NGUYÊN LÝ KINH TẾ HỌC
Chương 2 – Các lực lượng cung cầu thị trường 1 CHƯƠNG 2
CÁC LỰC LƯỢNG CUNG CẦU THỊ TRƯỜNG
Khi một đợt giá lạnh đổ vào bang Florida, giá nước cam tăng trong các siêu thị trên toàn
quốc. Mỗi khi thời tiết vào mùa hè ấm lên ở bang New England, giá thuê phòng khách sạn ở
vùng Ca-ri -bê lập tức suy giảm. Khi một cuộc chiến tranh bùng nổ ở Trung Đông, giá xăng ở
Mỹ tăng và giá xe Cadillac cũ giảm xuống. Những biến cố này có điểm gì chung? Tất cả
chúng đều cho thấy sự
vận hành của cung và cầu.
Cung và cầu là hai từ mà các nhà kinh tế sử dụng thường xuyên nhất - và vì nguyên nhân rất
hợp lý. Cung và cầu là những lực lượng làm cho nền kinh tế thị trường hoạt động. Chúng
quyết định lượng của mỗi hàng hóa được sản xuất ra và giá mà nó được bán. Nếu muốn biết
một biến cố hoặc chính sách ảnh hưởng tới nền kinh tế như thế nào, thì trước hế
t bạn phải
nghĩ xem nó ảnh hưởng tới cung và cầu như thế nào.
Chương này giới thiệu lý thuyết về cung và cầu. Nó nghiên cứu hành vi của người bán và
người mua, cũng như sự tương tác giữa họ với nhau. Nó chỉ ra cách thức quyết định giá cả
của cung và cầu trong nền kinh tế thị trường, cũng như giá cả đến lượt nó lại phân bổ các
nguồn lực khan hiếm củ
a xã hội như thế nào.
THỊ TRƯỜNG VÀ CẠNH TRANH
Khái niệm cung và cầu được dùng để chỉ hành vi của con người khi họ tương tác với nhau
trên thị trường. Thị trường là một nhóm người bán và người mua một hàng hóa hoặc dịch vụ
nhất định. Với tư cách là một nhóm, người mua quyết định cầu về sản phẩm và với tư cách
một nhóm, người bán quyết định cung về sản phẩ
m. Trước khi thảo luận về hành vi của
khả năng kiểm soát hạn chế đối với giá cả vì những người bán khác đang chào bán các sản
phẩm tương tự. Người bán có ít lý do để bán với giá thấp hơn giá phổ biến trên thị trường, và
nếu anh ta bán với giá cao hơn, người mua sẽ mua hàng ở nơi khác. Tương tự, không một
người mua cá bi
ệt nào có thể tác động tới giá kem vì mỗi người chỉ mua một lượng nhỏ.
Trong chương này chúng ta sẽ tìm hiểu xem người mua và người bán tương tác với nhau như
thế nào trên thị trường cạnh tranh. Chúng ta sẽ nghiên cứu xem các lực lượng cung cầu quyết
định lượng hàng hóa bán ra và giá của nó như thế nào.
Sự cạnh tranh: hoàn hảo và không hoàn hảo
Trong chương này chúng ta giả định rằng các thị trường có tính cạnh tranh hoàn hảo. Thị
trường c
ạnh tranh hoàn hảo được định nghĩa là những thị trường có hai đặc tính quan trọng
nhất: (1) tất cả hàng hóa được chào bán là những hàng hóa như nhau, và (2) người mua và
người bán nhiều đến mức không có người bán hoặc người mua cá biệt nào có thể tác động tới
giá thị trường. Vì người bán và người mua trên thị trường cạnh tranh hoàn hảo phải chấp
nhận giá do thị trường quyết định, cho nên họ được coi là người nhận giá.
Có m
ột số thị trường trong đó giả định về sự cạnh tranh hoàn hảo hoàn toàn đúng. Chẳng hạn
trên thị trường lúa mỳ có hàng ngàn nông dân bán lúa mỳ và hàng triệu người tiêu dùng sử
dụng lúa mỳ và sản phẩm làm từ lúa mỳ. Vì không có người bán và người mua cá biệt nào tác
động được tới giá lúa mỳ, nên mọi người đều coi giá lúa mỳ là cho trước.
