BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
TRẦN THỊ QUỲNH NGA
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ CHẾ PHẨM
SINH HỌC ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ ĐỘ AN TOÀN
CỦA SẢN PHẨM ĐẬU CÔ VE
TRỒNG TẠI TỈNH PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: Trồng trọt
Mã số: 60.62.01
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………
ii
LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành với sự giúp đỡ của nhiều cá nhân và các đơn
vị. Trước hết tác giả xin chân thành cảm ơn GS.TS.Trần Khắc Thi, TS.Trần
Thị Minh Hằng, với cương vị người hướng dẫn khoa học, đã tạo mọi điều
kiện giúp đỡ để tác giả hoàn thành luận văn.
Tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn khoa Nông Học, Viện đào tạo sau đại
học, đặc biệt là bộ môn Cây Rau Hoa Quả Trường ĐHNN Hà Nội đã giúp đỡ
và tạo điều kiện cho tác giả hoàn thành luận văn.
Tác giả xin chân thành cảm ơn Chi cục Bảo vệ Thực vật Phú Thọ, Ủy
ban nhân dân Thành phố Việt Trì, bà con nông dân xã Tân Đức - Thành phố
Việt Trì, các bạn bè đồng nghiệp và gia đình đã giúp đỡ và tạo điều kiện
thuận lợi để tác giả hoàn thành luận văn của mình.
Hà Nộ
i, ngày 19 tháng 01 năm 2012
Tác giả
1.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2
2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Giới thiệu chung về cây đậu côve 4
2.2 Tình hình sản xuất, nghiên cứu rau an toàn trên thế giới và trong
nước 12
2.3 Tình hình sản xuất, nghiên cứu đậu côve trên thế giới và trong
nước 23
2.4 Kết quả nghiên cứu, ứng dụng phân bón sinh học và thuốc trừ
sâu sinh học trên rau 26
2.5 Sử dụng thuốc trừ sâu sinh học trên rau. 27
3 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 31
3.2 Vật liệu nghiên cứu 31
3.3 Nội dung nghiên cứu 32
3.4 Phương pháp nghiên cứu 32
3.5 Các chỉ tiêu theo dõi 34
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………
trên cây đậu côve trồng ở vụ Đông xuân, Xuân hè 2010 - 2011 55
4.1.7 Kết quả phân tích dư lượng NO
-3
, kim loại nặng trên cây đậu
côve trồng ở vụ Đông xuân, Xuân hè 2010 - 2011 57
4.2 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc trừ sâu sinh học đến
năng suất, chất lượng của đậu côve vụ Đông xuân 2010 - 2011 và
Xuân hè 2011 tại Tân Đức - Việt Trì - Phú Thọ 60
4.2.1 Ảnh hưởng của thuốc trừ sâu sinh học đến một số chỉ tiêu sinh
trưởng chủ yếu của cây đậu côve 60
4.2.2 Ảnh hưởng của thuốc trừ sâu sinh học qua các giai đoạn sinh
trưởng, phát triển chủ yếu của cây đậu côve
61
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………
v
4.2.3 Ảnh hưởng của thuốc trừ sâu sinh học đến khả năng ra hoa - đậu
quả của cây đậu côve ở vụ Đông xuân, Xuân hè 2010 - 2011 63
4.2.4 Ảnh hưởng của thuốc trừ sâu sinh học đến năng suất và các yếu
tố cấu thành năng suất của cây đậu côve 67
4.2.5 Tình hình sâu bệnh hại chủ yếu trên các công thức thí nghiệm ở
vụ Đông xuân, Xuân hè 2010 - 2011 69
CT Công thức
ĐC Đối chứng
ĐVT Đơn vị tính
EM EMINA
FAO Food and Agricultere Organization of the United Nation:
Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên hợp quốc
KLN Kim loại nặng
KLTB Khối lượng trung bình
NSTT Năng suất thực thu
NN & PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
NO
-3
Nitrate
NSF Ngày sau khi phun
TF Trước khi phun
RAT Rau an toàn
VSATTP Vệ sinh an toàn thực phẩm
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………
vii
DANH MỤC BẢNG
STT Tên bảng Trang
2.1 Tình hình sản xuất rau của 10 nước trên thế giới năm 2001 13
4.8 Kết quả phân tích dư lượng NO
-3
, kim loại nặng trên đậu côve ở
vụ Đông xuân 58
4.9 Kết quả phân tích dư lượng NO
-3
, kim loại nặng trên đậu côve ở
vụ Xuân hè 59
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………
viii
4.10 Ảnh hưởng của thuốc trừ sâu sinh học đến một số chỉ tiêu sinh
trưởng chủ yếu của cây đậu côve trồng ở vụ Đông xuân, Xuân
hè 2010 - 2011 60
4.11 Ảnh hưởng của thuốc trừ sâu sinh học qua các giai đoạn sinh
trưởng, phát triển chủ yếu của cây đậu côve trồng ở vụ Đông
xuân, Xuân hè 2010 - 2011 62
4.12 Ảnh hưởng của thuốc trừ sâu sinh học đến khả năng ra hoa - đậu quả
của cây đậu côve trồng ở vụ Đông xuân, Xuân hè 2010 - 2011 65
4.13 Ảnh hưởng của thuốc trừ sâu sinh học đến năng suất và các yếu
tố cấu thành năng suất của cây đậu côve trồng ở vụ Đông xuân,
Xuân hè 2010 - 2011 67
4.14 Tình hình sâu bệnh hại chủ yếu trên các công thức thí nghiệm ở
1.1. Đặt vấn đề
Rau xanh là thực phẩm không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày của
mỗi gia đình. Hiện nay, nhu cầu về rau xanh đảm bảo chất lượng vệ sinh an
toàn thực phẩm ( VSATTP ) đã trở nên cần thiết và bức xúc với người tiêu
dùng. Nhu cầu về rau xanh đạt tiêu chuẩn an toàn ngày càng tăng. Tuy
nhiên, thực tế cho thấy, một số nông dân vẫn chưa thực hiện đúng quy trình
sản xuất rau an toàn ( RAT ). Việc kiểm tra, giám sát của các cơ quan chức
năng còn lỏng lẻo nên chất lượng rau chưa đảm bảo, đặc biệt về dư lượng
thuốc BVTV, hàm lượng nitrat, kim loại nặng còn cao gây ảnh hưởng xấu
đến sức khỏe của người tiêu dùng. Mặt khác, mạng lưới kinh doanh, tiêu
thụ RAT hiện tại chưa được quản lý tốt, nên chưa đáp ứng được nhu cầu
của người tiêu dùng.
Theo thống kê của tổ chức lao động Quốc tế ( ILO ), hàng năm trên thế
giới có khoảng 40.000 người chết trong tổng số 2 triệu người ngộ độc [40].
Tại Việt Nam số người bị ngộ độc thực phẩm, trong đó có rau cũng khá cao.
Theo Cục Vệ sinh an toàn thực phẩm- Bộ Y tế, năm 2010 cả nước có 1041 vụ
ngộ độc với số người mắc 36163, trong đó có 300 người tử vong. Vì vậy, việc
sản xuất và tiêu thụ rau an toàn đang là vấn đề được xã hội quan tâm đặc biệt.
Nhận thức sâu sắc về vấn đề này. Năm 2010 Quốc hội đã ban hành Luật An
toàn thực phẩm và Chính phủ đang có có Nghị định hướng dẫn thực hiện Bộ
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đang đẩy mạnh chương trình phát triển
sản xuất rau an toàn tại các tỉnh đồng bằng sông Hồng trong đó có các tỉnh là
Hà Nội, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Phòng, phần nào đã đáp ứng
được nhu cầu rau của thị trường.
