NGUYÊN LÝ KINH TẾ HỌC
Chương 4 – Cung, cầu và chính sách của chính phủ 1 CHƯƠNG 4
CUNG, CẦU VÀ CHÍNH SÁCH CỦA CHÍNH PHỦ
Các nhà kinh tế đóng hai vai trò. Là nhà khoa học, họ xây dựng và thử nghiệm các lý
thuyết để lý giải thế giới xung quanh mình. Là nhà hoạch định chính sách, họ sử dụng lý
thuyết của mình với mục đích làm cho thế giới trở nên tốt đẹp hơn. Hai chương vừa qua
đã tập trung vào vai trò nhà khoa học. Chúng ta đã thấy cung và cầu quyết định giá cả và
lượng hàng hóa bán ra như thế nào. Chúng ta cũng
đã thấy các sự kiện khác nhau làm
thay đổi cung và cầu, qua đó làm thay đổi giá và lượng cân bằng như thế nào.
Chương này đem lại cho chúng ta một cái nhìn ban đầu về chính sách. Ở đây, chúng ta phân
tích các loại chính sách khác nhau của chính phủ hoàn toàn bằng công cụ cung và cầu. Như
các bạn sẽ thấy, phương pháp phân tích này đem lại một số hiểu biết đáng ngạc nhiên. Các
chính sách thường gây ra các hậu quả mà các nhà hoạch định ra chúng không mong đợi hay
dự kiến trướ
c.
Chúng ta bắt đầu bằng việc xem xét các chính sách kiểm soát giá cả trực tiếp. Ví dụ, luật về
kiểm soát tiền thuê nhà quy định mức tiền thuê tối đa mà chủ nhà được phép thu từ người
thuê nhà. Luật về tiền lương tối thiểu quy định tiền lương thấp nhất mà các doanh nghiệp
được phép trả cho công nhân. Những quy định về kiểm soát giá cả thường được đưa ra khi
các nhà hoạch định chính sách tin rằng giá thị tr
ường của một hàng hóa hay dịch vụ nào đó
không công bằng đối với người mua hoặc người bán. Song như chúng ta sẽ thấy, chính các
chính sách này cũng có thể tạo ra sự bất công.
Sau khi đã thảo luận về các biện pháp kiểm soát giá cả, chúng ta sẽ xem xét ảnh hưởng của
Tất nhiên, do người mua bất kỳ hàng hóa nào cũng muốn có giá thấp hơn trong khi người bán
lại muốn bán với giá cao hơn, cho nên lợi ích của hai nhóm người này xung đột nhau. Nếu
nhóm người ăn kem thành công trong việc vận động hành lang, chính phủ sẽ thông qua một
mức giá tối đa cho kem, gọ
i là trần giá. Nếu nhóm các nhà sản xuất kem thành công, chính
phủ sẽ thông qua một mức giá tối thiểu, gọi là sàn giá. Chúng ta sẽ lần lượt xem xét ảnh
hưởng của các chính sách này.
Ảnh hưởng của trần giá tới kết quả hoạt động của thị trường
Khi chính phủ áp đặt một mức trần giá cho thị trường kem do bị mủi lòng vì những lời ca
thán của người ăn kem, hai kết cụ
c có thể xảy ra. Trong phần (a) của hình 1, chính phủ định
mức trần giá là 4 đô la một chiếc kem. Trong trường hợp này, trần giá được coi là không ràng
buộc do giá cân bằng cung cầu (3 đô la) thấp hơn trần giá. Các lực lượng thị trường sẽ đẩy
nền kinh tế về trạng thái cân bằng một cách tự nhiên và trần giá không gây ra ảnh hưởng gì.
Phần (b) của hình 1 chỉ ra một khả năng khác thú vị hơn. Trong trường h
ợp này, chính
phủ ấn định trần giá là 2 đô la một chiếc kem. Do giá cân bằng là 3 đô la cao hơn trần giá,
nên trần giá này không phải là một điều kiện ràng buộc trên thị trường. Các lực lượng
cung cầu có xu hướng đẩy giá cả về mức giá cân bằng. Nhưng khi giá thị trường đụng vào
trần giá, nó không thể tăng cao hơn nữa. Do đó, giá thị trường phải bằng trần giá. Tại mức
giá này, lượ
ng cầu về kem (125 chiếc như trong hình vẽ) vượt quá lượng cung về kem (75
chiếc). Do xảy ra tình trạng thiếu hụt kem, nên một số người muốn mua kem ở mức giá
cao hơn không mua được kem.
