nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật canh tác cho giống ngô lai dk 8868 tại huyện trấn yên, tỉnh yên bái - Pdf 24


Số hóa bởi trung tâm học liệu ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

ĐINH KHẮC TIẾN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT
CANH TÁC CHO GIỐNG NGÔ LAI DK 8868
TẠI HUYỆN TRẤN YÊN, TỈNH YÊN BÁI Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 60.62.01.10 LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Nông
Số hóa bởi trung tâm học liệu ii
LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình thực hiện luận văn của mình, ngoài sự nỗ lực và
cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của rất nhiều cá
nhân và tập thể.
Trước hết, tôi xin bày tỏ sự cảm ơn chân thành và sâu sắc tới PGS.TS
Nguyễn Ngọc Nông - người thầy đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo tôi trong
suốt thời gian tôi thực hiện đề tài.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các Thầy, Cô giáo Khoa Nông học, Phòng
Quản lý Đào tạo Sau đại học - Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Ủy
ban nhân dân tỉnh Yên Bái, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Yên Bái, Trung
tâm Ứng dụng Tiến bộ Khoa học công nghệ tỉnh Yên Bái, Trường Trung cấp
Kinh tế - Kỹ thuật tỉnh Yên Bái đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện
và hoàn thành đề tài.
Cảm ơn gia đình, người thân, các cán bộ đồng nghiệp và bạn bè đã
động viên và giúp đỡ rất nhiều trong quá trình học tập và nghiên cứu của tôi.
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn !

thế giới và ở Việt Nam 8
1.3.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 8
1.3.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 11
1.4. Tổng quan về đặc điểm kinh tế - xã hội và tình hình sản xuất ngô tỉnh
Yên Bái. 20
1.5. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tình hình sản xuất ngô của huyện
Trấn Yên, tỉnh Yên Bái 25
1.6. Cơ sở khoa học xây dựng liều lượng phân bón 28
Chƣơng 2: NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 30
2.2. Nội dung nghiên cứu 30
2.2.1. Nội dung 1: Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật về mật độ và lượng
phân đạm phù hợp cho giống ngô lai DK 8868 trong vụ hè thu năm 2012
và vụ Xuân năm 2013 trên đất soi bãi tại huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái 30
2.2.2. Nội dung 2: Xây dựng mô hình trình diễn áp dụng các biện pháp kỹ
thuật canh tác thích hợp đã lựa chọn từ nghiên cứu trong vụ hè thu năm
2012 cho giống ngô DK 8868 tại huyện Trấn Yên, Yên Bái. 30

Số hóa bởi trung tâm học liệu iv
2.3. Phương pháp nghiên cứu 30
2.3.1. Điều kiện nghiên cứu 30
2.3.2. Phương pháp xử lý số liệu 37
Chƣơng 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 38
3.1. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và lượng phân đạm khác
nhau đến sinh trưởng, năng suất của giống ngô lai DK 8868 trong vụ hè thu
năm 2012 và vụ xuân năm 2013 tại huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái 38
3.1.1. Ảnh hưởng của mật độ và lượng phân đạm đến thời gian sinh

: Phân tích biến động
CCC
: Chiều cao cây
CCĐB
: Chiều cao đóng bắp
CIMMYT
: Trung tâm cải tạo giống ngô và lúa mỳ quốc tế
CV%
: Hệ số biến động
DK 8688
: Giống Dekalb 8868
Đ/C
: Đối chứng
HT12
: Vụ Hè thu 2012
K/C TP-PR
: Khoảng cách tung phấn - phun râu
LSD
05

: Sự sai khác có ý nghĩa nhỏ nhất ở mức 0,05
NSLT
: Năng suất lý thuyết
NSTT
: Năng suất thực thu
ns
: Không có ý nghĩa
STPT
: Sinh trưởng phát triển
PC

