Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÊ SỸ DƢƠNG
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP BẢO VỆ
KHU HỆ CHIM TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN ĐẤT NGẬP
NƢỚC VÂN LONG, TỈNH NINH BÌNH LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP BẢO VỆ
KHU HỆ CHIM TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN ĐẤT NGẬP
NƢỚC VÂN LONG, TỈNH NINH BÌNH
Chuyên ngành: Lâm Học
Mã số: 60.62.02.01
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
PGS.TS. Lê Sỹ Trung
THÁI NGUYÊN - 2013
rừng núi đá vôi tự nhiên với nhiều loài cây quý hiếm đƣợc xếp trong Sách Đỏ
Việt Nam[19] .
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 4
Với kiểu hình ô trũng giữa các dòng sông, là một trong những ô trũng
lớn nhất của tỉnh Ninh Bình, nằm về phía Đông Nam của châu thổ đồng bằng
Bắc Bộ. Các dãy núi đá vôi chiếm gần hết diện tích khu bảo tồn, chạy theo
hƣớng Tây Bắc-Đông Nam, kéo dài từ Hòa Bình qua Lạc Thủy về Gia Viễn.
Khối núi đá vôi có độ cao trung bình khoảng 200 mét, đỉnh cao nhất xấp xỉ
500m so với mực nƣớc biển và đƣợc bao bọc xung quanh bởi vùng đất ngập
nƣớc và vùng hồ nông có thảm thực vật ngập nƣớc. Tính đa dạng sinh học của
khu bảo tồn là sự phong phú về sinh cảnh và hệ động, thực vật. Đây là nơi
sinh sống của cộng đồng ngƣời kinh địa phƣơng và dân di cƣ từ Hòa Bình
xuống, trình độ dân trí chƣa cao, thu nhập chủ yếu bằng trồng trọt, chăn nuôi,
thu hái lâm sản ngoài gỗ… Nguồn sống của các hộ gia đình ít nhiều còn dựa
vào rừng.
Những đặc điểm trên đã chứa ẩn rất nhiều nguy cơ, thách thức công tác
quản lý KBT Vân Long nói riêng và các khu rừng đặc dụng trên phạm vi toàn
tỉnh Ninh Bình nói chung, lực lƣợng cán bộ quản lý lâm nghiệp mỏng, trình
độ hiểu biết về đa dạng sinh học cũng nhƣ tổ chức quản lý còn nhiều hạn chế,
kinh phí đầu tƣ cho công tác bảo tồn thiên nhiên, điều tra đa dạng sinh học
chƣa đƣợc thỏa đáng điều này dẫn đến tình trạng thiếu cơ sở dữ liệu khoa học
về đa dạng sinh học loài cũng nhƣ đa dạng hệ sinh thái tại khu bảo tồn gây
khó khăn, cản trở cho công tác quy hoạch, quản lý, bảo vệ bền vững. Xuất
phát từ những lý do trên đề tài “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất các giải pháp
bảo vệ khu hệ chim tại Khu Bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long, tỉnh
Ninh Bình” đƣợc tiến hành.
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 6
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1. Nghiên cứu chim trên thế giới
Hiện nay trên thế giới ngƣời ta đã thống kê đƣợc khoảng hơn 9700 loài
chim khác nhau, trong đó bộ sẻ đƣợc coi là bộ giàu họ nhất với gần 30 họ.
Một số loài ít họ là Bộ Ngỗng, Bộ Bồ câu, Bộ Nuốc, Bộ Vẹt, Bộ Cúc cu có từ
1-2 họ. Tuy nhiên con số đó vẫn thay đổi theo thời gian bởi có nhiều loài mới
đƣợc phát hiện thêm bên cạnh đó nhiều loài bị tuyệt chủng. Đáng chú ý là có
nhiều loài đƣợc coi là đã tuyệt chủng thì mấy chục năm hoặc thế kỷ sau ngƣời
ta lại phát hiện ra chúng và sự kiện đó ngƣời ta gọi là “sự hồi sinh” hay “phát
hiện lại” [46].