Tuy nhiên, không phải mọi hàng hóa và dịch vụ đều được bán trên các thị trường cạnh tranh
hoàn hả
o. Một số thị trường chỉ có một người bán và người bán này quy định giá cả. Người
bán này được gọi là nhà độc quyền. Chẳng hạn, công ty truyền hình cáp trong thị trấn của bạn
có thể là một nhà độc quyền. Người dân trong thị trấn của bạn có thể chỉ có một công ty
truyền hình cáp để họ mua dịch vụ này.
Một số thị trường nằm giữa hai trường hợp cự
c đoan là cạnh tranh hoàn hảo và độc quyền.
Một dạng thị trường trong số đó, cái được gọi là thị trường độc quyền nhóm, chỉ có một ít
i mà bạn có thể đưa ra.
Giá cả. Nếu giá kem tăng so với mức giá ban đầu là 20 xu một cốc, bạn sẽ mua ít kem hơn.
Thay vào đó, bạn có thể mua món sữa chua đông lạnh. Nếu giá kem giảm so với giá 20 xu
một cốc, bạn sẽ mua nhiều hơn. Vì lượng cầu về kem giảm khi giá tăng và tăng khi giá giảm,
nên chúng ta nói lượng cầu có quan hệ nghịch với giá cả. Mối quan hệ này giữa giá cả và
lượ
ng cầu đúng với hầu hết hàng hóa trong nền kinh tế. Trên thực tế, nó có tác dụng rộng rãi
đến mức các nhà kinh tế gọi nó là luật cầu: nếu các yếu tố khác không thay đổi, thì khi giá
một hàng hóa tăng, lượng cầu về hàng hóa đó sẽ giảm.
Thu nhập. Điều gì xảy ra đối với cầu về kem của bạn nếu bạn mất việc làm trong mùa hè?
Khả năng cao nhất là nó sẽ giả
m. Mức thu nhập thấp hơn hàm ý bạn có tổng mức chi tiêu
thấp hơn và vì vậy bạn chi tiêu ít hơn để mua một số hàng hóa - và có lẽ là hầu hết các hàng
hóa. Nếu cầu về một hàng hóa giảm khi thu nhập giảm, thì hàng hóa này được gọi là hàng
thông thường.
Không phải mọi hàng hóa đều là hàng thông thường. Nếu cầu về một hàng hóa tăng khi thu
nhập giảm, thì hàng hóa này được gọi là hàng cấp thấp. Việc đi xe buýt là mộ
t ví dụ về hàng
cấp thấp. Khi thu nhập của bạn giảm, có ít khả năng bạn sẽ mua một chiếc ô tô hay đi tắc xi,
mà có nhiều khả năng bạn sẽ đi xe buýt.
Giá các hàng hóa liên quan. Chúng ta hãy giả sử giá món sữa chua đông lạnh giảm. Luật
cầu nói rằng bạn sẽ mua nhiều sữa chua đông lạnh hơn. Đồng thời, có thể bạn sẽ mua ít kem
hơn. Vì kem và sữa chua đông lạnh là hai món tráng mi
ệng lạnh, ngọt và béo, nên chúng thỏa
mãn được những nguyện vọng tương tự nhau. Khi sự giảm giá của một hàng hóa làm giảm
lượng cầu về hàng hóa khác, chúng ta gọi hai hàng hóa này là hàng thay thế. Hàng thay thế
thường là một cặp hàng hóa được sử dụng thay thế cho nhau, chẳng hạn xúc xích nóng và
bánh mỳ kẹp thịt, áo thun và áo sơ mi, vé xem phim và tiền thuê viđiô.
Bây giờ chúng ta hãy giả sử giá món kẹo mềm nóng giảm. Theo luật cầu, bạn sẽ mua nhiều
k
1,00
1.50
2,00
2,50
3,00
Lượng cầu về kem
12
10
8
6
4
2
0
Bảng 1. Biểu cầu của Catherine. Biểu cầu chỉ ra lượng cầu tại mỗi mức giá.
Bảng 1 cho biết số cốc kem mà Catherine mua mỗi tháng tại các mức giá kem khác nhau.
