Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
DƯƠNG VIỆT HÀ
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP
KỸ THUẬT CANH TÁC ĐỐI VỚI NHỮNG GIỐNG LÚA
CẠN CÓ TRIỂN VỌNG TẠI THÁI NGUYÊN L
L
U
U
Ậ
Ậ
N
NV
AH
H
Ọ
Ọ
C
CN
N
Ô
Ô
N
N
G
GN
N
G
G
H
H
I
I
Ệ
Chuyên ngành:
T
T
R
R
Ồ
Ồ
N
N
G
GT
T
R
R
Ọ
Ọ
T
T
Mã số: 60.62.01
L
L
U
U
Ậ
K
H
H
O
O
A
AH
H
Ọ
Ọ
C
CN
N
Ô
Ô
N
N
G
GN
N
G
quan trọng làm tăng thu nhập quốc dân và là nguyên liệu không thể thiếu cho một
số ngành công nghiệp như: chế biến lương thực, thực phẩm, sản xuất tinh bột, rượu,
bia, bánh kẹo…
Việt Nam tự hào với nền văn minh lúa nước lâu đời. Cây lúa không chỉ cung
cấp lương thực cho toàn dân Việt Nam và cho nhu cầu xuất khẩu mà nó còn đi sâu
cả vào đời sống tinh thần của người dân Việt Nam, thể hiện qua các câu chuyện cổ
tích, ca dao, dân ca…
Đặc biệt trong những năm gần đây, ngành nông nghiệp Việt Nam nói chung
và sản xuất lúa nói riêng đã có những tiến bộ vượt bậc. Nếu như từ đầu những năm
80 trở về trước nước ta là một nước có nền nông nghiệp lạc hậu, phải nhập khẩu
lương thực, thì từ năm 1989 trở lại đây, nước ta không những đã đảm bảo vững chắc
mục tiêu an ninh lương thực Quốc gia (năm 2003) mà còn dư thừa lương thực để
xuất khẩu. Hiện nay, Việt Nam đã vươn lên vị trí thứ 2 thế giới về xuất khẩu gạo
[45]. Sở dĩ có được thành tựu nổi bật như vậy là do được sự quan tâm lãnh đạo của
Đảng và Nhà nước cùng với sự đóng góp của toàn thể bà con nông dân, các nhà
khoa học, các tổ chức quản lý và các doanh nhân Việt Nam.
Thực tế sản xuất cho thấy năng suất và chất lượng của một giống lúa phụ
thuộc vào nhiều yếu tố như: giống, kỹ thuật trồng trọt, thời tiết….Trong đó kỹ thuật
trồng trọt như mật độ và phân bón có vai trò rất quan trọng. Mật độ cùng với tỷ lệ
đẻ nhánh quyết định yếu tố cấu thành năng suất cơ bản nhất, đó là số bông trên m
2
[36]. Bên cạnh đó cây lúa có khả năng sinh trưởng mạnh và cho năng suất cao nên
nhu cầu dinh dưỡng của cây lúa đòi hỏi lớn. Việc sử dụng hợp lý phân bón có thể là
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
2
tăng năng suất lúa lên 50-70%. Vì vậy tìm hiểu về nhu cầu dinh dưỡng là cơ sở để
tiến hành các biện pháp kỹ thuật khác hiệu quả hơn.
Ở Việt Nam các nghiên cứu về ảnh hưởng của kỹ thuật trồng trọt đến năng
suất và chất lượng lúa gạo vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế. Bên cạnh những
Xác định công thức mật độ gieo và tổ hợp phân bón đạt năng suất cao và ổn định.
Xác định giống lúa cho năng suất cao và có triển vọng tại Thái Nguyên.
3. Ý nghĩa của đề tài
* Ý nghĩa khoa học:
Nghiên cứu các mật độ gieo và tổ hợp phân bón khác nhau ảnh hưởng đến 5
giống lúa triển vọng, đánh giá được các đặc tính nông học, khả năng chống chịu, từ
đó làm cơ sở để xây dựng quy trình kỹ thuật canh tác phù hợp, cho năng suất cao.
Góp phần làm rõ mối quan hệ giữa những đặc tính của từng giống lúa với các
mật độ gieo và tổ hợp phân bón.
* Ý nghĩa thực tiễn:
Trên cơ sở kết quả của đề tài đưa ra được khuyến cáo quy trình kỹ thuật canh
tác của các giống lúa.