Khi tình hình thiếu hụt kem xảy ra do tác động của trần giá, một cơ chế nào đó sẽ tự nhiên
phát sinh để phân phối lượng kem này. Cơ chế này có thể là nguyên tắc xếp hàng: Những
người mua sẵn sàng đến sớm và chờ đợ
i sẽ mua được kem, trong khi những người không
sẵn sàng chờ đợi không mua được kem. Hoặc người bán có thể phân phối số kem này theo
sự thiên vị cá nhân của họ, chẳng hạn chỉ bán cho bạn bè, họ hàng, người cùng dân tộc
Hình 1. Thị trường với trần giá. Trong phần (a), chính phủ định mức trần giá là 4 đô la.
Do mức trần giá này cao hơn giá cân bằng là 3 đô la, nên nó không có tác dụng gì và thị
trường có thể đạt tới trạng thái cân bằng cung cầu. Tại trạng thái cân bằng, lượng cung
bằng lượng cầu là 100 chiếc kem. Trong phần (b), chính phủ định ra trần giá là 2 đô la. Do
trần giá này thấp hơn giá cân bằng là 3 đô la, nên giá thị trường chỉ là 2 đ
ô la. Tại mức giá
này, lượng cầu bằng 125 chiếc kem nhưng lượng cung chỉ bằng 75 chiếc kem. Do vậy, mức
thiếu hụt là 50 chiếc kem.
NGHIÊN CỨU TÌNH HUỐNG: XẾP HÀNG TẠI TRẠM XĂNG
Như chúng ta đã phân tích trong chương trước, vào năm 1973 Tổ chức Các nước Xuất khẩu
Dầu mỏ (OPEC) đã làm tăng giá dầu trên thị trường dầu thô thế giới. Do dầu thô là đầu vào
chủ yếu dùng để sản xuất xăng, nên giá dầu thô cao hơn đã làm giảm cung về xăng. Tình
trạng xếp hàng dài trước các trạm xăng trở nên phổ biến và lái xe thường phải chờ đợi hàng
giờ chỉ
để mua được vài thùng xăng.
Ai phải chịu trách nhiệm về tình trạng xếp hàng dài để mua xăng này? Hầu hết mọi người đổ
lỗi cho OPEC. Chắc chắn là nếu OPEC không làm tăng giá dầu thô, thì tình trạng thiếu xăng
không xảy ra. Thế nhưng các nhà kinh tế lại đổ lỗi cho các quy định của chính phủ nhằm giới
hạn giá mà các công ty xăng dầu được phép tính cho xăng.
Cung
Giá trần
0 100 Lượng kem
Lượng xăng
Giá
xăng
P
1
Cầu
1. Ban
đ
ầ
u gi
á
trần
không có
tính ràng
buộc,
(a) Giá trần không ràng buộc của xăng NGUYÊN LÝ KINH TẾ HỌC
Chương 4 – Cung, cầu và chính sách của chính phủ 4
. Mức chênh lệch
giữa lượng cầu và lượng cung Q
D
- Q
S
chính là lượng xăng bị thiếu hụt.