Nếu kem được cung cấp miễn phí, Catherine sẽ ăn 12 cốc. Với giá 0,50 đô la một cốc,
Catherine mua 10 cốc. Khi giá tiếp tục tăng lên, cô mua ngày càng ít kem hơn. Khi mức giá
bằng 3đô la, Catherine không mua một cốc kem nào cả. Bảng 1 là một biểu cầu, tức một b
ảng
chỉ ra mối quan hệ giữa giá của một hàng hóa và lượng cầu. (Các nhà kinh tế sử dụng từ biểu
vì bảng này có các cột con số song song với nhau như một biểu ghi giờ tầu chạy).
ập của Catherine, thị hiếu, kỳ vọng và giá cả các hàng hóa có liên quan
không thay đổi.
Các nhà kinh tế sử dụng thuật ngữ ceteris paribus để nhấn mạnh rằng tất cả các biến số có
liên quan, trừ các biến số được nghiên cứu vào thời điểm đó, đều được giữ cho không thay
đổi. Thành ngữ la tinh này có nghĩa đen là “những cái khác không thay đổi”. Đường cầu dốc
xuống vì, nếu những cái khác không thay đổi, giá cả
thấp hơn hàm ý lượng cầu cao hơn.
Mặc dầu thuật ngữ những cái khác không thay đổi được áp dụng cho một tình huống giả định, trong
đó một số biến số được giả định là không thay đổi, nhưng trong thực tế, nhiều sự vật đồng thời thay
đổi. Vì lý do này, khi sử dụng các công cụ cung cầu để phân tích các biến cố hoặc chính sách, vấn đề
quan trọng là phải nhớ
rằng những cái gì được giữ cho không thay đổi, còn cái gì thì không.
Cầu thị trường và cầu cá nhân
Cho đến giờ chúng ta chỉ nói về cầu của một cá nhân về hàng hóa. Để phân tích phương thức vận
hành của thị trường, chúng ta cần xác định cầu thị trường, tức tổng các cầu cá nhân về một hàng
hóa hay một dịch vụ cụ thể.
Bảng 2 là biểu cầu về kem của hai cá nhân là Catherine và Nicholas. Biểu cầu củ
a Catherine
cho chúng ta biết lượng kem mà cô muốn mua và biểu cầu của Nicholas cho chúng ta biết
lượng kem mà anh muốn mua. Cầu thị trường là tổng cầu của hai cá nhân.
Vì cầu thị trường hình thành từ các cầu cá nhân, nên nó phụ thuộc vào tất cả các yếu tố quyết
định cầu của những người mua cá biệt. Cho nên, cầu thị trường phụ thuộc vào thu nhập của
người mua, thị hiếu, kỳ vọng và giá cả của các hàng hóa liên quan. Ngoài ra, nó còn phụ
thuộc vào số người mua. (Nếu có thêm người tiêu dùng khác là Peter cùng ăn kem với
Catherine và Nicholas, lượng cầu thị trường sẽ cao hơn tại mọi mức giá.) Biểu cầu trong bảng
2 cho thấy điều gì xảy ra đối với lượng cầu khi giá cả thay đổi, trong khi tất cả các biến số
khác quyết định lượng cầu đều được giữ cho không thay đổi.
Giá một cốc kem Catherine Nicholas
0,00 đô la 12 + 7
0,50 10 6
Hình 2. Cầu thị trường là tổng cầu của các cá nhân. Đường cầu của một thị trường được
xác định bằ
ng cách cộng theo phương nằm ngang tất cả các đường cầu cá nhân. Tại mức giá
0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
3.00
2.50
2.00
1.50
1.00
0,50
Giá kem
Cầu thị trường
NGUYÊN LÝ KINH TẾ HỌC
Chương 2 – Các lực lượng cung cầu thị trường 1 Sự dịch chuyển của đường cầu
Giả sử Hiệp hội Y tế Mỹ đột nhiên công bố một phát minh mới: những người ăn kem thường
xuyên sống lâu hơn, có sức khỏe tốt hơn. Công bố này ảnh hưởng tới thị trường kem như thế
nào? Phát minh trên đã làm thay đổi thị hiếu của mọi người và làm tăng cầu về kem. Tại mọi
mức giá, bây giờ ng
ười mua muốn mua lượng kem lớn hơn và đường cầu về kem dịch
chuyển sang phải.