Bảng 3.4b: Ảnh hưởng của mật độ và lượng phân đạm khác nhau đến các
yếu tố cấu thành năng suất giống ngô lai DK 8868 trong vụ hè
thu năm 2012 và vụ xuân năm 2013 50
Bảng 3.5: Ảnh hưởng của mật độ và lượng phân đạm khác nhau đến
năng suất lý thuyết và năng suất thực thu của giống ngô lai DK
8868 trong vụ hè thu năm 2012 và vụ xuân năm 2013 52
Bảng 3.6: Sơ bộ hạch toán hiệu quả kinh tế của các công thức trong thí
nghiệm vụ hè thu năm 2012 và vụ xuân năm 2013 59
Bảng 3.7: Ảnh hưởng của mật độ và lượng phân đạm khác nhau đến sâu
đục thân và bệnh khô văn hại ngô trong vụ hè thu năm 2012 62
và vụ xuân năm 2013 tại huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái 62
Bảng 3.8: Ảnh hưởng của mật độ và lượng phân đạm khác nhau đến 64
Bảng 3.9: Một số chỉ tiêu sinh trưởng và năng suất của giống ngô lai
8868 ở mô hình trình diễn trong vụ xuân năm 2013 66

Số hóa bởi trung tâm học liệu vii
DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1: Ảnh hưởng của mật độ và lượng phân đạm khác nhau đến
chiều cao cây và chiều cao đóng bắp của giống ngô lai DK
8868 trong vụ hè thu năm 2012 42
Hinh 3.2: Ảnh hưởng của mật độ và lượng phân đạm khác nhau đến
chiều cao cây và chiều cao đóng bắp của giống ngô lai DK
8868 trong vụ hè thu năm 2012 và vụ xuân năm 2013 44
Hình 3.3: Ảnh hưởng của mật độ và lượng phân đạm khác nhau 47
đến số lá của giống ngô lai DK 8868 trong vụ hè thu năm 2012 và vụ
xuân năm 2013 47

Yên Bái và tỉnh Phú Thọ.
Hệ thống sông ngòi Trấn Yên nằm trong hệ thống sông Hồng. Sông
Hồng chảy qua địa bàn Trấn Yên dài hơn 50 km, chảy theo hướng Tây Bắc -
Đông Nam, có diện tích lưu vực gần 600 km
2
, lưu lượng từ 1.500 - 5.000m
3
/s.
Đây là giao thông đường thủy lớn nhất của huyện, song về mùa mưa lũ từ
tháng sáu đến tháng mười thường gây ra lũ lụt lớn ở các xã ven sông. Trên địa
bàn Trấn Yên có 32 ngòi suối đổ vào sông Hồng, phân bố tương đối đều trên
địa bàn. Hệ số xâm thực sông Hồng rất lớn: 540 tấn/km
2
/năm; do đó lượng
phù sa sông Hồng cao; bình quân là 1,39 kg/m
3
/năm. Đây cũng là nguồn bổ
sung dưỡng chất cho đất tại các xã ven sông.
Trong những năm qua với lợi thế đất sản xuất nông nghiệp là 10.425,89
ha, trong đó đất soi bãi ven 2 bên sông Hồng có trên 350 ha, bằng phẳng,
nhiều diện tích thường xuyên được bồi đắp hàng năm. Đây là lợi thế trong việc
chuyên canh rau mầu, cây vụ đông. Với lợi thế tự nhiên đó huyện Trấn Yên đã
xác định trong sản xuất lương thực lấy sản xuất lúa nước và sản xuất ngô là cây
trồng chính chủ yếu. Điều đó đã được khẳng định trong sản xuất năm 2012, tổng
sản lượng lương thực cây có hạt của huyện đạt trên 28.300 tấn, trong đó sản
lượng thực đạt trên 26.200, còn lại là sản lượng ngô đạt 2.100 tấn.
Ngô hạt có thể nói là loại lương thực không thể thiếu đối với bà con các
dân tộc của tỉnh Yên Bái nói chung và của huyện Trấn Yên nói riêng. Ngoài