Tại cuộc họp thƣờng niên về hệ động vật có lông vũ của đời sống chim
quốc tế ngƣời ta cho rằng gần đây mặc dù có sự xuất hiện trở lại của một số
loài chim nhƣng nhìn chung tình hình vẫn rất bi đát. Hiện nay trong tổng số
9775 loài chim thì có đến 1212 loài đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng
trong khi khoảng 2000 loài khác đang trong tình trạng nguy cấp. Đặc biệt
trong đó có 179 loài gần nhƣ bị tuyệt chủng, chim Sẻ ức đỏ Châu Âu (chỉ còn
Ban Nha, Nam Phi và một nhóm bay về phƣơng Bắc tới Anh và Ailen. Cũng
tại Châu Âu ngƣời ta thấy loài Sẻ đồng (Azores Bullfinch pyrrhula murina) là
loài chim hót hay và hiếm nhất ở đây đang bị suy giảm về số lƣợng và chỉ còn
300 con. Rất nhiều loài chim Châu Âu xuất hiện trong sách đỏ thế giới lần
đầu tiên cũng đang suy giảm, điển hình là loài Sả Châu Âu (European Roller
coracias garrulus ) có quần thể chủ yếu ở Thổ Nhĩ Kỳ và Nga [46].
1.2. Lịch sử nghiên cứu chim Việt Nam
Việt Nam là một trong những khu vực có khu hệ chim phong phú và đa
dạng bậc nhất Đông Nam Á. Tổng số loài chim đƣợc ghi nhận trong phạm vi
toàn quốc từ 828 đến 888 loài [43]. Tuy nhiên đây là những con số đã đƣợc
thống kê. Không thể đƣa ra con số chính xác bởi có thể những loài đã đƣợc
thống kê có thể đã bị tuyệt chủng, hoặc có những loài mới chƣa đƣợc khám
phá ghi nhận. Sự phong phú về chủng loại các loài chim việt nam là do kết
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 8
quả của sự phân hóa địa hình, khí hậu, môi trƣờng sống…. trải dài từ Bắc tới
Nam.
1.2.1. Nghiên cứu về chim rừng Việt Nam giai đoạn trƣớc năm 1975
Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn này là công trình nghiên cứu về chim
đều do các nhà khoa học nƣớc ngoài thực hiện. Loài Gà rừng(Gallus gallus)
là loài chim đầu tiên đƣợc nghiên cứu ở Việt Nam, tiêu bản mẫu thu đƣợc ở
Côn Đảo và đƣợc nhà sinh vật học Line mô tả giữa thế kỷ XVIII [14].
Cuối thế kỷ XIX, các nhà khoa học nƣớc ngoài có mặt ở Việt Nam đã
bắt đầu các cuộc nghiên cứu chim trên phạm vi rộng với quy mô lớn. Năm
1872, danh sách chim Việt Nam gồm 192 loài đƣợc xuất bản lần đầu tiên với
các lô mẫu vật do Pierier, giám đốc sở thú Sài Gòn thời bấy giờ sƣu tầm và
công bố(H.jouan, 1972) [14].
Sau chiến tranh giải phóng thống nhất đất nƣớc, công trình “ Chim Việt
Nam hình thái và phân loại (tập 1, 2)” của Võ Quỹ(1975, 1981) là công trình
đầu tiên nghiên cứu về chim trên lãnh thổ Việt Nam về mặt sinh thái, phân
loại và phân bố tự nhiên của các loài chim.
Cũng trong giai đoạn này cuốn sách “Danh mục chim Việt Nam” của Võ
Quý, Nguyễn Cử năm 1995 ra đời, bản danh mục gồm 19 bộ, 81 họ và 828
loài chim đã tìm thấy ở Việt Nam tính đến năm 1995, với mỗi loài tác giả đã
dẫn ra các đặc điểm về hiện trạng và vùng phân bố [14].
Sau nhiều năm nghiên cứu , năm 2007, Viện sinh thái và Tài nguyên sinh
vật đã xuất bản ấn phẩm “Động vật chí” trong tập 18 đã thống kê cả nƣớc có
khoảng 164 loài chim nƣớc và di cƣ thuộc 68 họ, 5 bộ. Trong đó tác giả đã
mô tả đặc điểm nhận biết, đặc điểm sinh học, sinh thái học, vùng phân bố của
các loài. Ngoài ra trong sách còn có các hình vẽ mầu các loài chim nƣớc giúp
độc giả dễ dàng nhận biết [14].