Giá của các hàng hóa liên quan
Thị hiếu
Kỳ vọng
Số người mua
Di chuyển dọc theo đường cầu
Làm dịch chuyển đường cầu
Làm dịch chuyển đường cầu
Làm dịch chuyển đường cầu
Làm dịch chuyển đường cầu
Làm dịch chuyển đường cầu
Tóm lại, đường cầu cho thấy điều gì xảy ra với lượng cầu về một hàng hóa khi giá cả của nó
thay đổi và tất cả các yếu tố khác quyết định lượng cầu được giữ cho không thay đổi. Khi một
Đường cầu, D
3 Sự giảm sú
t
nhu cầu
Sự gia
tăng nhu cầu
0 Lượng kem
Giá kem
Đường cầu, D
1
Đường cầu, D
2
(a) Sự dịch chuyển của đường cầu
b) Sự di chuyển dọc theo đường cầu
C
A
2
D
1
D
2
1
sang D
2
. Tại mức giá bằng 2 đô
la một bao, lượng cầu giảm từ 20 xuống còn 10 điếu thuốc lá mỗ
i ngày. Ngược lại, nếu một
khoản thuế làm tăng giá thuốc lá, đường cầu không dịch chuyển. Thay vào đó, chúng ta quan sát
thấy sự di chuyển đến một điểm khác trên đường cầu. Trong phần (b), khi giá tăng từ 2 lên 4 đô
la, lượng cầu giảm từ 20 xuống còn 10 điếu thuốc lá mỗi ngày như được biểu thị bằng sự di
chuyển từ điểm A tới điểm C.
Một câu hỏi có liên quan là giá thuốc lá tác động như thế nào đối với cầu về một loại
thuốc hít bị cấm. Những người chống lại thuế thuốc lá thường lập luận rằng thuốc lá và
thuốc hít là những hàng hóa thay thế cho nhau, cho nên thuế thuốc lá cao làm cho mọi
người sử dụng thuốc hít nhiều hơn. Ngược lại, nhiều chuyên gia về sự lạm dụng ma túy
coi thuốc lá là loại “ma túy đầu tiên” d
ẫn thanh niên tới việc thử các loại ma túy độc hại
khác. Hầu hết các công trình nghiên cứu số liệu phù hợp với quan điểm này: chúng chỉ ra
rằng giá thuốc lá thấp có liên quan đến việc sử dụng nhiều thuốc hít hơn. Nói cách khác,
thuốc lá và thuốc hít có vẻ là những hàng hóa bổ sung, chứ không phải thay thế cho nhau.
Kiểm tra nhanh: Hãy nêu ra các yếu tố quyết định lượng bánh pizza mà bạn có cầu. Hãy đưa
ra một ví dụ về biểu cầu bánh pizza và vẽ đường cầu ngầm định. Hãy nêu ra một ví dụ về yếu
tố nào đó có thể làm dịch chuyển đường cầu. Sự thay đổi trong giá bánh pizza có làm dịch
chuyển đường cầu này không?
CUNG
Bây giờ chúng ta chuyển sang mặt khác của thị trường và xem xét hành vi của người bán.
Lượng cung của b
ất kỳ hàng hóa hay dịch vụ nào cũng là lượng mà người bán sẵn sàng và có
khả năng bán. Một lần nữa, để tập trung tư duy của bạn, chúng ta hãy xem xét thị trường kem
và phân tích các yếu tố quyết định lượng cung.
cung. Chẳng hạn việc sáng chế ra máy làm kem được cơ khí hóa đã làm giảm đáng kể lượng
lao động cần thiết để sản xuất kem. Nhờ cắt giảm chi phí của doanh nghiệp, tiến bộ công
nghệ làm tăng lượng cung về kem.
K
ỳ vọng. Lượng kem bạn cung ứng hôm nay có thể phụ thuộc vào kỳ vọng của bạn về tương
lai. Chẳng hạn, nếu dự kiến giá kem sẽ tăng trong tương lai, bạn sẽ chuyển một phần sản
lượng vào kho và hôm nay bạn cung ứng ít hơn ra thị trường.
Biểu cung và đường cung
Chúng ta hãy phân tích xem lượng cung thay đổi cùng với giá cả như thế nào khi giữ cho giá
đầu vào, công nghệ và kỳ vọng không thay đổi. B
ảng 4 chỉ ra lượng cung do Ben, một người
bán kem, cung ứng tại các mức giá kem khác nhau. Với mức giá dưới 1 đô la, Ben không
cung ứng một cốc kem nào cả. Khi giá cả tăng lên, anh ta cung cấp lượng kem ngày càng lớn
hơn. Bảng này được gọi là biểu cung.