Khuyến cáo các giống lúa cùng các biện pháp kỹ thuật thích hợp với điều
kiện tự nhiên của tỉnh Thái Nguyên.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
4
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài
Trong toàn bộ đời sống của cây lúa có thể chia ra làm ba thời kỳ sinh trưởng,
phát triển cơ bản là: sinh trưởng dinh dưỡng, sinh trưởng sinh thực, thời kỳ hình
thành hạt và chín. Khi dinh dưỡng ở trạng thái cân đối thì cây sinh trưởng khoẻ
mạnh, tạo tiền đề cho năng suất cao, hoặc ngược lại nếu thiếu hoặc mất cân đối dinh
dưỡng thì cây sinh trưởng không tốt và chắc chắn cho năng suất thấp. Vì vậy, trong
sản xuất lúa gạo muốn đạt được năng suất cao trên cùng một diện tích thì ngoài việc
chọn giống ta không thể xem nhẹ các biện pháp kỹ thuật trồng trọt. Vì nguồn dinh
dưỡng cung cấp cho cây phụ thuộc rất nhiều vào việc chúng ta tiến hành các biện
pháp kỹ thuật trồng trọt như thế nào. Trong đó việc xác định công thức mật độ và tổ
hợp phân bón Đạm - Lân - Kali phù hợp để cây có thể tận dụng được nguồn dinh
cạn có những đặc tính nông học đặc biệt, khác với những cây trồng khác giúp lúa
cạn được phân bố rộng hơn. Qua nhiều nghiên cứu về lúa cạn cho thấy lúa cạn được
hình thành từ lúa tiên, phát triển theo hướng chín sớm, có khả năng chống chịu tốt
với hạn, nhất là hạn cuối vụ mùa, chống chịu sâu bệnh và chịu đất nghèo dinh
dưỡng, thích nghi cao với điều kiện sinh thái khó khăn [22]. Nhưng thực tế các công
trình nghiên cứu về giống và các biện pháp kỹ thuật canh tác thích hợp cho các
giống lúa cạn này còn rất hạn chế. Chủ yếu người dân vùng cao canh tác các giống
lúa này theo lối truyền thống và tự phát.
Như vậy, việc nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật trồng trọt, nhất là về mật độ
gieo cấy trong một nền dinh dưỡng cân đối phù hợp cho một giống lúa cạn trong một
khu vực nhất định nhằm đánh giá khách quan, chính xác tiềm năng của giống và
nhanh chóng đưa giống ra sản xuất đại trà, phù hợp với hệ thống thâm canh là công
việc cấp thiết và sẽ mang hiệu quả.
1.2. Một số khái niệm về lúa cạn
Trên thế giới có nhiều cách định nghĩa về lúa cạn. Theo định nghĩa tại Hội
thảo nghiên cứu lúa cạn ở Bonake, Bờ Biển Ngà (1982) thì “lúa cạn được trồng trên
đất thoát nước, không có sự tích trữ nước trên bề mặt, không được cung cấp nước
và không đắp bờ, chỉ được tưới nhờ mưa tự nhiên” [57].
Theo Huke R.E (1982) định nghĩa: “lúa cạn được trồng trong những thửa
ruộng được chuẩn bị đất và gieo hạt dưới điều kiện khô, cây lúa sống phụ thuộc
hoàn toàn vào nước trời” [61].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
6
Theo Garrity D.P lúa cạn được coi là lúa trồng trong mùa mưa trên đất cao,
đất thoát nước tự nhiên, trên những chân ruộng được đắp bờ hoặc không có bờ và
không có lượng nước dự trữ thường xuyên trên bề mặt. Lúa cạn được hình thành từ
lúa nước, nhờ quá trình thích ứng với những vùng trồng lúa thường gặp hạn mà xuất
hiện các biến dị chịu hạn ngày càng cao. Vì vậy giống lúa cạn có khả năng sinh
trưởng bình thường khi ở ruộng nước [58].
sự (1992) [66] cho rằng kiểu trung gian giữa O.rufipogon và O.nivara giống với tổ
tiên lúa trồng O.sativa hơn chính các loài lúa dại nhiều năm hoặc hàng năm.
Lúa trồng châu Á O.sativa có nguồn gốc xuất xứ từ Trung Quốc (Decadolle
A., 1985; Roscheviez, Ru., 1931) và Ấn Độ (Sampath và Rao, 1951) [71]. Theo
công bố của Chang (1976) [50] thì O.sativa xuất hiện đầu tiên trên một vùng rộng
lớn từ lưu vực sông Ganges dưới chân núi Himalaya qua Myanmar, Bắc Thái Lan,
Lào đến Việt Nam và Nam Trung Quốc. Ông còn cho rằng lúa Indica phát sinh từ
vùng Nepal, Myanmar, Vân Nam (Trung Quốc) đến khu vực sông Hoàng Hà và từ
Việt Nam phát tán dần lên tận lưu vực sông Dương Tử, từ đó phát sinh những biến
dị thích ứng và hình thành các chủng chịu lạnh Japonica (hoặc O.Sinica).