Cho đến những năm gần đây nhiều dự án bảo tồn đa dạng sinh học của
các nƣớc nhƣ: Hà Lan, Đức, Anh, Úc, Mỹ đã tài trợ vào việt Nam. Các tổ
chức phi chính phủ nhƣ: Tổ chức bảo tồn động thực vật quốc tế(FFI), Hiệp hội
bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN), Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên (WWF),
Ngân hàng thế giới (WB) đã đầu tƣ vào Việt Nam và sau đó một loạt công trình
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 10
nghiên cứu về động, thực vật hoang dã đã đƣợc xuất bản. Công trình nghiên
cứu đầy đủ nhất về chim trong giai đoạn này là cuốn “Chim Việt Nam” do
nguyễn Cử, Lê Trọng Khải, Karen Philips (xuất bản năm 2000) cuốn sách này
đƣợc biên soạn dựa trên cuốn “Chim Hồng Công và Nam Trung Quốc” (1994)
của các tác giả Cliver Viney, Lan Chiu Ying, Karen Philips. Trong sách tác giả
đã giới thiệu hơn 500 loài trong tổng số hơn 850 loài chim hiện có ở Việt Nam,
Trung Quốc và 6 loài có vùng phân bố hẹp trong khu vực rừng nhiệt đới
ẩm Đông Dƣơng. Đặc biệt có 5 loài ghi nhận mới và 11 loài bổ xung vùng
phân bố theo Danh lục chim Việt Nam của Võ Quý, Nguyễn Cử. ngoài ra
còn ghi nhận đƣợc 14 loài có vùng phân bố mở rộng về đai cao và 2 loài có
vùng phân bố mới theo phân bố trƣớc đây của Craig Robson [39].
1.2.3.2. Một số dẫn liệu về thành phần loài chim ở Vƣờn chim Hải Lựu
huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc
Nhóm tác giả Nguyễn Lân Hùng Sơn, Quan Thị Dung, Đặng Thị Thu
Hoài của Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội nghiên cứu tại Vƣờn chim Hải
Lựu trong hai năm 2007 – 2008 cho thấy vƣờn chim Hải Lựu là một vƣờn
chim lớn nhất ở tỉnh Vĩnh Phúc, khá độc đáo với nhiều loài chim nƣớc
làm tổ tập đoàn với số lƣợng lớn.
Bằng phƣơng pháp truyền thống trong nghiên cứu chim ngoài thiên
nhiên. Quan sát chim trực tiếp bằng mắt thƣờng và sử dụng ống nhòm
loại Steiner 10x42 Peregrine Binoculars 358. Để quan sát rõ hơn các tổ
chim từ xa, sử dụng thêm ống telescopes Opticron GS 665 GA. Nhằm
hỗ trợ việc điều tra xác định chính xác các loài chim kích thƣớc nhỏ,
sống lẩn lút trong tầng cây bụi dƣới tán, sử dụng thêm lƣới mờ mist-nets
để bắt thả. Trong quá trình định loại ngoài thiên nhiên, bên cạnh sách
định loại của Võ Quý (1975,1981). Nhóm tác giả có sử dụng các sách
hƣớng dẫn có hình màu (C.Robson, 2000); Nguyễn Cử, Lê Trọng Trải,
Karen Philipps, 2000 để nhận biết các loài chim. Đồng thời cũng tiến
hành phỏng vấn cộng đồng địa phƣơng để bổ sung thông tin trong việc
xác định các loài chim từng có ở khu vực nghiên cứu trong thời gian trƣớc
đây. Qua kết quả nghiên cứu cho thấy về thành phần loài chim, bƣớc đầu
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 12
13
lục chim Việt Nam ( Võ Quý, Nguyễn Cử,1995) 4 loài và bổ sung thêm vùng
phân bố cho 9 loài. Độ cao là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hƣởng
tới sự khác biệt về đa dạng thành phần loài chim ở đây. Thời gian hoạt động
trong ngày của các loài chim phụ thuộc nhiều vào mùa và thời tiết trong ngày.
Bằng phƣơng pháp đếm điểm trong mùa sinh sản năm 2006 đã xác định đƣợc
107 loài với 1187 cá thể.
