng lại hoàn toàn phù hợp
với điều kiện cụ thể và thể chế chính trị ở Việt Nam.
Việc phân định CB và CC của Luật cán bộ, công chức là căn cứ để quy định
cơ chế quản lý phù hợp với CB ở trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện; CC ở trung
ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện; CB cấp xã, CC cấp xã. Với những quy định mới này,
pháp luật về CBCC đã tiếp tục quy định những vấn đề thể hiện tính đặc thù trong
hoạt động công vụ của CB khác với hoạt động công vụ của CC liên quan đến các
nội dung nhƣ: quyền và nghĩa vụ, bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm; đào tạo, bồi dƣỡng
(ĐTBD); điều động, luân chuyển; đánh giá; :
+ Bên cạnh các quyền và nghĩa vụ chung mà CB và CC đều có. Đối với CB
do chịu sự điều chỉnh của cơ chế bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm nên CB còn phải chịu
trách nhiệm trƣớc Đảng, Nhà nƣớc, nhân dân và trƣớc cơ quan, tổ chức có thẩm
quyền về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đƣợc giao. Điểm này thể hiện trách
nhiệm chính trị của CB.
Đối với CC, do chịu sự điều chỉnh của cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm nên CC
Theo cách hiểu trên đây, khái niệm CB lãnh đạo và CB quản lý có nội hàm
giống nhau: cả CB lãnh đạo và CB quản lý đều là chủ thể ra quyết định, điều khiển
hoạt động của một tổ chức; ngƣời CB lãnh đạo cũng thực hiện chức năng quản lý và
ngƣời CB quản lý cũng thực hiện chức năng lãnh đạo, nên khó có thể phân biệt rạch
ròi đâu là ngƣời lãnh đạo, đâu là ngƣời quản lý.
Tuy nhiên, khái niệm lãnh đạo và quản lý không hoàn toàn đồng nhất với
nhau. Trong quá trình lãnh đạo, hoạt động chủ yếu là định hƣớng cho khách thể
thông qua hệ thống đƣờng lối, chủ trƣơng, chính sách, cơ chế, định hƣớng hoạt
động của đối tƣợng và xã hội. Lãnh đạo là một quá trình thúc đẩy nhiều ngƣời đi
theo một chiều hƣớng nhất định nhằm đạt đƣợc mục tiêu đề ra. Còn hoạt động quản
lý mang tính điều khiển, vận hành thông qua những thiết chế đƣợc quy định từ
trƣớc. Quản lý là điều hành một tổ chức, một nhóm ngƣời thực hiện các nhiệm vụ
nhằm đạt đƣợc mục tiêu đề ra. Xét về tổng thể, hoạt động quản lý là sự nối tiếp của
hoạt động lãnh đạo, là khâu tất yếu để thực hiện sự lãnh đạo.
Ở cả hai phạm vi, ngƣời CB lãnh đạo, quản lý đều phải là ngƣời giỏi chuyên
môn nghiệp vụ, có đủ năng lực và phẩm chất để định hƣớng, điều khiển, chỉ huy, có
khả năng tổ chức công việc và đoàn kết tập thể. Cụ thể là, ngƣời CB lãnh đạo, quản
lý phải hội tụ 3 đặc điểm: có khả năng phân tích xác định vấn đề trong các tình
huống, ngay cả khi tình huống chƣa rõ ràng; có khả năng quan hệ rộng, gây ảnh
hƣởng, có khả năng hƣớng dẫn, kiểm soát ngƣời khác thực hiện công việc có hiệu
quả; có khả năng giao tiếp, xúc cảm với trạng thái tâm lý ngƣời khác.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
11
- Khái niệm năng lực cán bộ, công chức
+ Năng lực, theo Từ điển tiếng Việt là: (i) Khả năng, điều kiện chủ quan
hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó; (ii) Phẩm chất tâm lý và
sinh lý tạo cho con ngƣời khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất
lƣợng cao.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
12
cùng đƣợc quyết định bởi phẩm chất, năng lực, hiệu quả công tác của đội
ngũ cán bộ, công chức. Có thể nói đây là vấn đề cực kỳ quan trọng đƣợc
Đảng và Nhà nƣớc ta quan tâm trong suốt quá trình từ khi xây dựng nhà
nƣớc dân chủ nhân dân cho đến nay. [3, tr.33]
1.1.1.2. Khái niệm chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức
- Khái niệm chất lượng
Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học do nhà xuất bản Đà Nẵng xuất
bản năm 2000 định nghĩa: "Chất lƣợng: Cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con
ngƣời, một sự vật, sự việc" [21, tr. 144]. Khi đánh giá chất lƣợng đội ngũ CBCC,
một vấn đề đặt ra là hiểu cho đúng thế nào là chất lƣợng của đội ngũ CBCC. Chất
lƣợng của đội ngũ CBCC đƣợc xem xét dƣới nhiều góc độ khác nhau:
+ Chất lƣợng của đội ngũ CBCC đƣợc thể hiện thông qua hoạt động của toàn
bộ bộ máy tổ chức các cơ quan nhà nƣớc, ở việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt
động của các cơ quan đó.