Từ Trung Quốc Japonica được hình thành rồi lan qua Triều Tiên sang Nhật
Bản. Lúa Indica phát tán xuống phía Nam tới Malaysia và lên phía Bắc tới miền
Trung Trung Quốc. Loại hình hạt dài, rộng và dày thuộc kiểu Javanica (Bulu hoặc
Gundil) được hình thành ở Indonesia là sản phẩm của quá trình chọn lọc tự nhiên từ
Indica. Kiểu Javanica từ đây chuyển qua Philippines, Đài Loan đến Ryukyus của
Nhật Bản.
Nguyễn Thị Lẫm [20] và nhiều tác giả khác đều cho rằng nguồn gốc lúa cạn
là từ lúa nước. Trong quá trình phát triển do có sự thay đổi về điều kiện đất đai và
yêu cầu về lương thực của con người, cây lúa đã phát triển lên những vùng cao hơn.
Sống trong điều kiện đó cây lúa có một số biến đổi thích nghi với hoàn cảnh khô
hạn. Dần dần qua nhiều thế hệ đã hình thành nên nhóm lúa cạn. Lúa cạn phân bố rất
rộng, có khả năng chịu rét cao và được trồng ở miền núi có độ cao 2.700 m so với
mặt biển. Giữa lúa nước và lúa cạn tuy có khác nhau về yêu cầu nước, khả năng
chịu hạn khi thiếu nước, đặc biệt ở thời kỳ sinh trưởng từ làm đòng đến chín, khác
nhau về một số đặc điểm sinh thái, hình thái phù hợp với điều kiện sống khác nhau,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
8
nhưng giữa chúng vẫn còn vết tích chung về cấu tạo giải phẫu. Những điều đó chứng
tỏ chúng có mối quan hệ với nhau. Do đặc điểm của hai nhóm lúa này khác nhau nên
thể ruộng lú a có số bông tối ưu mà vẫn không làm cho bông nhỏ đi , số hạt chắc và
độ chắc hạt trên bông không thay đổi . Số bông tối ưu của một giống lú a là số bông
thu được nhiều nhất mà ruộng lú a có thể đạt được nhưng chưa làm giảm khối lượng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
9
hạt vốn có của giống đó . Như vậy, các giống lúa khác nhau có khả năng cho số bông
tối ưu trên đơn vị diện tí ch khá c nhau, việc xá c định số bông cần đạt trên một đơn vị
diện tí ch quyết định mật độ gieo cấy, khoảng cá ch cấy và số dảnh cơ bản khi cấy.
Căn cứ vào tiềm năng cho năng suất của giống, tiềm năng đất đai, khả năng
thâm canh của người sản suất và gieo trồng mà định ra số bông cần đạt một cá ch
hợp lý. Những yếu tố quyết định số bông bao gồm mật độ gieo cấy và số dảnh
cấy/khóm.
1.4.1. Những kết quả nghiên cứu về mật độ gieo cấy
Mật độ cấy là một biện phá p kỹ thuật quan trọng, nó phụ thuộc vào điều kiện
tự nhiên , dinh dưỡng , đặc điểm của giống… Khi nghiên cứu vấn đề này Sasato
(1966) đã kết luận : Trong điều kiện dễ canh tác, lúa mọc tốt thì nên cấy mật độ
thưa, ngược lại phải cấy dầy . Giống lú a cho nhiều bông thì cấy dày không có lợi
bằng giống to bông . Vùng lạnh nên cấy dày hơn so với vùng nóng ẩm , mạ dảnh to
nên cấy thưa hơn mạ dảnh nhỏ, lúa gieo muộn nên cấy dày hơn so với lú a gieo sớm.
Mật độ cấy là số khó m cấy/m
2
. Lúa cấy được tí nh bằng khó m, lúa gieo thẳng
được tí nh bằng số hạt mọc . Về nguyên tắc thì mật độ gieo hoặc cấy càng cao thì số
bông càng nhiều. Trong một giới hạn nhất định, việc tăng số bông không làm giảm
số hạt trên bông, nhưng nếu vượt qua giới hạn đó thì số hạt trên bông bắt đầu giảm
đi do lượng dinh dưỡng phải chia sẻ cho nhiều bông . Theo tí nh toá n thống kê cho
thấy tốc độ giảm số hạt trên bông mạnh hơn tốc độ tăng của mật độ gieo cấy, vì vậy
cấy dà y đối với lú a thâm canh và lú a lai gây giảm năng suất nhiều hơn so với lú a
thường. Tuy nhiên, nếu cấy quá thưa đối với giống có thời gian sinh trưởng ngắn thì
các yếu tố cấu thành năng suất và năng xuất của tổ hợp lai . Các tác giả sử dụng hai
công thức cấy thưa và công thức cấy truyền thống ở Trung Quốc. Kết quả nghiên
cứu cho thấy: Số nhá nh đẻ ở công thức cấy thưa giảm đá ng kể so với công thức cấy
dầ y vào thời điểm trước 10/5, nhưng đến sau 25/5 thì sự sai khác chỉ còn rất nhỏ.