Cho đến nay đã ghi nhận đƣợc ở Vƣờn Quốc gia Xuân Sơn có 257 loài
chim của 45 họ, 16 bộ. Bộ Sẻ (Passeriformes) đa dạng nhất với 28 họ, họ
chim Chích (Cylvidae) đa dạng nhất với 47 loài. Đã thống kê đƣợc 23 loài
chim quý hiếm có giá trị bảo tồn bao gồm: 9 loài trong Nghị định
32/2006/NĐ-CP của Chính phủ (2 loài thuộc nhóm IB, 7 loài thuộc nhóm
IIB) 11 loài trong sách đỏ việt nam 2000 ( 1 loài bậc E, 2 loài bậc R, 8 loài
bậc T), 7 loài trong danh lục đỏ thế giới IUCN, 2006 bậc LR/LC. So ánh về
thành phần loài chim với 8 khu bảo tồn thiên nhiên ở vùng tây bắc và 1 khu
BTTN ở vùng Đông Bắc liền kề về mặt địa lý cho thấy độ tƣơng đồng trung
bình về thành phần loài giữa VQG Xuân Sơn và VQG Cúc Phƣơng là cao
nhất ( 50,44%), VQG Xuân Sơn đóng góp tới 46,81% tổng số loài chim đƣợc
biết của cả 10 khu bảo tồn thiên nhiên đƣợc lựa chọn để so sánh[29].
1.2.3.4. Công trình nghiên cứu tình trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn
một số loài chim quý hiếm tại VQG Xuân Thủy, tỉnh Nam Định.
Vƣờn quốc gia Xuân Thủy ở huyện giao thủy, tỉnh Nam Định trong vùng ven
biển đồng bằng Bắc bộ. nằm ở phía nam cửa sông Hồng, tốc độ bồi tụ ở vùng
này rất cao hình thành nên các bãi ngập triều lớn là sinh cảnh quan trọng cho
các loài chim nƣớc di cƣ.
Khu hệ chim: Xuân thủy là điểm dừng chân và trú đông quan trọng
nhất của các loài chim ven biển, mòng bể và các loài chim nƣớc khác tại vùng
ven biển đồng bằng Bắc bộ. Trong các đợt khảo sát sát vào các năm 1988 và
những loài thuộc bộ Sẻ, bộ Cu Cu và các loài khác di cƣ qua vùng chim quan
trọng này trong mùa Xuân và mùa Thu [31].
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 15
1.2.3.5. Nghiên cứu tại Vân Long
Theo nghiên cứu của nhóm tác giả các nhà khoa học thuộc Khoa sinh
trƣờng Đại học sƣ phạm - Đại học quốc gia Hà Nội do TS. Nguyễn Lân Hùng
Sơn chủ trì năm 2001-2003 đã tiến hành “Điều tra nghiên cứu về đa dạng sinh
học các loài chim ở khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nƣớc Vân Long”, bƣớc
đầu đã thu đƣợc một số kết quả nhƣ sau: Khu BTTN đất ngập nƣớc Vân Long
có 98 loài chim thuộc 13 bộ, 33 họ. Tuy nhiên kết quả nghiên cứu mới chỉ
dừng lại ở bản danh lục thống kê chim sơ bộ mà chƣa đi sâu vào nghiên cứu
về giá trị bảo vệ, bảo tồn cũng nhƣ xác định loài định cƣ hay di cƣ, không có
tiêu bản để chứng minh về sự đa dạng đó cũng nhƣ chƣa nghiên cứu các yếu
tố ảnh hƣởng đến sự suy giảm của chúng[15].
Đánh giá chung tài liệu nghiên cứu
Dựa trên những tài liệu cũng nhƣ các công trình nghiên cứu về các vấn
đề có liên quan đến chim rừng Việt Nam có thể rút ra một số nhận xét sau:
Hầu hết các công trình nghiên cứu đã và đang dần quan tâm nghiên cứu
nhiều đến đặc tính sinh thái học của một số loài chim cụ thể. Các nhà khoa
học cũng đã thống kê cập nhật bổ sung các loài mới vào danh lục các loài
chim Việt Nam, thế giới và cho từng vùng cụ thể. Đã dần thống kê, cập nhật
tình trạng, và giá trị bảo tồn các loài động vật hoang dã và chim hoang dã,
đƣa các loài quý hiếm vào danh lục các loài cần đƣợc bảo vệ bởi quy định của
pháp luật từ đó đề xuất, tác động tới các nhà hoạch định chính sách nhằm đƣa
đến 105
0
54’30” kinh độ Đông.