Số hóa bởi trung tâm học liệu

Số hóa bởi trung tâm học liệu 3
ngô phù hợp với trồng vụ xuân, vụ hè thu; thích nghi rộng trên đất 3 vụ trong
năm; chịu hạn, úng, sinh trưởng khoẻ, cây mập và kháng bệnh tốt, bộ lá siêu
bền. Giống ngô DK 8868 có đặc tính nổi trội là trồng dày, tạo ra năng suất
cao (trung bình đạt 10 tấn) và ổn định qua các mùa vụ; Theo khuyến cáo của
nhà sản xuất thì thời gian sinh trưởng của giống từ 95-105 ngày (miền Nam),
< 110 ngày (miền Bắc, tùy theo vụ), trồng được cả 3 vụ trong năm.
Giống ngô DK8868 đã được trồng khảo nghiệm tại các huyện Chợ
Mới, Ba Bể, Ngân Sơn và thị xã Bắc Kạn. Kết quả khảo nghiệm tại mô hình ở
Cẩm Giàng cho thấy tỷ lệ tách hạt đạt cao, 5m
2
thu được hơn 6kg ngô hạt
tươi, theo tính toán của nhà chuyên môn năng suất trung bình sẽ đạt 10,6
tấn/ha, tại xã Nông Thịnh (Chợ Mới) đạt 14,2 tấn/ha, tại Lãng Ngâm (Ngân
Sơn) đạt 12,4 tấn/ha.
Qua điều tra, đánh giá cho thấy điều kiện khí hậu đất đai tại huyện Trấn
Yên, tỉnh Yên Bái tương đối thuận lợi cho cây ngô sinh trưởng, cho năng suất
cao. Tuy nhiên, trên đất soi bãi tại huyện qua thu thập mẫu và phân tích sơ bộ
chúng tôi thấy rằng hàm lượng đạm thấp cùng với kỹ thuật canh tác của người
dân còn nhiều hạn chế nhất định như mật độ, lượng phân bón đặc biệt đối với
đạm còn thấp thường dưới 100 kg N/ha/vụ, thời gian bón phân chưa kịp thời
nên đã dẫn đến năng suất ngô chưa cao mặc dù đã sử dụng những giống ngô
lai có tiềm năng năng suất.
Từ những cơ sở trên, để đánh giá và lựa chọn giống ngô lai DK 8868
trong cơ cấu giống của huyện Trấn Yên trong những năm tiếp theo thì việc
nghiên cứu, các loại mật độ khác nhau, lượng phân đạm khác nhau trên đất
soi bãi từ đó khuyến cáo đến người dân nhằm tăng năng suất ngô là việc làm

Bái nói chung.

Số hóa bởi trung tâm học liệu 5
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu
Trong sản xuất nông nghiệp, giống có vai trò quan trọng góp phần nâng
cao năng suất, chất lượng và sản lượng cây trồng. Khả năng thích ứng và sản
lượng thu được của giống liên quan chặt chẽ, phụ thuộc vào điều kiện sinh
thái của các vùng miền cũng như trình độ và tập quán canh tác của các vùng
miền đó. Vì vậy, muốn phát huy hiệu quả tối đa của giống, nhất là những
giống mới có tiềm năng năng suất cao thì một trong những yêu cầu quan trọng
đầu tiên là phải tiến hành nghiên cứu đánh giá khả năng thích ứng cũng nhu
thử nghiệm các biện pháp kỹ thuật (mật độ, phân bón ) đối với giống mới đó
trước khi đưa vào sản xuất đại trà. Trên cơ sở các nghiên cứu thử nghiệm của
giống mới ta đưa ra được những công thức, những mật độ, khoảng cách và
biện pháp tối ưu mà giống đó cho hiệu quả năng suất và chất lượng cao nhất.
Ngày nay sản xuất ngô muốn phát triển theo hướng hàng hóa với sản
lượng cao, quy mô lớn nhằm phục vụ nhu cầu thị trường, cần phái có các biện
pháp hữu hiệu như thay thế các giống cũ, năng suất thấp bằng các giống mới
năng suất cao, chống chịu tốt, quy hoạch, tạo vùng sản xuất, khuyến cáo
người dân áp dụng theo đúng quy trình kỹ thuật. Đặc biệt là ở các tỉnh Trung
du và miền núi phía Bắc, ngoài sử dụng giống có khả năng chống chịu tốt,
cho năng suất cao cần phải tuyên truyền vận động khuyến cáo người dân đưa
nhanh tiến bộ kỹ thuật vào trong canh tác ngô sẽ góp phần phát huy hiệu quả
kinh tế của giống, đồng thời góp phần xóa đói giảm nghèo cho người dân sản