Hình 2 cho biết điều gì đã xảy ra. Như được minh họa trong phần (a), trước khi OPEC làm
tă
ng giá dầu thô, giá cân bằng của xăng là P
1
, thấp hơn trần giá. Do đó, quy định về giá cả
không có tác dụng gì. Tuy nhiên, khi giá dầu thô tăng lên thì tình hình thay đổi. Việc dầu thô
lên giá làm tăng chi phí sản xuất xăng và điều này làm giảm cung về xăng. Phần (b) cho thấy,
sự dịch chuyển sang trái của đường cung từ S
1
tới S
2
đã làm tăng giá cân bằng. Trong thị
trường không bị kiểm soát, sự dị
ch chuyển của đường cung này sẽ làm tăng giá xăng cân
bằng từ P
1
lên P
2
, và kết quả là không có tình trạng thiếu hụt xăng. Song trần giá đã ngăn
cản không cho giá tăng lên đến mức cân bằng. Tại mức trần giá này, các nhà sản xuất chỉ sẵn
sàng bán lượng Q
S
và người tiêu dùng sẵn sàng mua lượng Q
D
Giá
xăng
P
2
P
1
4. gây
ra thiếu
hụt NGUYÊN LÝ KINH TẾ HỌC
Chương 4 – Cung, cầu và chính sách của chính phủ 5 thuê nhà. Mục tiêu của chính sách này là trợ giúp người nghèo thông qua việc làm cho nhà ở
trở nên rẻ hơn. Các nhà kinh tế thường chỉ trích chính sách kiểm soát tiền thuê nhà này với
lập luận rằng đó là một cách kém hiệu quả để giúp người nghèo nâng cao mức sống. Một nhà
kinh tế đã gọi chính sách kiểm soát tiền thuê nhà là “cách tốt nhất để phá hủy một thành phố,
ngoài ném bom”.
Quảng đại quần chúng không thấy ngay những tác động tiêu cực của chính sách kiểm soát
tiề
n thuê nhà, bởi vì chúng chỉ xảy ra sau nhiều năm. Trong ngắn hạn, chủ nhà chỉ có một số
lượng các căn hộ cho thuê cố định và họ không thể nhanh chóng thay đổi con số này khi tình
hình thị trường thay đổi. Hơn nữa, số người muốn thuê nhà trong một thành phố có thể không
phản ứng mạnh đối với tiền thuê nhà trong ngắn hạn, bởi vì người ta cần có thời gian để điều
chỉnh nhà ở c
ủa mình. Do đó trong ngắn hạn, cung và cầu về nhà ở tương đối ít co giãn.
Phần (a) của hình 3 chỉ rõ các tác động ngắn hạn của chính sách kiểm soát tiền thuê nhà đối
với thị trường nhà ở. Cũng như với bất kỳ trần giá nào, chính sách kiểm soát tiền thuê nhà
(thay vì sống với cha mẹ hay thuê chung với người khác) và gây ra tình trạng ngày càng có
nhiều người đổ về thành phố. Do đó, cả cung và cầu đều co giãn nhiều hơn trong dài hạn.
Tiền thuê bị
kiểm soát
thiếu hụt
Cầu
Cung
0 Lượng căn hộ
Tiền
thuê
căn
hộ
(b) Kiểm soát tiền thuê nhà trong dài hạn
(cung và cầu co giãn mạnh)
(a) Kiểm soát tiền thuê nhà trong ngắn
hạn (cung và cầu ít co giãn)
thiếu hụt
Cầu
Cung
Tiền thuê bị
kiểm soát
0 Lượng căn hộ
Tiền
thuê căn
hộ
Ngược lại, nếu chính sách kiểm soát tiền thuê nhà bị bãi bỏ và thị trường nhà ở được điều tiết
bởi các lực lượng cạnh tranh, nh
ững đạo luật như trên sẽ trở nên ít cần thiết hơn. Trong thị
trường tự do, tiền thuê nhà tự điều chỉnh để loại trừ tình trạng thiếu hụt - một nguyên nhân
gây ra nhiều hành vi không mong muốn của người cho thuê nhà. Tác động của sàn giá tới kết cục thị trường
Để xem xét ảnh hưởng của một loại chính sách kiểm soát giá khác của chính phủ, chúng ta
hãy quay lại với thị trường kem. Bây giờ chúng ta hãy tưởng tượng ra rằng chính phủ bị
thuyết phục bởi những lời khẩn cầu do Tổ chức Quốc gia của các nhà sản xuất Kem đưa ra.
Trong trường hợp này, chính phủ có thể thiết lập một sàn giá. Sàn giá, cũng nh
ư trần giá, là
một cố gắng của chính phủ nhằm duy trì giá cả ở một mức khác với mức giá cân bằng. Trong
khi trần giá áp đặt mức tối đa cho giá cả, thì sàn giá lại áp đặt mức tối thiểu.