Ranh giới : Nằm trên địa bàn 07 xã là Gia Hƣng, Liên Sơn, Gia Hoà, Gia
Vân, Gia Lập, Gia Tân và Gia thanh thuộc huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.
Trụ sở văn phòng Ban quản lý đóng trên địa bàn xã Gia Vân, huyện
Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình [2].
1.3.2. Địa hình
Khu BTTN đất ngập nƣớc Vân Long có kiểu địa hình ô trũng giữa
các lòng sông. Khu vực nghiên cứu chủ yếu chứa các thành tạo đá vôi trên
mặt đất chính là các đỉnh và sƣờn Karst phễu và hố sụt. Các dãy núi đá
vôi (có xen một ít đồi cát kết) chiếm gần ¾ diện tích khu BTTN, chạy
theo hƣớng Tây Bắc - Đông Nam. Ít thấy các thung thung lũng và cánh
đồng Karster lớn mà thƣờng thấy các thung lũng dạng lòng chảo nhỏ dƣới
10 ha nhƣ thung Tranh có dạng đáy hình chữ U. Đỉnh các khối núi
thƣờng sắc nhọn với các địa hình dạng tai mèo khá đặc trƣng, còn sƣờn thì
dốc đứng với nhiều đống đá sụt đổ. Các đỉnh núi có độ cao dƣới 450 mét
nhƣ đỉnh Súm (233m), đỉnh Mào Gà (308m), đỉnh Ba Chon (428m), đỉnh
Cô Tiên (116m), đỉnh Mèo Cào (206m ), đỉnh Đồng Quyển (328m), núi
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 17
Mây (138m), núi Mây (128m). Trên hầu hết sƣờn dốc đứng, tai mèo dạng
rãnh và luống khắc sâu vào vách đá; trong các hốc nhỏ có lớp thổ nhƣỡng
tạo nên nền tảng cho hệ thực vật trên đỉnh và sƣờn núi phát triển thƣa
thớt với các cây bụi, cây gỗ nhỏ là nơi sinh sống của đàn Vọoc và các
động vật khác. Dƣới chân núi đá vôi thƣờng có nhiều hàm ếch và các hang
động ngập nƣớc. Ranh giới giữa chân các dãy núi đá vôi và vùng đất trũng
1.3.4. Khu hệ động, thực vật
Khu thực vật: Tổng số loài thực vật bậc cao hiện biết là 722 loài
thuộc 6 ngành, 163 họ và 476 chi trong số các loài thực vật đã nghiên cứu
có 35 loài thực vật thủy sinh thuộc 02 ngành (ngành Dƣơng xỉ-
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 18
Polypodiophyta và ngành Hạt trần – Gynospermae), 19 họ và 29 chi.
Trong các loài thực vật nguyên cứu có 15 loài đƣợc ghi nhận trong Sách
Đỏ Việt Nam (2007), trong đó có 3 loài nguy cấp, 11 loài sẽ nguy cấp và
1 loài ít nguy cấp. Đây là nguồn tài nguyên thực vật cần đƣợc bảo vệ và
phát triển bền vững[19].
Khu hệ động vật: Theo các nghiên cứu từ trƣớc đến nay đã xác định
đƣợc tại KBT Vân Long có 39 loài thú thuộc 19 họ, 8 bộ; 98 loài chim
thuộc 33 họ, 13 bộ; 32 loài lƣỡng cƣ, bò sát thuộc 13 họ, 4 bộ; 54 loài cá
thuộc 42 giống, 17 họ, 9 bộ; 22 loài động vật phù du, 95 loài động vật đáy
và 79 loài côn trùng[20].
1.4. Tổng quan về Điều kiện kinh tế, xã hội khu vực nghiên cứu
1.4.1. Dân số, phân bố dân cƣ và lao động
Khu BTTN đất ngập nƣớc Vân Long đƣợc quy hoạch lấy đất của 7
xã: Gia Hƣng, Liên Sơn, Gia Hòa, Gia Vân, Gia Lập, Gia Tân và Gia
Thanh và 7 xã trên trở thành vùng đệm của khu Bảo tồn. Riêng 2 xã là
Gia Hòa có 3 thôn: Vƣờn Thị, Gọng Vó và Đồi Ngô và xã Gia Hƣng có 2
thôn: Hoa Tiên và Cọt còn có dân sinh sống trong vùng lõi khu Bảo tồn
với 412 hộ, 2504 nhân khẩu.