Giá một cốc kem
0,00 đô la
0,50
1,00
1.50
2,00
2,50
3,00
Lượng cung về kem (cốc)
0
0
1
2
3
Chương 2 – Các lực lượng cung cầu thị trường 1
Hình 5. Đường cung của Ben. Đường cung này - một đường được vẽ dựa vào biểu cung
trong bảng 4 - chỉ ra rằng lượng cung về một hàng hóa thay đổi khi giá cả của nó thay đổi.
Vì giá cao hơn làm tăng lượng cung, nên đường cung dốc lên.
Đường cung cá nhân và đường cung thị trường
Cũng như cầu thị trường là tổng các cầu của tất cả người mua, cung thị trường là tổng các
lượng cung của tất cả ng
ười bán. Bảng 5 là biểu cung của hai nhà sản xuất kem là Ben và
Jerry. Tại bất kỳ mức giá nào, biểu cung của Ben cũng cho chúng ta biết lượng kem mà
anh ta muốn cung ứng và biểu cung của Jerry cho chúng ta biết lượng kem mà cô ta muốn
cung ứng. Cung thị trường là tổng mức cung của hai cá nhân.
Cung thị trường phụ thuộc vào tất cả các yếu tố tác động vào mức cung của những người bán
cá biệt như giá các đầu vào được sử dụng để s
ản xuất ra hàng hóa, công nghệ hiện có và kỳ
vọng. Ngoài ra, nó còn phụ thuộc vào số người bán. (Nếu Ben và Jerry thôi không bán kem
nữa, lượng cung của thị trường sẽ giảm xuống tới 0.) Biểu cung trong bảng 5 cho thấy điều gì
xảy ra đối với lượng cung khi giá cả thay đổi trong khi tất cả các biến số khác quyết định
lượng cung được giữ cho không thay đổi.
Giá một cốc kem Ben Jerry
0,00 đô la 0 + 0
0,50 0 0
1,00 1 0
1,50 2 2
2,00 3 4
2,50 4 6
3,00 5 8
Chương 2 – Các lực lượng cung cầu thị trường 1
Hình 6. Cung của thị trường là tổng các mức cung cá nhân. Đường cung của một thị
3.00
2.50
2.00
1.50
1.00
0,50
0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 Lựợng kem
Giá kem
0 1 2 3 4 5 6 7 Lượng kem
Giá kem
3.00
2.50
2.00
1.50
1.00
0
,
50
Cung của Ben Cung của Jerry
NGUYÊN LÝ KINH TẾ HỌC
Chương 2 – Các lực lượng cung cầu thị trường 1
Làm dịch chuyển đường cung
Làm dịch chuyển đường cung
Làm dịch chuyển đường cung
Làm dịch chuyển đường cung
Bảng 6 Các yếu tố quyết định lượng cung. Bảng này ghi các biến số có thể tác động tới
lượng cung trên một thị trường. Hãy chú ý tới vai trò đặc biệt của giá cả: sự thay đổi của giá
cả biểu thị sự di chuyển dọc theo đường cung, còn sự thay đổi của một trong các biến số còn
lại làm dịch chuyển đường cung.
Tóm lại, đường cung cho thấy điều gì xảy ra vớ
i lượng cung về một hàng hóa khi giá của nó
thay đổi nếu các yếu tố quyết định lượng cung khác được giữ cho không thay đổi. Khi một
trong các yếu tố khác này thay đổi, đường cung sẽ dịch chuyển.