Nghiên cứu về hệ thống kỹ thuật làm tăng năng suất lúa lai ở Tứ Xuyên,
Trung Quốc: Trong các mật độ 40cm x 40cm; 40cm x 45cm; 45cm x 45cm; 50cm x
50cm; 55cm x 55cm, thì kết quả các mật độ 40cm x 45cm; 45cm x 45cm; 45cm x
50cm cho năng suất cao, đều trên 13 tấn/ha [52].
Mật độ cấy là một biện pháp kỹ thuật quan trọng, nó phụ thuộc vào đặc điểm
của giống, điều kiện đất đai, nước tưới, dinh dưỡng, trình độ thâm canh của người
dân…Khi nghiên cứu về vấn đề này Sasato (1966) đã kết luận: trong điều kiện dễ
canh tác, lúa mọc tốt thì nên cấy mật độ thưa, ngược lại phải cấy dầy. Giống lúa cho
nhiều bông thì cấy dầy không có lợi bằng giống to bông, vùng lạnh nên cấy dầy hơn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
11
vùng nóng ẩm, mạ dảnh to nên cấy thưa hơn mạ dảnh nhỏ, lúa gieo muộn nên cấy
dầy hơn lúa gieo sớm [20].
Ở Nhật Bản, mạ tốt là mạ non, cấy xuống cây mạ bén rễ rất nhanh, Mật độ
cấy tiêu chuẩn ở Hokkaido là 35 x 15cm, mỗi khóm 3 dảnh. Theo kết quả nghiên
cứu của trạm thí nghiệm nông nghiệp ở Hokkaido cho thấy trong một phạm vi mật
độ nhất định thì năng suất hầu như không thay đổi. Mật độ cấy thích hợp nhất thay
đổi tùy theo lượng phân bón và đặc tính giống. Ở vùng nhiệt đới như Ấn Độ, cấy
lúa chín sớm với mật độ 15 x 15cm, mỗi khóm lúa 2 dảnh, với lúa chín muộn
khoảng cách 20 x 20cm hoặc 15 x 23cm, mỗi khóm 2 dảnh. Còn những nơi đất tốt
có thể cấy 30 x15cm [34].
Ở Nhật Bản khoảng cách cấy ngày càng được mở rộng dần. Tương lai sau
này áp dụng những giống tốt, bón nhiều phân thì có thể cấy khoảng cách 25 x 25cm
hoặc 30 x 30cm [34].
Quần thể ruộng bao gồm tất cả các khóm lúa đã được gieo cấy ở ruộng đó từ
khoảng cách là 25cm x 10 - 13cm; giống dài ngày cấy từ 35 - 40 khóm/m
2
và
khoảng cách là 25cm x 10 - 12cm hoặc 20cm x 13 - 14cm. Nhóm lúa thuần gieo mạ
thâm canh hoặc gieo mạ cải tiến cấy mạ non mật độ là 30 - 35 khóm/m
2
.
Phương pháp cấy cải tiến áp dụng đối với lúa lai, nên đảm bảo mật độ cần
thiết 29 - 40 khóm/m
2
, ở nhiều địa phương đã bố trí phương pháp cấy theo kiểu
„„hàng rộng - hàng hẹp‟‟ và có thể giãn khoảng cách giữa hai hàng kép 35 - 40cm
mà vẫn đảm bảo mật độ cần thiết.
Vũ Văn Liết, Lê Thị Thanh (2006) khi nghiên cứu về ảnh hưởng của mật độ
và phân bón đến năng suất và chất lượng hạt giống lúa Khang Dân nguyên chủng
với 4 mật độ là 50 khóm/m
2
(M1), 60 khóm/m
2
(M2), 70 khóm/m
2
(M3), 80
khóm/m
2
(M4) và các công thức phân bón. Kết quả cho như sau: công thức cấy ở
mật độ M2 (60 khóm/m
2
) và bón cân đối đạm, lân, kali cho năng suất và chất lượng
hạt giống cao nhất, công thức không bón đạm và kali ảnh hưởng mạnh đến năng
suất và chất lượng hạt giống hơn là không bón lân. Mặc dù cấy 1 dảnh/khóm nhưng
với ngày nay: trước năm 1967, người dân trồng lú a thường cấy thưa với mật độ 40
40 cm hoặc 70 70 cm ở một vài ruộng sâu , còn ngày nay có xu hướng cấy dày 20
20cm; 20 25cm; 15 20cm; 10 15cm.