Khi chính phủ quy định sàn giá cho thị trường kem, hai khả năng có thể xảy ra. Nếu chính
phủ áp đặt sàn giá 2 đô la một chiếc kem trong khi giá cân bằng là 3 đô la, chúng ta sẽ có kết
quả như trong phần (a) của hình 4. Trong tr
ường hợp này, sàn giá không có tính ràng buộc
bởi vì giá cân bằng cao hơn sàn giá. Các lực lượng thị trường sẽ đẩy nền kinh tế tới trạng thái
cân bằng một cách tự nhiên và sàn giá không có tác đụng gì.
Phần (b) của hình 4 cho thấy điều gì xảy ra khi chính phủ áp đặt sàn giá bằng 4 đô la một
chiếc kem. Trong trường hợp này, sàn giá có tính chất ràng buộc trên thị trường bởi vì giá cân
bằng 3 đô la thấp hơn sàn giá. Các lực lượng cung cầu có xu hướng đẩy giá th
ị trường về mức
cân bằng, nhưng khi chạm sàn, nó không thể xuống thấp hơn nữa. Giá thị trường phải bằng
sàn giá. Tại mức sàn giá này, lượng kem cung ra (120 chiếc) vượt quá lượng cầu (80 chiếc). NGUYÊN LÝ KINH TẾ HỌC
Hình 4. Thị trường với sàn giá. Trong phần (a), chính phủ áp đặt sàn giá b
ằng 2 đô la. Vì
sàn giá thấp hơn giá cân bằng là 3 đô la, nên nó không có tác động gì. Giá thị trường điều
chỉnh để cân bằng cung cầu. Tại mức giá cân bằng, cả lượng cung và lượng cầu đều là 100
chiếc. Trong phần (b), chính phủ áp đặt sàn giá bằng 4 đô la, cao hơn giá cân bằng là 3 đô
la. Do đó, giá thị trường là 4 đô la. Do có 120 chiếc kem được cung ứng tại mức giá này
trong khi lượng cầu chỉ bằng 80 chiếc kem, nên mức thặng d
ư bằng 40 chiếc kem.
Cung
Giá sàn
0 100 Lượng kem
(lượng cân bằng)
Giá
kem
3$
2$
Cầu
vào năm 1938 nhằm đảm bảo cho người lao động một mức sống tối thiểu. Vào năm 1996,
tiền lương tối thiểu theo luật Liên bang là 4,75 đô la/giờ. Một số bang còn có tiền lương tối
thiểu cao hơn.
Để phân tích tác động của tiền lương tối thiểu, chúng ta hãy xem xét thị trường lao động.
Phần (a) của hình 5 mô tả thị trường lao động phụ thuộc vào cung và cầu như tất cả các th
ị
trường khác. Người lao động quyết định cung về lao động và các doanh nghiệp quyết định
cầu về lao động. Nếu chính phủ không can thiệp, tiền lương sẽ điều chỉnh để cân bằng cung
và cầu về lao động.
Hình 5. Tiền lương tối thiểu ảnh hưởng tới thị trường lao động như thế nào. Phần (a) mô
tả thị trường lao độ
ng trong đó tiền lương điều chỉnh để cân bằng cung và cầu về lao động.
Phần (b) chỉ ra ảnh hưởng của tiền lương tối thiểu có tính ràng buộc. Do tiền lương tối thiểu
là một loại sàn giá, nên nó gây ra sự thặng dư: Lượng cung về lao động vượt quá lượng cầu.
Kết quả là tình trạng thất nghiệp.
Phần (b) của hình 5 mô tả thị trường lao động vớ
i tiền lương tối thiểu. Nếu tiền lương tối
lương
W cân
bằng
(a) Thị trường lao động tự do NGUYÊN LÝ KINH TẾ HỌC
Chương 4 – Cung, cầu và chính sách của chính phủ 9 Tiền lương tối thiểu có tác động mạnh nhất đối với thị trường lao động thanh niên (tuổi
dưới 20). Tiền lương cân bằng cho đối tượng lao động này có xu hướng thấp vì họ nằm
trong số những người lao động có ít kỹ năng và kinh nghiệm nhất trong lực lượng lao
động. Hơn nữa, họ thường chấp nhận tiền lương thấp hơn để đổi lấy việc
được đào tạo
qua công việc. (Trên thực tế, có những lao động trẻ sẵn sàng làm việc với tư cách “người
học việc” không ăn lương. Bởi vì học việc thì không được trả lương, nên tiền lương tối
thiểu không áp dụng đối với họ. Nếu được áp dụng, các công việc như thế có thể không
tồn tại). Kết quả là tiền lương tối thiểu thường có tính ràng buộ
c nhiều hơn đối với lao
động thanh niên so với các đối tượng khác của lực lượng lao động.