Kiểm tra nhanh: Hãy nêu ra các yếu tố quyết định lượng cung bánh pizza. Hãy thiết lập một
biểu cung giả định cho bánh pizza và vẽ ra đường cung tương ứng. Hãy nêu ra một ví dụ về
S
3
S
1
S
2
Sự suy giảm
của cung
Sự gia tăng
của cung
0 Lượng kem
Giá kem
NGUYÊN LÝ KINH TẾ HỌC
và đường cầu cắt nhau. Tại mức giá cân bằng, lượng cung bằng lượng cầu. Trong trường
hợp của chúng ta, giá cân bằng là 2 đô la: tại mức giá này, 7 cốc kem được cung ứng và 7
cốc kem có cầu
Trong từ điển, từ trạng thái cân bằng được định nghĩa là một tình huống trong đó các lực
lượng khác nhau cân bằng v
ới nhau - và từ này cũng được dùng để mô tả trạng thái cân bằng
của thị trường. Tại mức giá cân bằng, lượng hàng hóa mà người mua sẵn sàng và có khả
năng mua đúng bằng lượng hàng hóa mà người bán sẵn sàng và có khả năng bán. Giá cân
bằng đôi khi còn được gọi là giá làm cân bằng cung cầu, vì tại mức giá này, mọi người trên
thị trường đều thỏa mãn: người mua đã mua được tất cả những thứ
họ muốn mua, còn người
bán đã bán được tất cả những thứ mà họ muốn bán.
Hành động của người mua và người bán đương nhiên làm cho thị trường chuyển tới trạng thái
cân bằng cung cầu. Để hiểu tại sao, chúng ta hãy xem xét điều gì xảy ra khi giá thị trường
không bằng giá cân bằng.
Trước hết chúng ta hãy giả sử giá thị trường nằm trên giá cân bằng như trong phần (a) của
hình Tại mức giá 2,5 đô la m
ột cốc kem, lượng hàng hóa được cung ứng (10 cốc kem) vượt
quá lượng cầu (4 cốc kem). Thị trường có sự thặng dư về hàng hóa: các nhà cung cấp không
Lượng cân bằng
Giá cân bằng
Trạng thái cân bằng
Cầu
Cung
2.00
bằng của nó. Dĩ nhiên, hiện tượng này phổ biến đến mức đôi khi nó được gọi là quy luật
cung cầu: giá cả của bất kỳ hàng hóa nào cũng điều chỉnh để làm cho cung và cầu về nó
cân bằng nhau.
Hình 9. Thị trường không nằm trong trạng thái cân bằng. Trong phần (a), th
ị trường
có sự thặng dư. Vì giá thị trường 2,5 đô la nằm ở trên mức giá cân bằng, nên lượng cung
Cầu
Cung
NGUYÊN LÝ KINH TẾ HỌC
Chương 2 – Các lực lượng cung cầu thị trường 1 (10 cốc kem) vượt quá lượng cầu (4 cốc kem). Các nhà cung cấp tìm cách tăng mức bán
ra bằng cách cắt giảm giá kem và điều này làm cho giá chuyển tới mức cân bằng. Trong
phần (b), thị trường có sự thiếu hụt. Vì giá thị trường 1,5 đô la nằm ở dưới mức giá cân
bằng, nên lượng cầu (10 cốc kem) vượt quá lượng cung (4 cốc kem). Vì có quá nhiều
người mua tìm mua lượng hàng quá ít, nên các nhà cung cấp lợi dụng tình trạng thiếu hụt
để t
ăng giá. Bởi vậy trong cả hai trường hợp, sự điều chỉnh của giá cả đều chuyển thị
trường tới trạng thái cân bằng cung cầu.
Ba bước để phân tích những thay đổi trong trạng thái cân bằng
Cho đến nay chúng ta đã nhận thấy cung và cầu cùng nhau quyết định trạng thái cân bằng thị
trường như thế nào và đến lượt nó, trạng thái cân bằng này lại quyết định giá và lượng hàng
hóa mà người mua mu
ốn mua và người bán muốn sản xuất ra. Dĩ nhiên, giá và lượng cân
bằng phụ thuộc vào vị trí của đường cung và đường cầu. Khi một biến cố nào đó làm dịch
chuyển một trong hai đường này, trạng thái cân bằng trên thị trường sẽ thay đổi. Việc phân
tích sự thay đổi như vậy được gọi là phương pháp so sánh tĩnh vì nó liên quan đến việc so
sánh hai trạng thái tĩnh - trạng thái cân bằng cũ và trạng thái cân bằng mớ
i.
1. Xác định xem sự kiện xảy ra tác động tới đường cung, đường cầu (hoặc có thể
cả hai).
2. Xác định hướng dịch chuyển của các đường
3. Sử dụng đồ thị cung cầu để xác định xem sự dịch chuyển tác động tới trạng thái
cân bằng như thế nào.