Khi nghiên cứu ảnh hưởng mật độ cấy lú a mẹ BoA tới năng suất hạt lai F 1
của tổ hợp Bắc Ưu 64 tại Đồng Văn - Hà Nam, Đào Trọng Văn (2001) đã kết luận:
Mật độ 60 khóm/m
2
cho năng suất hạt lai cao nhất , năng suất thấp nhất khi cấy với
mật độ 80 khóm/m
2
[51].
Theo kết quả nghiên cứu của Ma Thị Ảnh [1] tại Chiêm Hó a - Tuyên Quang
thì giống lúa Tạp Giao 1 cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất khi cấy với
phương thức cải tiến hàng rộng hàng hẹp (30 + 15)cm 12cm ứng với 33 khóm/m
2
,
4 dảnh/khóm (132 dảnh/m
2
).
Theo Trần Thú c Sơn thì mở rộng khoảng cách cấy (20 x 30 cm) là con
đường tốt nhất để giảm lượng gieo cần thiết cho 1 ha (25kg) mà không làm giảm
năng suất [31].
Trại giống An Khánh - Đại Từ - Thái Nguyên là nơi đã sản xuất được hạt
giống lúa siêu nguyên chủng để đưa vào sản xuất như: K3, C70, C71,…Đây cũng là
nơi tiến hành khảo nghiệm các giống lúa trước khi đưa ra sản xuất đại trà. Năm
1998, trại đã khảo nghiệm hai giống Khang Dân 18 và Kim Cương 90. Trong đó
Khang Dân 18 cho đến nay vẫn là một giống lúa được gieo trồng phổ biến với quy
trình kỹ thuật như sau: Khang Dân là giống lúa thuần Trung Quốc có năng suất cao,
thích hợp vụ Xuân muộn, Mùa sớm; cấy với mật độ: vụ Xuân 55 - 60 khóm/m
2
lên 70 khóm/m
2
) cũng chỉ
tăng được 1,25 lần số bông, còn số hạt/bông thì giảm tới 1,78 lần (130 hạt giảm
xuống còn 73 hạt).
Mật độ phù hợp của giống San Ưu 63 là 27 - 39 khóm/m
2
. Tuỳ từng
chân đất mà cần phải chọn mật độ thích hợp vì còn phải tính đến khoảng cách giữa
các nhóm lúa, phù hợp nhất là nên bố trí khoảng cách giữa các hàng lúa là 20cm,
25cm, 30cm.
Theo kết quả đạt được những ruộng lú a thâm canh năng suất đạt được trên
300kg/sào thì khó m lú a cần có 7-10bông (thí nghiệm trên Sán Ưu Quế 99) thì mật
độ là: với 7 bông/khóm cần cấy 43 khóm/m
2
; với 8 bông/khóm cần cấy 38 khóm/m
2
với 9 bông/khóm cần cấy 33 khóm/m
2
; với 10 bông/khóm cần cấy 30 khóm/m
2
[19].
Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy và liều lượng đạm tới sinh trưởng
của lú a ngắn ngày thâm canh . Nguyễn Như Hà kết luận: tăng mật độ cấy làm cho
việc đẻ nhá nh của một khó m giảm . So sánh số dảnh trên khóm của mật độ cấy thưa
45 khóm/m
2
và mật độ cấy dày 85 khóm/m
2
theo quy hoạch. Nguyên tắc chung của việc xác định số dảnh cấy của một khóm lúa
là dù được cấy ở mật độ khác nhau, tuổi mạ khác nhau nhưng cuối cùng cần đạt
được số bông cần thiết và độ lớn của bông theo yêu cầu để đạt được số lượng hạt
thóc /m
2
như mong muốn.
Ông cho rằng ở mật độ cấy dày trên 40 khóm/m
2
thì để đạt 7 bông hữu hiệu
trên khó m cần cấy 3 dảnh (nếu mạ non ). Với loại mạ thâm canh số nhá nh cần cấy
trên khó m được định lượng theo số bông cần đạt nhân với 0,8.
Đối với nhóm lúa thường gieo mạ thâm canh hoặc gieo mạ cải tiến thì nên cấy
mạ non. Bố trí cấy với mật độ thưa hơn so với cách gieo mạ truyền thống. Mạ non
cấy 3-4 dảnh/khóm (mạ non chưa đẻ), 30-35 khóm/m
2
để sau thời kỳ đẻ nhánh có số
nhánh tương đương như loại mạ thâm canh, khoảng cách 25 x 12 cm thường được
ưa chuộng.
