CƠ sở LÝ LUẬN QLNN về CHỐNG HÀNG GIẢ, HÀNG NHÁI VÀ GIAN lận THƯƠNG MẠI TRONG KINH DOANH mặt HÀNG MỸ PHẨM TRÊN địa BÀN HÀ nội - Pdf 24

Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN QLNN VỀ CHỐNG HÀNG GIẢ, HÀNG NHÁI VÀ
GIAN LẬN THƯƠNG MẠI TRONG KINH DOANH MẶT HÀNG MỸ PHẨM
TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
1.1. Khái niệm.
1.1.1. Khái niệm và vai trò QLNN về thương mại.
1.1.1.1. Khái niệm QLNN về thương mại
QLNN về thương mại là một bộ phận hợp thành của quản lý nhà nước về kinh
tế, đó là sự tác động có hướng đích, có tổ chức của hệ thống cơ quan quản lý về
thương mại các cấp đến hệ thống bị quản lý thông qua việc sử dụng các công cụ và
chính sách quả lý nhằm đạt mục tiêu đã đặt ra trong điều kiện môi trường xác định.
1.1.1.2. Vai trò của QLNN về thương mại
- Định hướng, hướng dẫn đối với chủ thể thương mại trong lĩnh vực thương mại được
thể hiện thông qua các chiến lược, quy hoạch, các chương trình mục tiêu, các dự án, kế
hoạch và chính sách. Nhờ vậy, các doanh nghiệp mới có cơ sở để tính toán, lựa chọn
các quyết định đầu tư và kinh doanh theo ngành hàng, các nhóm sản phẩm dịch vụ,
theo phạm vi thị trường và theo độ dài thời gian cũng như liên kết, liên doanh với các
đối tác một cách hợp lý.
- Tạo lập môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp: Nhà nước tạo lập và cải thiện
môi kinh doanh cho các doanh nghiệp thông qua khai thông các quan hệ thương mại,
làm thông thoáng sự giao lưu hàng hóa trong nước và quốc tế, nhờ thiết lập khung khổ
phá lý đầy đủ hơn, đồng bộ hơn, tiến bộ hơn và thuận lợi hơn trong lĩnh vực thương
mại bao gồm các quy định pháp luật, các chính sách, ký kết các hiệp định, thực hiện
các cam kết mở cửa thị trường và hội nhập quốc tế.
- Điều tiết các hoạt động thương mại và thị trường: Các quan hệ thị trường, các hoạt
động trao đổi tự nó không phải bao giờ cũng cân đối và hiệu quả. Theo quy luật thị
trường, các chủ thể kinh doanh luôn quan tâm tới việc bố trí, di chuyển nguồn lực đến
nơi có điều kiện sản xuất và thương mại thuận lợi, bán được giá cao, tìm kiếm nhiều
lợi nhuận, dẫn đến phân bổ nhiều nguồn lực tập trung, mất cân đối. Trong khi đó, một
bộ phận dân cư, thu nhập thấp, các nhà kinh doanh không muốn tới hoặc tới đó rất ít vì
không thể tìm kiếm được lợi nhuận. Do vậy, nhà nước phải điều tiết các quan hệ trao
đổi, các hoạt động thương mại nhằm hạn chế nhược điểm trên để đảm bảo tính cân đối

trí tuệ
• Cơ quan quyền lực Nhà nước: Hội đồng nhân dân các cấp (tỉnh, huyện)
• Cơ quan hành chính Nhà nước: Uỷ ban nhân dân các cấp (tỉnh, huyện)
Luật Tổ chức Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân (2003) : “Uỷ ban nhân dân do
Hội đồng nhân dân bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành
chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và
cơ quan nhà nước cấp trên” => Cơ quan hành chính nhà nước là cơ quan chấp hành
của cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp => theo Luật Sở hữu trí tuệ (2006) thì cơ
quan hành chính nhà nước được trao quyền QLNN về sở hữu trí tuệ và thực thi quyền
sở hữu trí tuệ.
1.2.1.2. Mối quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước thẩm quyền chuyên môn
trong việc phân cấp quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ.
Điều 11 của Luật Sở hữu trí tuệ (2006) đã trao rõ trách nhiệm QLNN về sở hữu
trí tuệ (bao gồm tất cả các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ), cụ thể:
1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ.
2. Bộ Khoa học và Công nghệ chịu trách nhiệm trước Chính phủ chủ trì, phối hợp với
Bộ Văn hoá – Thông tin, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện quản lý
nhà nước về sở hữu trí tuệ và thực hiện quản lý nhà nước về quyền sở hữu công
nghiệp.