Theo thống kê năm 2012 tất cả 7 xã có 12.753 hộ với 50.659 nhân
khẩu (dân). Xã ít dân nhất là xã Liên Sơn 5.644 và xã nhiều dân nhất là
Gia Hòa 8.372. Mật độ bình quân 530 ngƣời/km
4
Gia Vân
1.890
8.287
3.649
5
Gia Lập
1.906
7.291
3.256
6
Gia Tân
2.129
8.372
3.892
7
Gia Thanh
1.703
6.359
2.689
Tổng cộng
12.753
50.659
17.263
1.4.2. Tình hình kinh tế
Sản xuất nông nghiệp: Diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 51,65 %
tổng diện tích tự nhiên:
Về trồng trọt: Những sản phẩm chủ yếu là lúa, sắn và cây công nghiệp
ngắn ngày nhƣ lạc, mía cùng với cây công nghiệp ngắn ngày chiếm rất ít.
Nhƣng nhìn chung sản phẩm tính theo đầu ngƣời là không cao dẫn đến tình
1.4.4. Y tế - giáo dục
Y tế: Các cơ sở y tế thôn bản chƣa đƣợc xây dựng, chƣa đáp ứng đƣợc
nhu cầu khám chữa bệnh ban đầu cho nhân dân. Trong 5 thôn trong khu
BTTN đã có 4 thôn có y tá thôn (trừ thôn Cọt chƣa có) nhƣng trình độ
chuyên môn chƣa có, trang thiết bị, thuốc men chƣa đƣợc đầu tƣ. Tại các
trung tâm xã đều có trạm y tế, nhƣng việc khám chữa bệnh cho nhân dân
vẫn còn rất hạn chế.
Giáo dục: Các xã đều có trƣờng tiểu học, trung học cơ sở, riêng xã
Gia Lập có trƣờng ttrung học phổ thông, nhƣ vậy điều kiện giáo dục tƣơng
đối ổn định, đủ giáo viên và đủ lớp học. Tỷ lệ trẻ em đến tuổi đi học tới
trƣờng trên 90%, tuy nhiên tỷ lệ ngƣời lớn không qua đào tạo chiếm tỷ lệ
tƣơng đối cao 35%[1].
Đánh giá chung về dân sinh - kinh tế - xã hội: Khu BTTN đất ngập
nƣớc Vân Long chủ yếu là đồng bào ngƣời kinh, cuộc sống còn nghèo, sống
còn dựa vào sản phẩm từ rừng, du lịch đang trong giai đoạn bƣớc đầu phát
triển, trình độ dân trí còn thấp, cơ sở hạ tầng thấp kém và chƣa đƣợc đầu tƣ
thoả đáng. Do vậy việc nghiên cứu hỗ trợ các chƣơng trình dự án đầu tƣ, nhất
là trong lĩnh vực lâm nghiệp là rất cần thiết để từng bƣớc nâng cao đời sống
cộng đồng và thông qua đó giúp ngƣời dân có trách nhiệm và ý thức tốt hơn
trong việc bảo vệ, phát triển rừng và giảm sức ép vào khu bảo tồn, một địa
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 21
danh có ý nghĩa quan trọng, tiềm năng trong lĩnh vực bảo tồn đa dạng sinh
học và du lịch sinh thái.
Chƣơng 2
ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VỊ, NỘI DUNG VÀ
PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
bảo vệ phát triển rừng, giám sát đa dạng sinh học, bảo tồn thiên nhiên,…Kế
thừa số liệu các công trình có liên quan của các nhà khoa học đã nghiên cứu
tại Khu BTTN đất ngập nƣớc Vân Long trong những năm trƣớc đây.