Nhiều nhà kinh tế đã phân tích ảnh hưởng của luật về tiền lương tối thiểu đối với thị
trường lao động thanh niên. Các nhà nghiên cứu này so sánh sự thay đổi tiền lương tối
thiểu theo thời gian với sự thay đổi của mức sử dụng lao động thanh niên. Cho dù còn có
sự tranh cãi nào đó về vi
ệc tiền lương tối thiểu ảnh hưởng ở mức nào tới công ăn việc
làm, kết quả nghiên cứu tình huống điển hình vẫn cho thấy rằng khi tiền lương tối thiểu
tăng 10 phần trăm, mức sử dụng lao động thanh niên giảm từ 1 đến 3 phần trăm. Để hiểu
được con số ước tính này, chúng ta cần chú ý rằng mức tăng tiền lương tối thiể
ằng tiền lương tối thiểu là một chính sách không nhằm đúng đối tượng. Không phải tất
cả những người lao động ăn lương tối thiểu là chủ hộ gia đình đang cố gắng giúp gia đình
họ thoát khỏi đói nghèo. Nhiều người ăn lương tối thiểu là thanh niên thuộc tầng lớp
trung lưu, họ làm các công việc phụ để có thêm tiền tiêu vặt. NGUYÊN LÝ KINH TẾ HỌC
Chương 4 – Cung, cầu và chính sách của chính phủ 10
Đánh giá chính sách kiểm soát giá
Một trong Mười Nguyên lý của kinh tế học thảo luận ở chương 1 nói rằng thị trường thường là
cách tốt để tổ chức hoạt động kinh tế. Nguyên lý này lý giải tại sao hầu hết các nhà kinh tế luôn
phản đối các chính sách quy định trần giá và sàn giá. Đối với các nhà kinh tế, giá cả không phải
là kết quả của một quá trình lộn xộn, tự phát nào đó. Họ cho rằng, giá cả
là kết quả của hàng
triệu quyết định do các doanh nghiệp và người tiêu dùng ẩn sau đường cung và đường cầu đưa
ra. Giá cả có nhiệm vụ quan trọng là cân bằng cung và cầu, qua đó điều phối hoạt động kinh tế.
Khi các nhà hoạch định chính sách định giá bằng pháp luật, họ làm mờ các tín hiệu mà thông
thường có tác dụng định hướng quá trình phân phối nguồn lực xã hội.
Một nguyên lý khác trong Mười Nguyên lý của kinh tế học
là đôi khi chính phủ có thể cải
thiện kết cục thị trường. Trên thực tế, các nhà hoạch định chính sách kiểm soát giá vì họ cho
rằng kết quả hoạt động của thị trường không công bằng. Chính sách kiểm soát giá thường
nhằm giúp đỡ người nghèo. Ví dụ, luật về kiểm soát tiền thuê nhà cố gắng làm cho ai cũng có
nhà ở và luật về tiền lương tối thiểu thì tìm cách giúp mọi người thoát khỏi cảnh
đói nghèo.
Thế nhưng chính sách kiểm soát giá thường gây tổn hại cho những người cần được trợ giúp.
NGUYÊN LÝ KINH TẾ HỌC
Chương 4 – Cung, cầu và chính sách của chính phủ 11 Để có cơ sở phân tích, chúng ta hãy tưởng tượng ra rằng chính quyền địa phương quyết định
tổ chức một lễ hội kem hàng năm - có diễu hành, pháo hoa, và quan chức đọc diễn văn. Để có
nguồn thu phục vụ cho sự kiện này, người ta quyết định đánh thuế 0,5 đô la trên mỗi chiếc
kem bán ra. Khi kế hoạch được thông báo, có hai nhóm vận động hành lang vào cuộc. Tổ
chức Quốc gia các nhà sản xuất kem cho rằng hộ
i viên của họ đang phải vật lộn để tồn tại
trên thị trường cạnh tranh và họ đề nghị người mua kem phải nộp khoản thuế đó. Hiệp hội
những người ăn kem Mỹ cho rằng người tiêu dùng kem đang túng quẫn và yêu cầu người bán
kem phải nộp thuế. Vì hy vọng đạt được một sự thỏa hiệp, nên ông thị trưởng nêu ra ý kiến là
m
ột nửa số thuế sẽ do người bán chịu và nửa còn lại sẽ do người mua chịu.