Bộ Văn hoá – Thông tin trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản
lý nhà nước về quyền tác giả và quyền liên quan.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình
thực hiện quản lý nhà nước về quyền đối với giống cây trồng.
3. Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn
của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Văn hoá –
Thông tin, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương trong việc quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ.
4. Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ tại địa
phương theo thẩm quyền.
Như vậy, các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ bao gồm các nhóm:

để đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương
mại.
4. Phát hiện, thu nhập trao đổi, cung cấp thông tin, tài liệu, gồm:
a) Thông tin về dự báo tình hình thị trường, tình hình kinh tế, cung cầu hàng hóa, giá
cả; về công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại
trong ngành và trên địa bàn; kết quả công tác trong từng giai đoạn. Trong trường hợp
có những vấn đề đột xuất, nổi cộm thì kịp thời báo cáo về Ban chỉ đạo 127/TW để
thông báo cho các Bộ, ngành, địa phương và các cơ quan chức năng có biện pháp xử
lý.
b) Thông tin về những quy định mới của pháp luật trong hoạt động quản lý biên giới,
chính sách xuất khẩu, nhập khẩu, lưu thông hàng hóa trong nước, chính sách khu kinh
tế cửa khẩu, phi thuế quan, chính sách cư dân biên giới, chính sách quản lý đối với
từng ngành hàng, mặt hàng.
c) Thông tin về tình hình vi phạm pháp luật, quy luật, thủ đoạn hoạt động của các đối
tượng vi phạm; về các tổ chức, đường dây, ổ nhóm, các tuyến, địa bàn trọng điểm liên
quan đến buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, buôn bán, vận
chuyển hàng nhập lậu, sản xuất, kinh doanh hàng giả và các hành vi gian lận thương
mại khác.
d) Thông tin về quy trình kiểm tra, xử lý mang tính nghiệp vụ của các ngành, địa
phương; thông tin về những khó khăn, vướng mắc và kinh nghiệm của từng ngành,
từng địa phương trong công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép
hàng hóa qua biên giới, buôn bán, vận chuyển hàng nhập lậu, sản xuất, kinh doanh
hàng giả và các hành vi gian lận thương mại khác.
đ) Thông tin về kỹ thuật phòng, chống và các tiến bộ khoa học, kỹ thuật có thể áp
dụng, trang bị khi các cơ quan chức năng thi hành nhiệm vụ.
e) Các thông tin, tài liệu khác theo đề nghị của các cơ quan quản lý nhà nước có liên
quan.
5. Chỉ đạo và tổ chức tuần tra, thanh tra, điều tra, kiểm tra, kiểm soát nhằm phát hiện,
ngăn chặn và xử lý các vụ việc vi phạm về buôn lậu, sản xuất, kinh doanh hàng giả,
gian lận thương mại, gồm xây dựng kế hoạch kiểm tra, cung cấp thông tin về đối

cán bộ thực thi; tổ chức giao lưu, tuyên truyền về gương người tốt, việc tốt, tuyên
truyền, phổ biến pháp luật.
8. Phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng:
a) Tuyên truyền, phát động quần chúng nhân dân tham gia phòng, chống các hành vi
tiêu cực, vi phạm pháp luật trong công tác phòng, chống buôn lậu, hàng giả, gian lận
thương mại.
b) Tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho người kinh doanh chấp hành các quy định của
pháp luật liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh, phòng, chống buôn lậu, hàng
giả và gian lận thương mại.
9. Phối hợp với các doanh nghiệp, các Hiệp hội ngành hàng, Hiệp hội Chống hàng giả
và Bảo vệ thương hiệu Việt Nam, Hội Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam trong việc
tuyên truyền, phổ biến pháp luật liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và bảo
vệ quyền lợi hợp pháp của doanh nghiệp, của người tiêu dùng.
Chương2. THỰC TRẠNG QLNN VỀ CHỐNG HÀNG GIẢ, HÀNG NHÁI VÀ
GIAN LẬN THƯƠNG MẠI TRONG KINH DOANH MẶT HÀNG MỸ PHẨM
TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến QLNN về chống hàng giả, hàng nhái và gian lận
thương mại trong kinh doanh mặt hàng mỹ phẩm trên địa bàn Hà Nội.