Đối với Tỉnh Phú Thọ, trong những năm qua, sản xuất và tiêu thụ rau an
toàn đã từng bước được quan tâm phát triển thông qua các đề tài, mô hình, dự
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………
2
trường, canh tác đậu côve làm cơ sở để xây dựng quy trình sản xuất đậu côve
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………
3
an toàn theo hướng VietGAP.
1.3.2.Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần giúp nông dân tiếp cận, nắm
vững kỹ thuật sản xuất, nâng cao kiến thức, nhận thức về các chế phẩm sinh
học trong sản suất rau nói chung và sản xuất đậu côve nói riêng, nhằm phục
vụ tốt cho công tác sản xuất RAT hiện nay. Đề tài cũng đóng góp cho việc
triển khai và hoàn thành mục tiêu của “Chương trình p
hát triển rau an
toàn Tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2011 - 2015
”.
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………
4
2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Giới thiệu chung về cây đậu côve
2.1.1. Nguồn gốc, phân loại cây đậu côve
Đậu côve (có tên khoa học là Phaseolus vulgaris thuộc
họ Đậu
Leguminosae, Fabaceae ) Theo tác giả Trần Khắc Thi và cs (2005), cây đậu
côve xuất hiện đầu tiên ở nam Mêhicô - Trung Mỹ, được trồng cách đây hơn
600 năm và được trồng phổ biến ở khắp các vùng trên trái đất.
Theo tác giả Trần Khắc Thi và cs, 2005, đậu côve phân biệt theo hình
* Giá trị dinh dưỡng
Cây đậu côve là loại đậu rau ăn quả quan trọng vào bậc nhất, nó có giá
trị dinh dưỡng cao, được nhiều người ưa thích (theo Ths. Trần Thị Ba)[4].
Quả đậu côve là loại đậu rau dễ ăn, dễ chế biến, có thể ăn tươi, xào, luộc, nấu,
đóng hộp, đông lạnh, hạt đậu côve khô được sử dụng trong các bữa ăn kiêng
rất có giá trị.
Quả non chứa khoảng 2,5% đạm, 0,2% chất béo, 7% chất đường bột và
đặc biệt nhiều vitamin A và C, chất khoáng cho cơ thể con người.
* Giá trị kinh tế
Đậu côve là loại đậu rau có tầm kinh tế lớn vì chúng phân bố rộng
khắp, sản lượng tương đối cao từ 30 - 36 tấn/ha (Ths. Trần Thị Ba, 2006)[4],
là nguồn thu nhập khá cao cho các nông hộ trồng loại đậu rau này.
Cũng theo Ths Trần Thị Ba[4], đậu rau có thời gian sinh trưởng ngắn
sau trồng khoảng 35 - 40 ngày đã có hoa nở, nếu quả đậu ăn tươi thì chỉ
cần 10- 13 ngày sau khi hoa nở là thu hoạch được, hơn thế đậu côve cho
thu hoạch nhiều lần, cứ 3 - 4 ngày thu hoạch một lần do đó mang lại năng
suất rất cao.
Đặc biệt đậu côve thuộc loại họ đậu nên nó có giá trị to lớn trong vai
trò cải tạo đất nông nghiệp thích hợp cho việc luân canh tăng vụ với cây lúa
nước, ngô và một số cây công nghiệp khác (Giáo trình sinh lí thực vật)[17], rễ
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………
6
đậu côve chứa nhiều nốt sần có khả năng cố định đạm, có tác dụng to lớn
trong việc cung cấp nguồn đạm cho những loại cây trồng khi trồng xen với
nó. Đậu côve còn là cây rau màu giúp cho việc tăng sản lượng cây trồng trên
cùng một đơn vị diện tích.
Mặt khác chi phí đầu tư cho trồng cây đậu côve leo là không cao, giá
bán hợp lí, thời gian sinh trưởng ngắn nên được nhiều người tiêu dùng ưa
Đậu côve yêu cầu khí hậu ôn hoà, nhiệt độ thích hợp cho cây sinh
trưởng và phát triển tốt nhất là từ 18 - 25
0
C, nhiệt độ thấp hơn 13
0
C hoặc cao
hơn 25
0
C cây sinh trưởng kém, nếu kéo dài cây sẽ chết.