Đối với mạ non khi cần đạt 9-10 bông/khóm với mật độ 35-39 khóm/m
2
thì chỉ
cần cấy 2 dảnh mạ/khóm, không nên cấy nhiều dảnh hơn vì loại mạ non đẻ khỏe, cấy
nhiều dảnh cây lúa sẽ đẻ ra nhiều nhánh quá nhỏ, yếu, tỷ lệ bông hữu hiệu thấp.
Hoặc số bông/khóm nhiều hơn so với dự định sẽ làm cho số hạt/bông ít đi, bông lúa
nhỏ, năng suất không dạt yêu cầu. Khi cần đạt 11-12 bông/khóm ở mật độ 29-32
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
16
khóm/m
2
bông hữu hiệu là 85%), tổng số hạt là 18.841 hạt (trung bình mỗi bông có 95 hạt).
Đối với giống Chiêm Thanh khi tiến hành cấy 1 dảnh, với khoảng cách cấy rộng 40
x 40cm, từ ngày 19/12 đến 25/3 đẻ được 113 nhánh (trong đó có 101 nhánh thành
bông, tỷ lệ nhánh có ích là 89,4%) [7].
Nguyễn Thạch Cương khi làm thí nghiệm trên giống lúa Di Hương với các
khoảng cách cấy khác nhau thay đổi từ 30 x 30cm, 20 x15cm, 20 x 10cm, 15 x 5cm,
10 x 5cm, 5x 5cm. Với các số dảnh khác nhau trong mỗi khóm thay đổi từ 1 dảnh
thường, 1 dảnh đẻ (ngạnh trê), 3 dảnh, 5, 8, 10, 13, 16. Như vậy mật độ thay đổi từ
11-400 khóm/m
2
. Và mật độ dảnh cơ bản thay đổi từ 11-6400 dảnh/m
2
. Thí nghiệm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
17
được tiến hành trong 2 vụ Mùa đã cho thấy thời gian đẻ của giống lúa di hương thay
đổi rõ với các mật độ khác nhau. Mật độ khóm càng cao thời gian đẻ càng ngắn dù
mật độ dảnh trong khóm cao hay thấp. Mật độ dảnh trong khóm càng cao đối với
cùng mật độ khóm thì thời gian đẻ cũng rút ngắn, trừ các mật độ khóm tương đối
thưa (30 x 30cm, 20 x15cm) [7].
Qua các nghiên cứu Bùi Huy Đáp cho rằng nếu ta cấy càng nhiều dảnh lúa thì
bông lúa càng ít hạt, ví dụ như cấy 1600 dảnh/m
2
thì 1 bông chỉ có 8 hạt, cấy 1000
dảnh/m
2
thì 1 bông trung bình có 22 hạt, cấy 500 dảnh/m
2
thì 1 bông có 44 hạt, 250
nguyên liệu để tái tạo ra các chất dinh dưỡng như: tinh bột, chất đường, chất béo,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
18
prôtêin… Ngoài ra, chúng còn giữ vai trò duy trì sự sống của toàn bộ cây lúa, không
có nguồn dinh dưỡng thì cây lúa sẽ chết, không thể tồn tại. Các yếu tố dinh dưỡng
trong phân bón cung cấp cho cây lúa có vai trò khác nhau, với hàm lượng cung cấp
khác nhau trong quá trình sinh trưởng, phát triển của cây lúa. Vì vậy tìm hiểu về
nhu cầu dinh dưỡng là cơ sở để tiến hành các biện pháp kỹ thuật khác hiệu quả hơn.
Nhu cầu dinh dưỡng của cây lúa hay nói cách khác là các chất dinh dưỡng
cần thiết, không thể thiếu được đối với sự sinh trưởng và phát triển của cây lúa bao
gồm: đạm (N), lân (P), kali (K), vôi, sắt, kẽm, đồng, magiê, mangan, mô-líp-đen,
bo, silic, lưu huỳnh và các-bon, ô-xy, hyđrô. Tất cả các chất trên đây (trừ các-bon,
ô-xy, hyđrô) phân bón đều có thể cung cấp được. Nhưng đạm - lân - kali là ba yếu
tố dinh dưỡng vô cùng quan trọng mà cây lúa cần với một lượng lớn trong suốt thời
gian sinh trưởng, nó giữ vai trò quyết định trong việc tăng năng suất. Các nguyên tố
khoáng còn lại, cây lúa cần với lượng rất ít và hầu như đã có sẵn ở trong đất, nếu
thiếu thì tuỳ theo điều kiện cụ thể mà bón bổ sung.