Nền kinh tế Việt Nam sau một năm gia nhập WTO đã có những bước phát triển
lớn và đạt được nhiều thành tựu nhất định. Riêng đối với hoạt động thương mại, nước
ta được hưởng quy chế thành viên của WTO, điều này tạo cơ hội cho việc mở rộng thị
trường ,nâng cao kim ngạch xuất nhập khẩu, tăng tổng mức lưu chuyển bán lẻ hàng
hóa và doanh thu dịch vụ. Thị trường trong nước phát triển sôi động với nhiều chủng
loại hàng hóa đa dạng, phong phú. Trong sự phát triển chung đó sẽ là thiếu sót nếu
không nhắc đến thị trường mỹ phẩm Việt Nam với tốc độ tăng trưởng bình quân là
20%/năm.
Kinh tế phát triển, thu nhập của người dân ngày càng được cải thiện, nhu cầu
chăm sóc bản thân cũng được nâng cao. Mối quan tâm của cả hai giới tới ngoại hình
ngày càng lớn do đó mỹ phẩm dần dần trở thành sản phẩm tiêu dùng quen thuộc.
Không những thế, ngày nay nó đã trở thành một loại hình sản phẩm không thể thiếu

là thu nhập của người tiêu dùng còn thấp, chênh lệch giữa giá hàng hiệu và hàng giả
quá lớn. Người bán vì hám lợi mà sẵn sàng trộn hàng giả vào để bán như hàng thật.
Hàng thật thì tỷ lệ chiết khấu ở mức nhất định nhưng bán hàng giả thì lời hơn gấp đôi.
Còn đối với người tiêu dùng, cũng do giá tiền hàng giả rẻ hơn rất nhiều lần so
với hàng thật nên tặc lưỡi dùng sản phẩm mà không biết đến hậu quả sau này sẽ ra sao.
Xét về mặt giá cả thì hàng giả thường có mức giá khá là thấp. Rõ ràng trong lúc hàng
giả đóng góp phần nào vào chuyện không làm tăng mặt bằng giá cả thì lại càng được
người tiêu dùng chấp nhận.
Một doanh nhân người Việt đang ở Trung Quốc, ông Thắng, giải thích điều mà
ông am hiểu: “Phần lớn hàng giả Trung Quốc bắt nguồn từ vùng giáp Việt Nam mình.
Đầu tiên khu vực làm hàng giả chỉ tập trung ở những vùng nông thôn, nơi người ta có
thu nhập kém. Sang Việt Nam thì các doanh nghiệp trung bình cũng gọi là kém, do đó
người ta thường lấy những hàng mà giá cả nó vừa phải”.
2.1.2. Nhân tố về dân cư và địa lý
Yếu tố nhân khẩu và địa lý cũng ảnh hưởng rất lớn đến quản lý nhà nước đối
với việc kinh doanh hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng. Đặc biệt là đối với
những người định cư hay tạm trú trên địa bàn Hà Nội. Nơi mà được tiếp xúc nhiều với
công nghệ thông tin. Theo thống kê thì tỷ lệ hàng giả, hàng nhái trên địa bàn Hà Nội
chiếm tỷ lệ cao, điều này cũng đồng nghĩa với việc người dân nơi đây cũng được tiếp
xúc nhiều với những mặt hàng này. Hà Nội có thể nói là nơi phát triển nhất của cả
nước, trung tâm của mọi sự phát triển. Vì vậy, nhu cầu làm đẹp của người dân cũng
ngày càng cao. Việc quản lý của Nhà nước về vấn đề này ngày càng trở nên khó khăn.
2.1.3. Nhân tố thị hiếu và văn hóa.
Khi đời sống vật chất, tinh thần của người dân đang ngày càng cao hơn, thị hiếu
“hàng hiệu” khi mua các sản phẩm cũng được thể hiện rõ rệt. Cùng với đó, hiện trạng
hàng nhái, hàng giả mang “thương hiệu thật” nhưng kém chất lượng, làm giảm uy tín
của các hãng sản xuất hàng hoá có uy tín là điều không tránh khỏi.
Thực tế, hàng giả, hàng nhái làm mất thị phần của nhà sản xuất do quá trình
tiêu thụ với mức giá thấp hơn nhiều so với giá của hàng hiệu, hàng thật nên đáp ứng
được thị hiếu của người tiêu dùng (đặc biệt là người tiêu dùng có thu nhập thấp).