*Về đất:
Theo Mai Thị Phương Anh, đất trồng đậu côve leo cần có độ pH
khoảng 5,5 - 6,5, đất thích hợp nhất cho đậu côve là đất phù sa hoặc đất thịt,
đất kém quá hoặc quá nhiều chua đều không thích hợp cho đậu côve phát
triển.[1]
*Về ánh sáng:
Đậu côve là cây ưa sáng (Giáo trình sinh lí thực vật)[17] vì vậy việc
làm giàn leo là rất quan trọng. Quả đậu ăn tươi thu hoạch từ 10 - 13 ngày sau
khi nở hoa, hạt đậu to trọng lượng 250 - 450 g.
Đậu côve là loại cây trồng canh tác được trong điều kiện ấm áp của
vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, đậu không chịu được thời tiết rét (Ths Trần Thị
Ba, 2006)[4]
*Về dinh dưỡng:
Đậu côve phản ứng tốt trên đất bón phân hữu cơ và phân khoáng
N,P,K. Đạm là thành phần quan trọng của diệp lục, có tác dụng làm tăng số lá
và diện tích lá. Lân cần thiết cho giai đoạn cây con, thúc đẩy quá trình sinh
trưởng của cây, giúp cây sớm ra hoa, rút ngắn thời gian sinh trưởng. Kali làm
tăng khả năng quang hợp của cây, rất cần cho thời kì tạo quả, tăng sinh khối
quả, cho chất lượng ngọt hơn. (Trần Văn Lài, Lê Thị Hà, 2002)[16]
Đậu côve có hệ rễ chùm chứa nhiều vi khuẩn nốt sần cố định đạm cho
cây chủ yếu tập trung ở quanh rễ gần mặt đất khoảng 10 - 20 cm.
* Các nghiên cứu về bệnh hại chủ yếu trên cây đậu côve.
Trên đậu rau có 80 loại bệnh chủ yếu trong đó đậu Hà Lan có 37 loại
bệnh, đậu côve có 30 loại bệnh, Lima có 13 loại bệnh.
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………
9
Các loại bệnh hại chủ yếu là:
1.Bệnh thán thư đậu: tác nhân gây hại Collectotrichum lindemuthianum.
Đậu côve ở nước ta bệnh thán thư gây hại hầu hết trên tất cả các giống đậu như
đậu vàng, đậu trạch, đậu đũa, đậu bở.
Bệnh thán thư đậu có thể phá hoại từ giai đoạn cây mọc mầm đến khi
có quả. Trên lá tử diệp cây non vết bệnh hình tròn, màu nâu đen, hơi lõm.
Trên cây con vết bệnh kéo dài, màu nâu vàng, hơi lõm xuống và nứt nẻ. Bệnh
nặng nhiều vết hợp lại thành vệt dài làm cây con khô chết, đổ rạp xuống.
Trên cây đã lớn, vết bệnh thường nằm dọc theo gân lá, hình tròn, hình
đa giác hoặc hình bất định, kích thước từ 3 - 10 mm, vết bệnh lúc đầu màu
vàng nâu, sau đó chuyển sang màu nâu sẫm, góc viền màu đỏ. Trên vết bệnh
có nhiều chấm nổi màu nâu đen, đó là đĩa cành của nấm gây bệnh. Cuối cùng
vết bệnh khô rách nát.
Trên cuống lá và thân, cành, vết bệnh kéo dài màu nâu sẫm, hơi lõm,
cây còi cọc, lá vàng dễ rụng. Bệnh còn phá hoại cả cánh hoa, đài hoa làm hoa
rụng không đậu quả. Trên vỏ quả vết bệnh hình tròn (3 - 10 mm), màu nâu
vàng hoặc xám, lõm sâu, xung quanh nổi gờ màu nâu đỏ. Trên vết bệnh cũng
hình thành nhiều đĩa cành màu đỏ nhạt xếp lộn xộn hoặc theo vòng đồng tâm.