Bảng 7. Chương trình ba bước trong quá trình phân tích những thay đổi của trạng thái
Sự dịch chuyển của một đường và sự di chuyển dọc theo một đường. Hãy chú ý rằng khi
thời tiết oi bức đẩy giá kem lên, lượng kem mà các doanh nghiệp cung ứng tăng, cho dù
đường cung vẫn ở vị trí cũ. Trong một số tình huống, các nhà kinh tế nói rằng có sự gia tăng
của “lượng cung” nhưng không có sự thay đổi của “cung”.
Hình 10. Sự gia tăng của cầu ảnh hưởng đến tr
ạng thái cân bằng như thế nào. Một biến
cố làm tăng lượng cầu tại mọi mức giá sẽ làm dịch chuyển đường cầu sang phải. Cả giá và
lượng cân bằng đều tăng. Trong ví dụ của chúng ta, mùa hè oi bức bất thường làm cho người
mua có cầu cao hơn về kem. Đường cầu dịch chuyển từ D
1
tới D
2
Trạng thái cân
bằng mới
Trạng thái
cân bằng
ban đầu D
2 D
1 Cầu 2.50
2.00
2 gây ra
mức giá cao
hơn
Giá kem
NGUYÊN LÝ KINH TẾ HỌC
Chương 2 – Các lực lượng cung cầu thị trường 1 giá. Đường cầu không thay đổi vì trận động đất không trực tiếp làm thay đổi lượng kem
mà mọi người muốn mua.
1
tới S
2
, làm cho giá cân bằng
tăng từ 2 lên 2,5 đô la và lượng cân bằng giảm từ 7 cốc kem xuống chỉ còn 4 cốc kem
Ví dụ: sự thay đổi của cả cung và cầu. Bây giờ chúng ta giả sử thời tiết oi bức và trận động
đất đồng thời xảy ra. Để phân tích tác động t
ổng hợp của cả hai sự kiện này, chúng ta vẫn
tuân thủ quy tắc ba bước của mình.
1. Chúng ta nhận định rằng cả hai đường đều dịch chuyển. Thời tiết oi bức tác động tới
đường cầu vì nó làm thay đổi lượng kem mà các hộ gia đình muốn mua tại mọi mức giá
cho trước. Đồng thời, trận động đất làm thay đổi đường cung vì nó làm thay đổi lượng
kem mà các doanh nghiệp muốn bán tại mọi mứ
c giá cho trước.
2. Hai đường dịch chuyển theo hướng giống như trong phân tích trên đây của chúng ta:
đường cầu dịch sang phải và đường cung dịch sang trái. Hình 12 minh họa cho sự dịch
chuyển này.
Cầu
S
2
Trạng thái cân
bằng ban đầu
Trạng thái cân
bằng mới
0 4 7
L
ượng kem
3. và lượng hàng
bán ra thấp hơn
Hình 12. Sự dịch chuyển của cả đường cầu và đường cung. Trong tình huống này
chúng ta quan sát thấy có cả sự gia tăng của cầu và sự suy giảm của cung. Hai kết cục có
thể xảy ra. Trong phần (a), giá cân bằng tăng từ P
1
lên P
2
và lượng cân bằng tăng từ Q
1
lên Q
2
. Trong phần (b), giá cân bằng vẫn tăng từ P
1
lên P
2
, nhưng lượng cân bằng giảm
từ Q
1
xuống Q
2
.
P
2
Giá ke
m
S
2
S
1
D
2
(a) Giá tăng, lượng tăng
D
2
P
1
S
1
S
2
D
1
Cân bằng ban đầu
Cung giảm mạnh
P tăng
Q giảm
Sự gia tăng của cầu
P tăng
Q tăng
P không rõ ràng
Q tăng
P tăng
Q không rõ ràng
Sự giảm sút của cầu
P giảm
Q giảm
P giảm
Q không rõ ràng
P không rõ ràng
Q giảm
Bảng 8. Điều gì xảy ra đối với giá và lượng khi đường cung hoặc đường cầu dịch chuyển.
Kiểm tra nhanh. Hãy phân tích xem điều gì xảy ra đối với thị trường bánh pizza nếu giá cà
chua tăng. Hãy phân tích xem điều gì xảy ra đối với thị trường bánh pizza nếu giá bánh
hambuger giảm.