2.2. Thực trạng hoạt động kinh doanh mặt hàng mỹ phẩm trên địa bàn Hà Nội.
Hiện cả nước có hơn 15.000 loại mỹ phẩm đã đăng ký lưu hành. Số lượng mỹ
phẩm có nguồn gốc xuất xứ cụ thể vẫn còn khá khiêm tốn so với mỹ phẩm trôi nổi
kém chất lượng và hàng “xách tay” bạt ngàn trên thị trường. Ngành y tế và lực lượng
quản lý thị trường cũng chỉ kiểm tra được các cơ sở sản xuất lớn còn những điểm bán
lẻ ở chợ, các lề đường thì vẫn bỏ ngỏ. Hiện Cục Quản lý dược (Bộ Y tế) chưa có một
khảo sát cụ thể về tình hình mỹ phẩm thật - giả trên thị trường. Việc quản lý mỹ phẩm
gặp rất nhiều khó khăn do lực lượng thanh tra còn mỏng, hàng giả lại tinh vi, thậm chí
nhiều cửa hàng mỹ phẩm giả thường mua một số mỹ phẩm thật trà trộn vào hàng giả
để lấy hóa đơn mua hàng thật nhằm qua mặt cơ quan chức năng khi kiểm tra.
Khoảng 70% mỹ phẩm bày bán trên thị trường Hà Nội hiện nay là mỹ phẩm
không rõ nguồn gốc xuất xứ, không được cơ quan chức năng kiểm định chất lượng sản
phẩm, tiềm ẩn nguy cơ chứa hóa chất độc hại, ảnh hưởng đến sức khỏe người sử dụng.
Mỹ phẩm không rõ nguồn gốc bày bán tràn lan ở khu vực các phố trung tâm do thiếu
kiểm tra, xử lý như: Hàng Chiếu, phố Huế, Lê Duẩn Các cửa hàng đa phần bán mỹ
phẩm nhập lậu kém chất lượng. Vì đa số mỹ phẩm giả đều có bao bì in ấn đẹp, sắc
nét, nếu chỉ nhìn bằng mắt thường khó phân biệt được đâu là hàng giả - hàng thật. Để
qua mắt người tiêu dùng, nhiều sản phẩm còn được dán tem chống hàng giả của Viện
Khoa học hình sự (Bộ Công an), nhưng tất cả đều là tem giả. Mỹ phẩm giả, không
nguồn gốc chủ yếu là sản phẩm kem dưỡng da, kem thoa mặt, trắng da, kem tắm trắng,
son môi và phấn lót có xuất xứ khác nhau, như sản xuất lậu trong nước, hay nhập lậu
từ Trung Quốc, Thái Lan.
Bên cạnh đó hành vi gian lận thương mại trong kinh doanh mặt hàng mỹ phẩm
cũng hết sức phức tạp. Một nghiên cứu gần đây đã cho thấy chất lượng một số quảng
cáo mỹ phẩm như: : không gây dị ứng, không gây mụn, không gây độc, đã kiểm
nghiệm không hoàn toàn đúng như chất lượng thực sự của sản phẩm. Việc hỗn độn
và khó phân biệt được mỹ phẩm chính hãng và hàng giả trên thị trường cũng là một
yếu tố thuận lợi để những kẻ kinh doanh gian lận lợi dụng trà trộn hàng thật, hàng giả
để kiếm lời mà người tiêu dùng khó có thể phát hiện ra được.
2.3. QLNN về chống hàng giả, hàng nhái, và gian lận thương mại trong kinh

dạng: “ luồng xanh”, “ luồng vàng”. “luồng đỏ” để sàng lọc, lựa chọn đối tượng kiểm
tra có trọng tâm.
- Thực hiện đúng các quy định về hình thức kiểm tra, tỉ lệ kiểm tra trên cơ sở
nắm bắt các thông tin liên quan đến hoạt động của các doanh nghiệp. Lập danh bạ các
doanh nghiệp thuộc địa bàn quản lý giúp cho việc ra các quyết định kiểm tra được
chính xác vừa nâng cao hiệu quả giám sát quản lý vừa tạo điều kiện thông quan hàng
hoá nhanh chóng, thuận lợi.
- Phối hợp chặt chẽ giữa Đội Kiểm soát với Phòng Trị giá tính thuế , Phòng
Kiểm tra sau thông quan phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý kịp thời những trường hợp
gian lận qua giá, chống thất thu. Đi sâu vào các biện pháp nghiệp vụ kiểm tra sau
thông quan.