viêm gan tắc mật, đái vàng và da vàng theo tỷ lệ 40g râu bắp hay 150g ruột
cây bắp sắc uống (Viện dược liệu, 1990)[34].
Ngô còn dùng để chữa những bệnh về tim, đau thận, tê thấp, sỏi thận,
viêm túi mật, viêm gan với hiện tượng trở ngại bài tiết mật, có thể dùng bắp
dưới hình thức thuốc pha hoặc nấu sôi, hay chế thành cao lỏng, mỗi ngày
uống 2- 3 lần, mỗi lần 30 – 40 giọt trước bữa ăn (Đỗ Tất Lợi, 1986)[15].

Số hóa bởi trung tâm học liệu 7

Số hóa bởi trung tâm học liệu 8
1.3. Tình hình nghiên cứu mật độ, khoảng cách và phân bón cho ngô trên
thế giới và ở Việt Nam
1.3.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
1.3.1.1. Tình hình nghiên cứu về mật độ và khoảng cách trồng ngô trên thế giới:
Tạo giống chịu mật độ cao là một trong những mục tiêu quan trọng của
các nhà tạo giống ngô. Bằng nhiều phương pháp người ta đã không ngừng cải
thiện được mật độ trồng ngô trên thế giới.
Năng suất ngô của Mỹ trong hơn 40 năm qua tăng thêm 58% là nhờ
đóng góp của giống lai đơn, 21% là nhờ tăng mật độ và 5% nhờ thu hẹp
khoảng cách hàng (Minh Tang Trang và Peter, 2005)[45].
Mật độ trồng và khoảng cách giữa các hàng ngô là những vấn đề được
nghiên cứu nhiều và sâu nhất trong các biện pháp canh tác cây ngô. Rất nhiều
thí nghiệm liên quan đến mật độ và khoảng cách ở vành đai ngô nước Mỹ và
nhiều khu vực trên thế giới đã được nghiên cứu thử nghiệm. Trước năm 1988,

do sớm che phủ mặt đất.
Mật độ gieo trồng có quan hệ mật thiết với năng suất ngô. Tại vùng
Simnic, Rumani trong 2 năm 2009 và 2010 các nghiên cứu về mật độ gieo
trồng đã được tiến hành với các giống ngô lai Fundulea 475, Kamelias,
Danubian, KWS 2376, Rapsodia và Kitty. Trong cả hai năm ngô được gieo
vào ngày 15/4 với 3 mật độ thí nghiệm: 40.000 cây/ha, 50.000 cây/ha và
60.000 cây/ha. Kết quả cho thấy mật độ gieo trồng 60.000 cây/ha cho năng
suất cao nhất 8190 kg/ha, tiếp theo là mật độ 50.000 cây/ha năng suất đạt
7570 kg/ha và cuối cùng là mật độ 40.000 cây/ha năng suất đạt 7430 kg/ha
(Borleanu, 2010)[41].
1.3.1.2. Tình hình nghiên cứu phân bón cho ngô trên thế giới
Để đạt năng suất cao và ổn định, ngô cần được bón phân cân đối, đặc
biệt là giữa các yếu tố NPK. Điều này được chứng minh rất rõ qua các thí
nghiệm bón các tổ hợp phân cho ngô trong suốt 28 vụ của Viện Kali quốc tế
cho thấy chỉ có bón cân bằng NPK năng suất ngô mới cao và ổn định.
Theo Shan (1994)[47], mức bón phân được khuyến cáo cho ngô ở Đài
Loan là 175 kg N + 95 kg P
2
O
5
+ 70 kg K
2
O/ha.