Tổng kết kinh nghiệm trên 60 thí nghiệm ở 40 nước có khí hậu khá c nhau đã
cho thấy: nếu đạt năng suất 3 tấn thó c/ha, lúa lấy đi hết 50kg N, 26kg P
2
O
5
, 80kg
H
2
O, 100kg Ca, 6kg Mg, 5kg S. Và nếu ruộng lú a đạt năng suất 6 tấn/ha thì lượng
dinh dưỡng cây lú a lấy đi là 100kg N, 50kg P
2
O
bón cho lúa cạn ở đất chân đồi Trung du miền núi phía Bắc kết luận: có thể bón
phân theo tỷ lệ 2 : 2 : 1,5; lượng bón là 60N + 60P
2
O
5
+ 40 K
2
O; chia làm 3 thời kỳ:
bón lót toàn bộ lân + 1/2 đạm + 1/2 kali, bón thúc đẻ nhánh 1/4 đạm + 1/2 kali, bón
thúc đòng nốt lượng đạm còn lại [21].
Như vậy , muốn có năng suất lúa cao ngoài việc cần phải cung cấp thêm
nhiều chất dinh dưỡng có trong cá c nguồn phân bó n thì phải bó n đú ng kĩ thuật , cân
đối, đá p ứng nhu cầu của từng giống , từng vù ng, từng vụ thì năng suất lú a mới cao
và ổn định được.
1.5.2. Tình hình sử dụng phân bón cho lúa ở Việt nam
Hiện nay, Việt Nam là nước sử dụng phân bón tương đối cao so với những
năm trước đây do người dân áp dụng được rất nhiều biện pháp kỹ thuật trong thâm
canh. Theo Vũ Hữu Yêm: Việt Nam hiện đang là một trong 20 quốc gia sử dụng
phân bón cao nhất thế giới [47].
Bảng 1.1: Nhu cầu và cân đối phân bón ở Việt Nam đến năm 2020
Đơn vị tính: 1000 tấn
Các loại phân bón
Năm
2005
2010
2015
2020
Urê
Tổng số
1.900
Theo Nguyễn Văn Bộ, 2003 [4] mỗi năm nước ta sử dụng 1.202.140 tấn
đạm, 456.000 tấn lân và 402.000 tấn kali, trong đó sản xuất lúa chiếm 62%. Song do
điều kiện khí hậu còn gặp nhiều bất lợi cho nên kỹ thuật bón phân mới chỉ phát huy
được 30% hiệu quả đối với đạm và 50% hiệu quả đối với lân và kali. Nhưng hiệu
quả bón phân đối với cây trồng lại tương đối cao, do vậy mà người dân ngày càng
mạnh dạn áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Trong tương lai, vẫn hứa hẹn sử
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
20
dụng một lượng phân bón rất lớn trong sản xuất nông nghiệp, mặc dù nước ta chủ
yếu vẫn phải nhập khẩu phân bón.
1.5.3. Phương pháp bón phân cho lúa
Trong đất luôn tồn dư một lượng dinh dưỡng nhất định nhưng lượng dinh
dưỡng từ đất thường không đủ cho cây lúa phát triển để đạt hiệu quả, hiệu suất cao
nhất về năng suất, chất lượng khi thu hoạch. Người ta cần bổ sung dinh dưỡng cho
cây lúa bằng cách bón các loại phân bón vào đất hoặc phun lên lá các loại phân bón
khác nhau, vào các giai đoạn khác nhau để đạt được kết quả sản xuất cao nhất. Có
hai cách bón phân cho cây lúa là bón vào đất và phun lên lá.
* Loại phân bón vào đất đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng cho cây lúa trong suốt
thời gian sinh trưởng và phát triển. Phân bón vào đất thường ở dạng thô (phân hữu
cơ: phân chuồng, phân rác, phân xanh, phân vi sinh), dạng bột, viên (phân bón vô
cơ: phân đạm, phân lân, phân kali, vôi, phân khoáng hỗn hợp, phân vi lượng…).
Theo nghiên cứu, để có năng suất 5 tấn hạt/ha/vụ thì lượng các chất dinh
dưỡng chủ yếu cây lúa hút từ đất và phân bón là: 110kg N, 34kg P2O5, 156kg K2O,
23kg MgO, 20kg CaO, 5kg S, 3,2kg Fe, 2kg Mn, 200g Zn, 150g B, 250g Si và 25g
Cl. Tuy nhiên, không phải cứ bón bao nhiêu phân bón vào đất là cây lúa hút hết
được, trong thực tế, cây lúa chỉ hút được khoảng 2/3 - 3/4 lượng phân bón, còn lại
bị trôi theo nước, bốc hơi và tồn dư trong đất.