- Cải cách thủ tục hành chính, cải tiến các quy trình, thủ tục hải quan tại các
cửa khẩu, đơn giản hoá qui trình thủ tục theo hướng “một cửa” tạo điều kiện thuận lợi
cho hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh nhưng vẫn đảm bảo quản lý chặt chẽ,
thủ tục nhanh chóng, văn minh phù hợp với thông lệ quốc tế.
- Làm rõ trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trước pháp luật trong việc khai
báo, cải tiến chế độ thông tin, phản ánh tình hình nhanh chóng. Rút kinh nghiệm kịp
thời qua mỗi vụ việc giúp cho công tác tham mưu, chỉ đạo kiểm tra sâu sát có hiệu
quả.
- Xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm pháp luật Hải quan đảm bảo đúng
người, đúng tội.
- Xây dựng qui chế trích thưởng kịp thời có tác dụng động viên, khích lệ tốt.
* Một số kết quả cụ thể trong công tác phòng chống buôn lậu và gian lận thương mại
mà thành phố Hà Nội đạt được:
Năm 2003, Toàn chi cục đã thực nhiệm vụ kiểm tra và xử lý các hành vi vi
phạm luật kinh doanh thương mại và dịch vụ, cụ thể kiểm tra 3.537 vụ, tổng số tiền
thu nộp ngân sách gần 13 tỷ đồng, đạt 118%. Cục Hải quan thành phố Hà Nội đã phát
hiện lập biên bản 238 vụ với trị giá tang vật ước tính 50 tỷ đồng, đã xử lý vi phạm 195
vụ, phạt tiền 157 vụ với số tiền 325 triệu đồng, tịch thu tang vật 26 . Năm 2004, Tổng
số các vụ vi phạm toàn Cục phát hiện là 431 vụ (trong năm 2003 là 238 vụ) với mức

từng ngành hàng, mặt hàng cả trong nội địa và ở biên giới, góp phần nâng cao nhận
thức của cộng đồng về công tác chống hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng và
xâm phạm quyền SHTT, làm cho công tác này trở thành việc làm thường xuyên, liên
tục và đạt hiệu quả cao nhất.
7. Tăng cường công tác trao đổi thông tin phối kết hợp giữa Hiệp hội và doanh
nghiệp, đặc biệt là các Hội viên của Hiệp hội có Thương hiệu hàng hoá và dịch vu uy
tín, chất lượng với Ban 127-TW và Ban 127- ĐF các lực lượng thực thi trong công
cuộc đấu tranh này nhằm nâng cao hiệu quả sự hợp tác chống hàng giả, hàng nhái và
vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trong thời gian tới. Hỗ trợ một cách thiết thực cho các lực
lượng thực thi trong quá trình điều tra, xử lý
8. Hàng năm Hiệp hội đánh giá tổng hợp, những doanh nghiệp có nhiệt tình, có
ý thức cao trong việc chống hàng giả, hàng nhái và xây dựng bảo vệ thương hiệu của
mình, đề xuất Ban 127 TW, Bộ Công Thương và các cơ quan có thẩm quyền động
viên khen thưởng các doanh nghiệp có thành tích trong lĩnh vực này vào ngày 29/11
hàng năm nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm của doanh nghiệp đồng thời động viên
các doanh nghiệp tích cực tham gia vào nhiệm vụ chống hàng giả, bảo vệ thương hiệu,
hưởng ứng tích cực Chỉ thị 28/2008/CT-TTg ngày 8/9/2008 của Thủ tướng Chính phủ.
9. Tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho người tiêu dùng nói “không” với hàng
giả, hàng nhái.
Để công cuộc chống hàng gian, hàng giả mang lại hiệu quả thiết thực cần có sự
kết nối ba lực lượng gồm: Nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng. Đặc biệt với
các doanh nghiệp cần phải đầu tư nghiên cứu và đưa ra các giải pháp phòng chống
hàng giả để bảo vệ thương hiệu, đồng thời góp phần ngăn chặn nạn sản xuất và tiêu
thụ hàng giả trên thị trường. Triệt tiêu được hàng lậu, hàng giả, hàng nhái thì mới
mong bảo vệ được quyền lợi cho người tiêu dùng và các doanh nghiệp làm ăn chân
chính, qua đó xây dựng được môi trường kinh doanh trong sạch và góp phần trong
việc ổn định trật tự xã hội.
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả QLNN về sở hữu trí tuệ và thực thi quyền sở
hữu trí tuệ
3.2.1. Phân cấp nhiệm vụ của các cơ quan quyền lực nhà nước ở mỗi cấp về sở hữu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status