Trên hạt vết bệnh nhỏ màu nâu hoặc màu đen. Bình thường vết bệnh chỉ ở bề
mặt hạt, đôi khi vào tận phôi hạt.
Bệnh phát sinh hại mạnh trong điều kiện ẩm độ không khí cao và nhiệt
độ tương đối thấp. Khi độ ẩm không khí dưới 80% bệnh có thể ngừng phát
triển. Nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển của bệnh là 16 - 20
khô cháy, rụng sớm, quả nhỏ, khô và nép.
3. Bệnh thối gốc, lở cổ rễ: nguyên nhân gây bệnh là do nấm Fusarium
solani f.s. phaseoli Rhizoctonia solani Kuhn. Bệnh hại phổ biến ở nhiều nước
trên thế giới và ở nước ta. Bệnh xuất hiện ở hầu khắp các vùng đồng bằng,
trung du và miền núi trên các loại đậu đỗ làm thực phẩm vụ Đông và Xuân
hè. Bệnh có thể phá hoại trong suốt quá trình phát triển của cây nhưng chủ
yếu là ở thời kì cây con. Bệnh thối gốc, lở cổ rễ phát triển mạnh trong điều
kiện ẩm độ cao, mưa nhiều, đất ẩm, nhiệt độ thấp 18 - 25
0
C hoặc thời tiết
nóng lạnh bất thường. Bệnh cũng phát triển mạnh trên các ruộng ứ đọng
nước, đất thịt nặng chặt bí, dễ đóng váng sau khi mưa. Để phòng trừ thối gốc
và lở cổ rễ cần thực hiện các biện pháp canh tác từ khi gieo trồng đến khi thu
hoạch. Nên xử lí hạt trước khi gieo trồng và phun thuốc phòng trừ xuất hiện
bệnh. Có thể dùng một số thuốc như: Ridomil MZ72 WP với lượng dùng 2.5 -
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………
11
3.5 kg/ha, Topsin M (50 và 70 WP), 50 - 100 g thuốc bột/100 lít nước hoặc
Rovral 50% dạng bột thấm nước với nồng độ 0,1 - 0,2 % hoặc chế phẩm sinh
học ( Trichoderma).
Theo Vũ Triệu Mân, (2007)[15] thì trên cây đậu côve được trồng tại
Việt Nam ngoài các bệnh do nấm gây ra còn có các bệnh do virut gây lên
như: Bệnh khảm lá, bệnh khảm vàng.
- Bệnh khảm lá thường gây ra hiện tượng khảm tạo thành sọc xanh nhạt
hay bạc xen kẽ sọc xanh thẫm trên lá non ở cây đậu. Khi bệnh nặng, các lá
đều co hẹp và biến dạng một số lá cuốn lại, cây ít quả và năng suất thấp. Cây
có thể bị chết sau một thời gian bị bệnh hại nặng. Virut gây bệnh có hình sợi,
kích thước 750 x 15 nm, thuộc nhóm Poty virut. Virut truyền bệnh bằng rệp
thường xuất hiện vào cuối thu hoạch. Phun ngừa bằng Cuzate - M8,
Mancolaxyl, Zicozep, Vimonyl, Score, Metaxyl
2.2. Tình hình sản xuất, nghiên cứu rau an toàn trên thế giới và trong
nước
2.2.1. Trên thế giới
Theo số liệu thống kê của FAO (2001)[31] cho biết: năm 1980 trên
toàn thế giới sản xuất được 375 triệu tấn rau trong đó có 20,3 triêụ tấn là đậu
rau, năm 1990 có 441 triệu tấn trong đó đậu rau là 25,2 triệu tấn, năm 2001 đã
lên tới 768 triệu tấn trong đó đậu rau 50,3 triệu tấn. Lượng rau tiêu thụ bình
quân theo đầu người là 78kg/người/năm. Tuy nhiên trình độ phát triển nghề
trồng rau ở mỗi nước là khác nhau, ở các nước phát triển cây rau được chú
trọng hơn các nước đang phát triển về chất lượng cũng như về vệ sinh an toàn
thực phẩm. Theo K.U Ahmed và M.shajahan (1991) cho biết nếu tính sản