+ Chất lƣợng của đội ngũ CBCC đƣợc đánh giá dƣới góc độ phẩm chất đạo
đức, trình độ năng lực và khả năng hoàn thành nhiệm vụ đƣợc giao cũng nhƣ hiệu
quả công tác của họ.
+ Chất lƣợng của đội ngũ CBCC là chỉ tiêu tổng hợp chất lƣợng của từng
CBCC. Đối với đội ngũ CBCC, muốn xác định chất lƣợng cao hay thấp ngoài việc
đánh giá phẩm chất đạo đức phải có hàng loạt chỉ tiêu đánh giá trình độ năng lực và
sự tín nhiệm của các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp trên địa bàn. Các lớp đào tạo
huấn luyện đã qua; bằng cấp (kể cả ngoại ngữ, tin học) về chuyên môn, kỹ thuật,
quản lý nhà nƣớc, pháp luật v.v ; độ tuổi; thâm niên công tác v.v
+ Chất lƣợng của đội ngũ CBCC còn đƣợc đánh giá dƣới góc độ khả năng thích
ứng, xử lý các tình huống phát sinh của ngƣời CBCC đối với nhiệm vụ đƣợc giao.
Bên cạnh đó, nhiệm vụ của CBCC và hoạt động công vụ gắn liền với CBCC, là
một loại lao động đặc thù để thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng, chính quyền, đoàn
+ Thực hiện nghiêm chỉnh quyền và nghĩa vụ của cán bộ, công chức theo
các quy định hiện hành.
+ Tinh thần học tập nâng cao trình độ; tính trung thực, ý thức tổ chức kỷ
luật, tinh thần trách nhiệm trong công tác; tinh thần tự phê bình và phê
bình.
+ Giữ gìn đạo đức, lối sống lành mạnh; chống quan liêu, tham nhũng,
lãng phí và các biểu hiện tiêu cực khác.
+ Đoàn kết, thân ái trong công tác, có tinh thần phục vụ nhân dân. [12, tr.
112]
Ngƣời CBCC muốn xác lập đƣợc uy tín của mình trƣớc nhân dân, trƣớc hết
họ phải là ngƣời CBCC có phẩm chất đạo đức tốt. Xây dựng các tiêu chuẩn đạo đức
của ngƣời CBCC và hình thành ở họ các phẩm chất đạo đức tƣơng ứng với vị trí,
vai trò, chức năng, nhiệm vụ của đội ngũ CBCC là việc làm cần thiết và cấp bách,
nhất là trong sự nghiệp công nghiêp hóa - hiện đại hóa (CNH - HĐH) đất nƣớc hiện
nay. Trong bối cảnh nền kinh tế thị trƣờng và hội nhập quốc tế đang có sự chuyển
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
14
biến nhanh chóng và xã hội xuất hiện nhiều vấn đề hết sức phức tạp, trong đó phải
kể đến trình độ dân trí ngày một nâng cao, và sự đòi hỏi của xã hội đối với đội ngũ
CBCC cũng ngày một cao hơn. Thêm vào đó công tác quản lý kinh tế, xã hội cũng
đòi hỏi ngƣời CBCC phải tạo lập cho mình một uy tín nhất định đối với quần chúng
nhân dân.
Việc nâng cao phẩm chất, đạo đức ở ngƣời CBCC đã đƣợc Chủ tịch Hồ Chí
Minh quan tâm từ rất sớm. Nhất là sau khi cách mạng thành công, ngoài việc lãnh
đạo, quản lý đất nƣớc, trƣớc những khó khăn phải chống thù trong, giặc ngoài, Bác
vẫn chăm lo việc giáo dục đạo đức cho ngƣời CBCC trong các cơ quan chính quyền
nhà nƣớc non trẻ. Ngƣời đã xác định: "Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy" và
Ngƣời nhấn mạnh: "Cán bộ là những ngƣời đem chính sách của Chính phủ, của
sự phát triển, tổng kết thực tiễn, tham gia xây dựng đƣờng lối, chính sách, thuyết
phục các tổ chức nhân dân thực hiện; ý thức tham gia đấu tranh bảo vệ quan điểm,
đƣờng lối của Đảng, và pháp luật của Nhà nƣớc. Theo Ban Tổ chức Trung ƣơng thì
trình độ, năng lực đƣợc thể hiện: “ Lãnh đạo, quản lý, nghiên cứu bổ sung đƣờng lối,
phát triển lý luận, sản xuất kinh doanh ; Năng lực tƣ duy, khả năng hiểu biết và vận
dụng đúng đắn đƣờng lối chính sách của Đảng và Nhà nƣớc vào thực tiễn, đáp ứng
đƣợc yêu cầu nhiệm vụ hiện tại và cho sự phát triển sau này”. [12, tr.112].