KẾT LUẬN: GIÁ CẢ PHÂN BỔ NGUỒN LỰC NHƯ THẾ NÀO?
Chương này đã phân tích cung và cầu trong một thị trường duy nhấ
t. Mặc dù phần trình bày
của chúng ta tập trung vào thị trường kem, nhưng những bài học thu được ở đây cũng có thể
áp dụng cho hầu hết các thị trường khác. Mỗi khi đến cửa hàng mua một cái gì đó, bạn đóng
góp vào cầu về nó. Khi tìm việc làm, bạn đóng góp vào mức cung về dịch vụ lao động. Vì
cung và cầu là hiện tượng kinh tế rộng khắp như thế, nên mô hình cung cầu là một công cụ
phân tích mạ
nh mẽ. Chúng ta sẽ sử dụng mô hình này nhiều lần trong các chương sau.
Một trong Mười Nguyên lý của kinh tế học trình bày trong chương 1 là: thị trường thường là
Nếu một cá nhân chưa bao giờ nhìn thấy nền kinh tế thị trường trong thực tế, thì toàn bộ ý
tưởng này có vẻ vô lý. Nền kinh tế là một tập đoàn người tham gia vào nhiều hoạt động phụ
thuộc lẫn nhau. Cài gì làm cho các quy
ết định phi tập trung không rơi vào tình trạng hỗn
loạn? Cái gì phối hợp hoạt động của hàng triệu con người với năng lực và nguyện vọng khác
nhau? Yếu tố nào đảm bảo rằng cái cần làm sẽ thực sự được làm? Câu trả lời là giá cả. Nếu
nền kinh tế được dẫn dắt bởi bàn tay vô hình như câu nói nổi tiếng của Adam Smith, thì hệ
thống giá cả là cây gậy mà bàn tay vô hình sử d
ụng để chỉ huy dàn nhạc kinh tế.
TÓM TẮT
○ Các nhà kinh tế sử dụng mô hình cung cầu để phân tích các thị trường cạnh tranh. Trong
thị trường cạnh tranh có nhiều người bán và người mua, mỗi người chỉ có ảnh hưởng rất
nhỏ hoặc không có ảnh hưởng đối với giá thị trường.
○ Đường cầu cho biết lượng cầu về một hàng hóa phụ thuộc vào giá cả như thế nào. Theo
luật cầu thì khi giá của một hàng hóa giảm, lượng cầu về nó sẽ tăng. Bởi vậy, đường cầu
dốc xuống.
○ Ngoài giá cả, các yếu tố khác quyết định lượng cầu bao gồm thu nhập, thị hiếu, kỳ vọng
và giá của các hàng hóa thay thế hoặc bổ sung. Nếu một trong các yếu tố này thay đổi,
đường cầu sẽ dịch chuyển.
○ Đường cung cho biết lượng cung về một hàng hóa phụ thuộc vào giá cả như thế nào.
Theo luật cung thì khi giá của một hàng hóa tăng, lượng cung về nó sẽ tăng. Bởi vậy,
đường cung dốc lên.
○ Ngoài giá cả, các yếu tố khác quyết định lượng cung bao gồm giá các đầu vào, công nghệ
và kỳ vọng. Nếu một trong các yếu tố này thay đổi, đường cung sẽ dịch chuyển.
○ Giao điểm của đường cung và đường cầu quyết định trạng thái cân bằng của thị trường.
Tại mức giá cân bằng, lượng cung bằng lượng cầu.
○ Hành vi của người mua và người bán đương nhiên thúc đẩy thị trường thay đổi theo
hướng tiến tới trạng thái cân bằng. Khi giá thị trường nằm trên giá cân bằng, sẽ xuất
hiện sự thặng dư hàng hóa và điều này làm cho giá thị trường giảm. Khi giá thị trường
nằm dưới giá cân bằng, sẽ xuất hiện sự thiếu hụt hàng hóa và điều này làm cho giá thị
Luật cầu Law of demand
Luật cung Law of supply
Những cái khác không thay đổi Ceteris paribus
Quy luật cung cầu Law of demand and supply
Sự thặng dư Surplus
Sự thiếu hụt Shortage
Thị trường cạnh tranh Competitive market
Thị trường Market
Trạng thái cân bằng Equilibrium