2.3.2. Phƣơng pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA)
2.3.2.1. Thảo luận nhóm
Để đạt đƣợc mục tiêu bảo tồn nguồn tài nguyên động vật nói chung,
chim nói riêng tại Khu BTTN đất ngập nƣớc Vân Long. Đề tài sử dụng
phƣơng pháp thảo luận nhóm đƣợc áp dụng triệt để trong việc xác định
nguyên nhân gây suy giảm đa dạng các loài chim (số lƣợng, chủng loại…). Số
lƣợng ngƣời tham gia thảo luận là 90 ngƣời đƣợc chia làm 06 nhóm mỗi nhón
có 15 ngƣời, họ là ngƣời dân, cán bộ địa phƣơng, nhân viên bảo vệ ở các lứa
tuổi khác nhau sống trong và gần KBT. Phƣơng pháp sử dụng các thông tin
liên quan đến các hoạt động quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên cũng nhƣ
sự hiểu biết của họ về vấn đề mà đề tài nghiên cứu. Các thông tin, số liệu chủ
yếu dựa trên hiểu biết của cộng đồng thông qua Bảng thảo luận. Qua Bảng
thảo luận có thể xác định đƣợc nguyên nhân trực tiếp, gián tiếp ảnh hƣởng
đến sự suy giảm đa dạng khu hệ chim cũng nhƣ những biện pháp khắc phục.
2.3.2.2. Phỏng vấn cá nhân, tổ chức
Các cuộc phỏng vấn đƣợc tiến hành đối với 50 ngƣời họ là các cán bộ
kiểm lâm của khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nƣớc Vân Long, đại diện Ban
quản lý KBT, cán bộ xã Gia Vân, Gia Hòa, Gia Hƣng và ngƣời dân địa
phƣơng nhằm thu thập những thông tin ban đầu về xác định tuyến điều tra
sinh cảnh, phân bố, sự xuất hiện, tên các loài chim đặc biệt đối với các loài
chim lớn, quý các thông tin đƣợc thu thập bằng cách nói chuyện trực tiếp
và ghi chép lại với từng đối tƣợng phỏng vấn. Trong phƣơng pháp đề tài
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 23
24
Bảng 2.1: Phiếu ghi nhận thông tin loài chim tại KBT Vân Long
Ngày
Địa điểm
Người ghi
nhận
Tên loài
Số
lượng
Sinh cảnh
Bảng 2.2: Phiếu ghi nhận thông tin loài thực vật tại KBT Vân Long
Ngày
Địa điểm
Người ghi
nhận
Tên loài
Số
lượng
Sinh cảnh
để quan sát chim, kết hợp sử dụng máy ảnh số Nikon D70S có gắn ống
Tele 70-400mm, la bàn, chân máy, để chụp ảnh các loài chim.
Mỗi đợt chụp kéo dài từ 3-5 ngày, 2 tháng chụp một lần. Ban ngày
bắt đầu đi chụp từ 5h:30’ sáng và kết thúc trƣớc 18.00 giờ chiều, ban đêm
bắt đầu từ 19:00 – 22:00 và thời gian chụp phụ thuộc vào điều kiện thời
tiết hàng ngày, địa hình của các tuyến điều tra.
Bằng phƣơng pháp chụp ảnh tƣ liệu, đề tài xác định các tuyến điều tra
chim gồm:
: Từ khu vực Đầm Vân Long và núi Mâm Xôi đến thung Quèn
Cả tới khu vực thung Giếng đi về phía Hòa Bình. Độ dài tuyến khoảng 3.000 m.
+ Tuyến II: khu vực xã Gia Hƣng giáp ranh với
: 2.000 m.
+ Tuyến III: Từ Đập nƣớc Gia Hƣng đến Hang trạm bơm (gần nhà máy
xi măng Vina Kansai) và các suối nhƣ suối Tép (xã Gia Hòa) và suối Quèn Cả
(xã Gia Hƣng). Độ dài tuyến: 4.000m.
2.3.3.3. Phƣơng pháp điều tra tuyến
Phƣơng pháp điều tra tuyến (áp dụng triệt để cho việc ghi nhận các
dạng sinh cảnh sinh sống của các loài chim) có một số đặc điểm tƣơng
đối giống với phƣơng pháp nhật ký thực địa, tuy nhiên các tuyến điều
tra là cố định, phƣơng pháp này cũng đƣợc sử dụng trong xác định các
tuyến điều tra thành phần các loài chim.