Số hóa bởi trung tâm học liệu 10
Đạm là yếu tố cần thiết cho sự sinh trưởng của cây và là thành phần của
tất cả các protein. Đạm là yếu tố dinh dưỡng quan trọng nhất để xác định năng

11
30S và 150N + 20S (kg/ha) làm tăng một cách tương ứng khối lượng chất
khô/cây, số hạt/ bắp và khối lượng hạt/ bắp so với các xử lý khác. Năng suất
ngô đạt cao nhất (5,59 tấn/ ha) ở công thức bón 150N + 30S (kg/ha).
Kali tham gia vào quá trình tạo ra hợp chất cao năng ATP liên quan đến
sự tổng hợp tinh bột cũng như protein (Tisdale và CS, 1985)[54]. Sự thiếu hụt
kali là kết quả của việc cây trồng lấy đi một lượng lớn kali, tỷ lệ cung cấp kali
thấp, tình trạng thiếu kali trong một số loại đất cũng như sự rửa trôi kali ở
những vùng mưa nhiều.
Theo Thomas Dieroff và CS (2001)[53], lượng dinh dưỡng mà ngô hút
như sau:
- Ngô lai năng suất 4,5 tấn/ha tổng lượng hút 115 kg N; 20 kg P
2
O
5
; 75
kg K
2
O; 9 kg Ca; 16 kg Mg; 12 kg S/ha.
- Ngô địa phương năng suất 2,5 tấn/ha tổng lượng hút 65 kg N; 11 kg
P
2
O
5
; 42 kg K
2
O; 5 kg Ca; 16 kg Mg; 12 kg S/ha.
Ở tỉnh Jinlin - Trung Quốc, bón 150 – 169 kg K
2
O tăng năng suất ngô

chỉ đạt khoảng 3 vạn cây/ha (một sào Bắc Bộ chỉ đạt 1.200 - 1.300 cây). Đây là
nguyên nhân chính dẫn đến năng suất ngô trong sản xuất của nước ta chỉ mới
đạt 30 - 40% so với tiềm năng trong thí nghiệm (trong điều kiện thí nghiệm
nhiều giống đã đạt năng suất 12 - 13 tấn/ha) (Phan Xuân Hào, 2007) [11].
Theo kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Ngô từ 2006 - 2008 đã
xác định được mật độ cho năng suất cao nhất đối với phần lớn các giống thí
nghiệm là 8 vạn cây/ha và giống LVN10 là 7 vạn cây/ha, với khoảng cách
hàng là 50 cm (hoặc 40 cm). Ở mật độ và khoảng cách này, năng suất các
giống cao hơn so với mật độ và khoảng cách đã được khuyến cáo lâu nay (5,7
vạn cây/ha, khoảng cách hàng 70 cm) trung bình trên 30%. Đề tài đã xác định
được ưu thế của việc thu hẹp khoảng cách hàng, ở mật độ tương đối cao thì ưu
thế về tăng năng suất càng rõ; ở mật độ 5 vạn cây/ha, năng suất ở khoảng cách
hàng 50 cm vượt khoảng cách hàng 70 cm và 90 cm tương ứng là 6,0 và 11,9%,
còn ở 8 vạn cây/ha là 17,8 và 25,4% (Viện Nghiên cứu Ngô, 2009) [36].
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và khoảng cách hàng gieo
đến năng suất của giống ngô lai LVN66 tại vùng Đông Nam Bộ cho thấy ở
mật độ 7,1 vạn cây/ha với khoảng cách 50 cm x 28 cm, vượt năng suất so với
mật độ 5,7 vạn cây/ha với khoảng cách 70 cm x 25 cm từ 46,1 - 57,6%. Với
cùng khoảng cách hàng (50 cm hoặc 70 cm) năng suất giống LVN66 đạt cao