Năng lực là tổng hợp các đặc điểm phẩm chất tâm lý, trình độ phù hợp với
những yêu cầu đặc trƣng của một hoạt động nhất định bảo đảm cho hoạt động đó
đạt đƣợc kết quả. Năng lực hình thành một phần dựa trên cơ sở tƣ chất tự nhiên của
cá nhân, và một phần lớn dựa trên quá trình đào tạo, giáo dục và hoạt động thực
tiễn, cũng nhƣ tự rèn luyện của cá nhân.
Năng lực thể hiện ở chỗ, con ngƣời làm việc tốn ít sức lực, ít thời gian, chi
phí, mà kết quả lại tốt. Việc phát hiện ra năng lực của con ngƣời thƣờng căn cứ vào
những dấu hiệu: Sự hứng thú đối với công việc nào đó; sự dễ dàng tiếp thu kỹ năng
nghề nghiệp; hiệu suất lao động trong lĩnh vực đó.
Năng lực: có năng lực chung và năng lực chuyên môn, giữa chúng có mối
quan hệ ảnh hƣởng, tƣơng hỗ lẫn nhau. Năng lực chung cho phép con ngƣời có thể
thực hiện có kết quả những hoạt động khác nhau nhƣ hoạt động học tập, lao động
Năng lực chuyên môn cho phép ngƣời ta làm tốt một loại công việc nào đó nhƣ âm
nhạc, hội họa, văn học, toán học
Năng lực con ngƣời thƣờng gắn liền với sở thích của ngƣời ấy. Con ngƣời có
sở thích, hứng thú về một hoạt động nào đấy thƣờng nói lên năng lực của ngƣời đó
về mặt hoạt động đó. Năng lực không chỉ thể hiện trong những hoạt động lao động
trí óc thuần túy mà thể hiện cả trong hoạt động thể lực. Năng lực phát triển trong
quá trình hoạt động, ngƣời lƣời biếng, trốn tránh hoạt động lao động trí óc cũng nhƣ
lao động chân tay thì năng lực không thể phát triển đƣợc.
Đối với CBCC, năng lực thƣờng bao gồm những tố chất cơ bản về đạo đức
cách mạng, về tinh thần phục vụ nhân dân, về trình độ kiến thức pháp luật, kinh tế,
văn hóa, xã hội Sự am hiểu và nắm vững đƣờng lối, chính sách của Đảng, Nhà
đi chiều cắp ô về”. Do những hạn chế về phẩm chất, trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ, trình độ LLCT, quản lý nhà nƣớc, quản lý kinh tế đã dẫn tới hạn chế trong
năng lực quản lý điều hành công việc, lúng túng trong việc lập kế hoạch, xử lý tình
huống khi kế hoạch đƣa ra không phù hợp thực tiễn.
Nâng cao chất lƣợng đội ngũ CBCC phù hợp với công cuộc đổi mới, vừa
thuận theo quy luật tất yếu, khách quan, phục vụ nhân dân tốt hơn. Nâng cao chất
lƣợng đội ngũ CBCC còn là sự trẻ hóa đội ngũ, là nhu cầu, là đòi hỏi của giai đoạn
mới, làm cho đội ngũ CBCC tràn đầy sức sống, đội ngũ CBCC không đƣợc trẻ hóa
thì thiếu sức sống, bảo thủ. Nơi nào mà CB cấp trên biết lựa chọn và dìu dắt, có
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
17
nhiều CB mới ở đó công việc tiến triển tốt. Đội ngũ CB không đƣợc tri thức hóa và
chuyên môn, chuyên nghiệp hóa thì khó hoàn thành nhiệm vụ. CBCC có tƣ cách,
tác phong tốt, phải toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân, dám nói thật, dám bảo vệ cái
đúng, đấu tranh chống những tiêu cực, quan liêu, tham nhũng trong đội ngũ CBCC.
Có mối quan hệ tốt với các đồng nghiệp và quần chúng nhân dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: " huấn luyện cán bộ là công việc gốc của
Đảng"; " Đảng phải nuôi dạy cán bộ, nhƣ ngƣời làm vƣờn vun trồng những cây
cối quý báu, phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi ngƣời có ích cho công việc
của chúng ta" [24, tr. 32].
Năng lực của một con ngƣời không phải là bất biến suốt đời, mà là một quá
trình vận động. Khi nói về phẩm chất, năng lực của ngƣời cán bộ. Chủ tịch Hồ Chí
Minh thƣờng nói: Ngƣời có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó, ngƣời
có tài mà không có đức thì vô dụng. Nhƣng chữ "đức" ở đây phải đƣợc hiểu cho
đúng. Không thể coi những ngƣời gọi dạ, bảo vâng, đúng cũng gật, sai cũng gật
không có chính kiến gì là những ngƣời có chữ "đức". Trong khi đó lại coi những
ngƣời có chính kiến rõ ràng, dám đấu tranh phê bình, dám chống lại những sai trái
nhƣ quan liêu, tham nhũng lại bị coi là kiêu căng tự mãn, là thiếu "đức". Nói về