* Loại phân phun lên lá: là những loại phân đa lượng dễ tan và phân vi lượng
hay một số hoá chất kích thích khác…ở dạng bột hoặc nước. Phân phun lên lá có
hút khá nhiều lân trong các giai đoạn sinh trưởng đầu, nhất là giai đoạn cây con cây
lúa dễ bị khủng hoảng lân, do vậy phân lân cần được bón lót toàn bộ sớm. Phân lân
nên bón rải đều trên mặt ruộng trước khi cầy bừa lần cuối.
Nên bón lót nhiều phân kali trong các trường hợp sau: trồng giống đẻ nhánh
nhiều hay ngắn ngày, lúa có hiện tượng bị ngộ độc sắt, đất có khả năng hấp thu cao
hay thiếu kali, mưa nhiều, ngập nước sâu, khí hậu lạnh. Trong thực tiễn cần chia
tổng lượng phân kali ra bón thúc làm nhiều lần, do lúa là cây có yêu cầu cung cấp
kali vào giai đoạn rễ lúa ăn nổi trên bề mặt đất, giai đoạn cuối đẻ nhánh đến đầu làm
đòng. Kali được cung cấp từ đất và nước tưới thường giảm đi ở giai đoạn đẻ nhánh
của cây lúa.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
22
Người ta thường dành 1/3-2/3 tổng lượng đạm để bón lót cho cây lúa, tỷ lệ
phân dùng để bón lót tuỳ thuộc vào tính chất đất, độ sâu cày bừa, điều kiện khí hậu,
thời gian sinh trưởng của lúa. Cần bón lót nhiều đạm hơn khi cấy bằng mạ già, các
giống lúa ngắn ngày, lúa chét (lúa mọc lại từ gốc rạ).
Theo Nguyễn Như Hà (2006), bón phân lót trước khi cấy làm mạ sau cấy
nhanh bén rễ, đẻ nhánh sớm và mạnh, cần bón lót nhiều phân đạm khi gieo cấy
trong điều kiện nhiệt độ thấp, cấy giống ngắn ngày hay đẻ nhánh kém, mật độ gieo
cấy thưa [17].
Trồng lúa trên đất có khả năng giữ phân tốt và đặc biệt với các giống ngắn
ngày, việc chia phân bón làm nhiều lần không hiệu quả bằng việc bón lót sâu toàn
bộ lượng phân đạm cần được bón. Do khi bón lót sâu toàn bộ hay phần lớn lượng
phân đạm sẽ hạn chế mất đạm, nhu cầu đạm của cây lúa sau trỗ dựa vào phần đạm
còn lại trong đất do bón lót và đạm do cây đã tích luỹ trong thân, lá, nên lúa vẫn đạt
năng suất cao mà lại giảm được công bón [17].
* Bón thúc đẻ nhánh
Bón thúc đẻ nhánh cho lúa thường bón bằng phân đạm hay phối hợp thêm
với một phần phân lân (nếu còn chưa bón lót hết). Thời gian bón thúc đẻ nhánh vào
Bón thúc đòng cho lúa thường sử dụng phối hợp phần phân đạm và kali còn
lại nhằm tiếp tục cung cấp dinh dưỡng cho cây lúa để tạo được bông lúa to, có nhiều
hạt chắc, nâng cao hệ số kinh tế cho cây lúa, đạt năng suất cao. Bón thúc đòng tốt
nhất là bón sau khi phân hoá đòng, vào khoảng 40 - 45 ngày sau khi gieo cấy, tùy
từng mùa vụ.
Khi bón ít đạm, thì bón thúc đòng là một kỹ thuật quan trọng để nâng cao
hiệu suất phân đạm. Đây là thời kỳ bón đạm có hiệu quả nhất. Những giống đẻ
nhánh ít, bông to, năng suất dựa vào số hạt trên bông thì cần phải chú trọng vào đợt
bón đón đòng và nuôi hạt để tạo được cây lúa có bông to, nhiều hạt, tỷ lệ hạt chắc
lớn, thì quần thể sẽ cho năng suất cao.
Bón lót càng nhiều, lúa sinh trưởng tốt, thì thời gian bón đòng càng muộn và
ít. Đối với các giống lúa mùa có thời gian sinh trưởng dài (150 - 180 ngày), cần bón
thúc đòng muộn hơn. Cần dùng mắt đánh giá tình hình sinh trưởng và màu lá trong
thời kỳ đẻ rộ để phán đoán nhu cầu bón thúc đòng. Khi đã bón lót được nhiều cũng