Số hóa bởi trung tâm học liệu 13
nhất ở mật độ 7,1 vạn cây/ha. Khi thu hẹp khoảng cách hàng từ 70 cm xuống
50 cm, năng suất giống LVN66 tăng từ 9,3 - 18,6% (Lê Văn Hải, 2011) [10].
Kết quả nghiên cứu vụ Xuân và Thu năm 2010 trên THL IL3 x IL6 tại
Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Sơn Dương - Tuyên Quang, Chợ Mới - Bắc
Kạn cho thấy mật độ 7,1 vạn cây/ha với khoảng cách hàng 50 cm và cây cách
cây 28 cm thích hợp cho THL IL3 x IL6. Với mật độ khoảng cách này tạo cho

ĐVT: %
Nguyên tố
6 - 7 lá
Trỗ cờ
Thu hoạch
N
51,7
47,4
52,2

Số hóa bởi trung tâm học liệu 14
P
2
O
5

8,3
9,8
19,1
K
2
O
40,0
42,7
28,7
Nguồn: Tạ Văn Sơn (1995)[27]
Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu của nước ngoài và thể hiện rõ

5
– 30K
2
O; Đồng bằng sông Cửu Long: 150N – 50P
2
O
5
– 0K
2
O.
Theo Phạm Kim Môn (1991) [16], với ngô Đông trên đất phù sa sông
Hồng liều lượng phân bón thích hợp là: 150 – 180 kg N; 90 kg P
2
O
5
; 50 – 60
kg K
2
O/ha.
Theo Trần Hữu Miện (1987) [17] thì trên đất phù sa sông Hồng lượng
phân bón phù hợp là: 120N – 90P
2
O
5
– 60K
2
O cho năng suất 40 – 50 tạ/ha;
150N – 90P
2
O

- Trên đất bạc màu: 8 – 10 tấn phân chuồng; 120 – 150 kg N; 70 – 90
kg P
2
O
5
;

100 – 120 kg K
2
O/ha.
+ Đối với giống chín trung bình và chín muộn:
- Trên đất phù sa: 8 – 10 tấn phân chuồng; 150 – 180 kg N; 70 – 90 kg
P
2
O
5
; 80 – 100 kg K
2
O/ha.
- Trên đất bạc màu: 8 – 10 tấn phân chuồng; 150 – 180 kg N; 70 – 90
kg P
2
O
5
; 120 – 150 kg K
2
O/ha.
Tác giả Vũ Cao Thái cũng cho rằng liều lượng và tỷ lệ phân bón cho
ngô khác nhau trên các loại đất khác nhau. Theo ông, trên đất phù sa nên bón
120 kg N – 60 kg P

Theo Viện Khoa học Nông nghiệp miền Nam (Đỗ Trung Bình, 2000),
liều lượng phân bón cho 1 ha ngô ở vùng Đông Nam bộ và Tây Nguyên là:
120 kg N – 90 kg P
2
O
5
– 60 kg K
2
O cho vụ Hè Thu, còn vụ Thu Đông (vụ 2)
có thể tăng lượng K
2
O lên 90 kg (dẫn theo Ngô Hữu Tình, 2003)[31].
Trên đất xám của vùng Đông Nam bộ, theo kết quả nghiên cứu của
Trần Thị Dạ Thảo và Nguyễn Thị Sâm (2002), liều lượng phân bón cho ngô
có hiệu quả kinh tế cao nhất là 180 kg N – 80 kg P
2
O
5
– 100 kg K
2
O/ha (giống
LVN99) (dẫn theo Ngô Hữu Tình, 2003)[31].
Theo Lê Quý Tường và Trần Văn Minh, lượng phân bón thích hợp cho
ngô lai trên đất phù sa cổ ở duyên hải Trung bộ trong vụ Đông Xuân là 10 tấn
phân chuồng + 150-180 kg N + 90 kg P
2
O
5
+ 60 kg K
2


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status