Để phân tích các đề xuất này, chúng ta phải nghiên cứu vấn đề đơn giản, nhưng không dễ
phát hiện: Khi chính phủ đánh thuế vào hàng hóa, ai là người chịu gánh nặng thuế khóa này?
Người mua hàng? Người bán hàng? Hay, nếu người mua và người bán cùng chia xẻ gánh nặng
thuế, thì điều gì quyết định cách phân chia? Liệu chính phủ có thể quy định đơn giản vi
ệc phân
chia này như ông thị trưởng đề xuất, hay sự phân chia được quyết định bởi các lực lượng cơ
bản hơn trong nền kinh tế? Các nhà kinh tế sử dụng thuật ngữ điểm rơi của thuế để chỉ vấn đề
phân chia gánh nặng thuế. Như chúng ta sẽ thấy, chúng ta có thể rút ra được một số bài học
đáng ngạc nhiên về ảnh hưởng của thuế ch
ỉ bằng cách sử dụng công cụ cung và cầu.
Thuế đánh vào người mua tác động thế nào đến kết cục thị trường?
Đầu tiên chúng ta hãy xem xét khoản thuế đánh vào người mua hàng. Giả dụ, chính quyền
địa phương thông qua một đạo luật quy định người mua kem phải trả cho chính phủ 0,5
. NGUYÊN LÝ KINH TẾ HỌC
Chương 4 – Cung, cầu và chính sách của chính phủ 12 Để thấy rõ điểm rơi của thuế, chúng ta so sánh điểm cân bằng cũ với điểm cân bằng mới. Bạn
có thể thấy trong hình vẽ là giá cân bằng của kem giảm từ 3 đô la xuống 2,8 đô la và lượng
cân bằng giảm từ 100 xuống còn 90 chiếc. Do người sản xuất bán ít hơn và người tiêu dùng
mua ít hơn, nên khoản thuế này làm giảm quy mô thị trường kem.
Bây giờ chúng ta hãy quay trở lại với vấ
n đề ảnh hưởng của thuế: Ai là người chịu thuế?
Mặc dù người mua nộp toàn bộ số thuế cho chính phủ, nhưng cả người mua và người bán
đều phải chịu gánh thuế. Do giá thị trường giảm từ 3 đô la xuống còn 2,8 đô la khi chính
phủ đánh thuế, nên người bán thu được số tiền ít hơn 0,2 đô la từ mỗi chiếc kem bán ra so
với khi chưa có thuế. Vì vậy, thuế gây ảnh hưở
ng tiêu cực đối với người bán. Người mua
trả người bán giá thấp hơn (2,8 đô la), nhưng giá mà anh ta thực sự trả gồm cả thuế đã
tăng từ 3 đô la lên 3,3 đô la (2,80 + 0,5 = 3,3 đô la). Cho nên, khoản thuế này cũng làm
người mua bị thiệt.
2.8
3.0
$3.3
D
1
D
2
0 90 100 Lượng kem
S
1
Cân bằng
sau thuế
Thuế (0,5$)
Giá người
mua tr
ả
Giá không
thu
ế
Giá người
bán nhận
Cân bằng
trước thuế
tới S
2
.
Khi thị trường chuyển từ trạng thái cân bằng cũ sang trạng thái cân bằng mới, giá kem cân
bằng tăng từ 3 đô la lên 3,3 đô la và lượng cân bằng giảm từ 100 xuống còn 90 chiếc kem.