lượng bình quân theo đầu người thì ở các nước phát triển cao hơn hẳn so với
các nước đang phát triển, ở các nước phát triển tỷ lệ cây rau so với cây lương
thực là 2/1, trong khi đó ở các nước đang phát triển thì tỷ lệ này là 1/2. Riêng
Châu á sản lượng rau hàng năm và đậu rau nói riêng là khoảng 400 triệu tấn
so với mức tăng trưởng 3% (khoảng 5 triệu tấn/năm), mức tiêu dùng rau của
các nước Châu á là 84 kg/người/năm. Trong các nước đang phát triển thì
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………
13
Trung Quốc có sản lượng rau cao nhất là 70 triệu tấn/năm. ấn Độ đứng thứ
hai thế giới với sản lượng rau hàng năm đạt 65 triệu tấn (FAO, 2001).[31]
Ngoài việc tăng về mức sản lượng rau nói chung và đậu rau nói riêng thì
chất lượng ngày càng được quan tâm, nhiều tiến bộ của khoa học được áp dụng để
tăng sản lượng và chất lượng cho rau như kĩ thuật canh tác công nghệ cao. Tại
Canada và Hoa Kỳ trong sản xuất nông nghiệp việc đầu tiên và trọng tâm chính là
phẩm chất của cây rau sau mới là sản lượng. Nhiều mô hình trồng rau trên đồng
nghiên cứu xác định tiêu chuẩn rau an toàn, quy trình công nghệ và các giải
pháp kỹ thuật về quản lý, giám định chất lượng, tổ chức sản xuất và thiết
lập thị trường tiêu thụ rau an toàn đã được tiến hành tương đối đồng bộ,
thường tập trung theo những hướng sau :
- Chọn tạo giống chống chịu đồng thời với nhiều loại sâu bệnh.
- Nghiên cứu phát triển các loại thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc
sinh học, các biện pháp đấu tranh sinh học ở mức độ phân tử.
- Nghiên cứu các loại phân bón hữu cơ, phân sinh học cùng các biện
pháp canh tác hữu cơ.
Tại Đài Loan, đã có khoảng 8 trạm xét nghiệm nhanh dư lượng thuốc
bảo vệ thực vật trong rau quả bằng phương pháp sinh học đặt ở hầu hết các
vùng sản xuất, kinh doanh rau, quả của nước này. Tại mỗi chợ đầu mối rau,
quả ở các thành phố lớn như Đài Bắc, Đài Trung hay Kaohsiung đều có một
trạm xét nghiệm sinh học nhanh. Do giá thành xét nghiệm thấp, thời gian xét
nghiệm ngắn nên có đến 1% số sản phẩm lưu thông trong ngày ở các chợ đầu
mối này được xét nghiệm để xác định dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, sản
phẩm của những người cung cấp lớn cũng được xét nghiệm ít nhất là ba tháng
một lần. (Trần Việt Đức,2009)[11]
Tại Hàn Quốc, mặc dù mới phổ biến biện pháp xét nghiệm sinh học để
xác định dư lượng thuốc BVTV trong rau, quả nhưng đến nay liên đoàn các
hợp tác xã nông nghiệp toàn quốc đã thành lập được khoảng 100 trạm xét
nghiệm phân bố trên khắp các vùng trong nước. Nhìn chung, ban đầu nông
dân tỏ ra nghi ngờ kết quả xét nghiệm của phương pháp xét nghiệm sinh học
nhanh và không cho lấy mẫu từ các sản phẩm của mình. Nhưng đến khi các
cơ quan quản lý nhà nước tiến hành rộng rãi các xét nghiệm này thì nông dân
lại hiểu rõ sự cần thiết của nó. Họ bắt đầu mang mẫu đến các trạm xét nghiệm
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………
15