Một lần nữa, thuế lại làm giảm quy mô thị trường kem. Và lần này cũng vậy, người mua và
người bán cùng chia sẻ gánh nặng thuế. Do giá thị trường tăng, người mua phải trả thêm 0,3
đô la cho mỗi chiếc kem mà họ mua so với tr
ước khi có thuế. Người bán nhận được giá cao
hơn so với trước khi có thuế, nhưng giá thực sự (sau khi đóng thuế) giảm từ 3 đô la xuống
còn 2,8 đô la.
So sánh hình 6 và 6.7, chúng ta đi đến một kết luận đáng ngạc nhiên: Thuế đánh vào
người mua và thuế đánh vào người bán tương đương nhau. Trong cả hai trường hợp, thuế
đều đặt một chiếc nêm vào giữa giá mà người mua trả và giá mà người bán nhận đượ
c.
Chiếc nêm này không thay đổi, cho dù thuế được đánh vào người mua hay người bán.
Trong cả hai trường hợp, nó đều làm dịch chuyển vị trí tương đối của đường cung và
đường cầu. Tại điểm cân bằng mới, người mua và người bán cùng chia sẻ gánh nặng thuế.
Điểm khác biệt duy nhất giữa thuế đánh vào người mua và thuế đánh vào người bán là ở
người nộp thuế cho chính phủ.
Tính tương đương c
ủa hai loại thuế này có lẽ dễ hiểu hơn nếu chúng ta tưởng tượng rằng
chính phủ thu thuế 0,5 đô la một chiếc kem bằng cách đặt một cái bát tại mỗi quầy bán kem.
Khi chính phủ đánh thuế vào người mua, người mua được yêu cầu bỏ 0,5 đô la vào bát khi họ
mua một chiếc kem. Khi chính phủ đánh thuế vào người bán, người bán được yêu cầu bỏ 0,5
đô la vào bát mỗi khi họ bán một chiếc kem. Việc 0,5 đô la
đi trực tiếp từ ví của người mua
vào bát, hay gián tiếp từ ví người mua qua tay người bán rồi vào bát đều có ảnh hưởng như
nhau. Khi thị trường đạt đến điểm cân bằng mới, người mua và người bán cùng nhau chia sẻ
gánh nặng thuế, việc đánh thuế như thế nào không quan trọng.
Giá người
bán nhận
Cân bằng
trước thuế
Thuế đánh vào
người bán làm dịch
chuyển đường cung
lên trên một lượng
đúng bằng mức thuế
(0,50 đô la) NGUYÊN LÝ KINH TẾ HỌC
Chương 4 – Cung, cầu và chính sách của chính phủ 14 Hình 7. Thuế đánh vào người bán. Khi mức thuế 0,5 đô la đánh vào người bán, đường cung
dịch chuyển lên trên 0,5 đô la, tức từ S
1
lên S
ế tiền lương là nó đặt một chiếc nêm vào giữa
tiền lương mà doanh nghiệp trả và tiền lương mà người lao động nhận được. Hình 8 chỉ ra
kết cục này. Khi loại thuế tiền lương có hiệu lực, tiền lương mà người lao động nhận
được giảm đi và tiền lương mà doanh nghiệp phải trả tăng lên. Cuối cùng thì người lao
động và doanh nghiệp cùng chia sẻ gánh nặng thuế đúng như luậ
t quy định. Nhưng việc
phân chia gánh nặng thuế này giữa người lao động và doanh nghiệp chẳng có gì liên quan
tới sự phân chia theo luật quy định: Sự phân chia gánh nặng thuế trong hình 8 không nhất
thiết phải là 50-50, và kết quả tương tự cũng sẽ xảy ra nếu đạo luật này yêu cầu người lao
động nộp toàn bộ tiền thuế hay doanh nghiệp nộp toàn bộ thuế tiền thuế.
Ví dụ trên chỉ ra rằng bài học cơ b
ản nhất về ảnh hưởng của thuế thường bị bỏ qua trong các
cuộc tranh luận công khai. Các nhà làm luật có thể quyết định việc thuế lấy từ ví người mua NGUYÊN LÝ KINH TẾ HỌC
Chương 4 – Cung, cầu và chính sách của chính phủ 15 Lượng công nhân
Cầu về lao
động
Chiếc nêm
thuế
Cung về
lao động
Tiền lương
Tiền lương do doanh
nghiệp trả
Tiền lương
mua phải trả và số tiền người bán nhận được. (Trong cả hai ph
ần hình 9, chúng ta không vẽ
đường cung và đường cầu mới. Việc đường nào dịch chuyển phụ thuộc vào chỗ thuế đánh
vào người mua hay người bán. Như chúng ta thấy, điều này không liên quan tới điểm rơi của
thuế). Sự khác biệt giữa hai phần là hệ số co giãn tương đối của cung và cầu.
Phần (a) của hình 9 minh họa cho một loại thuế trên thị trường có cung rất co giãn và cầu
tương đố
i không co giãn. Trong tình huống này, người bán phản ứng mạnh đối với giá cả
trong khi người mua ít phản ứng đối với giá cả. Khi một loại thuế được áp dụng trong thị
trường có hệ số co giãn như vậy, giá người bán thu được không giảm nhiều, nên người bán
chỉ phải chịu một phần nhỏ của gánh nặng thuế. Ngược lại, giá người mua phải trả tăng
đáng kể và điề
u này cho thấy người mua chịu phần lớn gánh nặng thuế.
Cung
Cầu
Lượng
Gi
á
Giá người
mua tr
ả
Hình 9. Gánh nặng thuế được phân chia như thế nào. Trong phần (a), đường cung co giãn còn
đường cầu không co giãn. Trong trường hợp này, giá người bán nhận được giảm ít trong khi giá
người mua phải trả tăng nhiều. Do đó, người mua chịu phần lớn gánh nặng thuế. Trong phần (b),
đường cung ít co giãn còn đường cầu co giãn. Trong trường hợp này, giá người bán nhận được giảm
nhiều trong khi giá người mua phải trả tăng ít. Cho nên, người bán chịu ph
ần lớn gánh nặng thuế.
Phần (b) của hình 9 minh họa cho một loại thuế trong thị trường có cung tương đối không co
giãn và cầu rất co giãn. Trong trường hợp này, người bán rất ít phản ứng mạnh đối với giá,
nhưng người mua lại phản ứng mạnh. Hình này cho thấy khi có thuế, giá người mua phải trả
không tăng nhiều lắm, trong khi giá người bán nhận được lại giảm mạnh. Cho nên, người bán
phải chị
u hầu hết gánh nặng thuế.
Hai phần của hình 9 nêu ra một bài học chung về cách phân chia gánh nặng thuế. Gánh nặng thuế
nghiêng nhiều về bên thị trường ít co giãn hơn. Tại sao điều này đúng? Về bản chất, hệ số co giãn
phản ánh sự sẵn sàng rời bỏ thị trường của người mua và người bán khi điều kiện thị trường trở
nên bất lợi. Cầu không co giãn hàm ý người mua không có các ph
bởi vì cuối cùng họ thu được giá thấp hơn cho sản phẩm của mình. Song công nhân không
phải là người giàu có. Do đó, gánh nặng của thuế đánh vào hàng xa xỉ rơi vào tầng lớp trung
lưu, chứ không phải là những người giàu.
Nhữ
ng giả định sai lầm về ảnh hưởng của thuế đánh vào hàng xa xỉ nhanh chóng trở nên rõ
ràng sau khi đạo luật thuế này có hiệu lực. Các nhà cung cấp hàng hóa xa xỉ đã làm cho đại
diện của họ trong Quốc hội nhận thức được khó khăn mà họ phải trải qua và Quốc hội đã bãi
bỏ hầu hết luật thuế đánh vào hàng xa xỉ vào năm 1993.
Kiểm tra nhanh: Trong đồ thị cung cầu, hãy chỉ rõ tác động của mức thuế 1.000 đô la/ một
chiếc xe đánh vào người mua xe đối với số lượng xe bán ra và giá của chúng. Bằng một đồ
thị khác, hãy chỉ ra tác động của mức thuế 1.000 đô la một chiếc xe đánh vào người bán đối
với số lượng xe bán ra và giá cả của chúng. Trong cả hai đồ thị, hãy chỉ ra sự thay đổi giá
cả mà người mua xe phả
i trả và sự thay đổi giá cả mà người bán xe nhận được.
KẾT LUẬN
Nền kinh tế do hai loại luật chi phối: luật cung cầu và luật do chính phủ đưa ra. Trong
chương này, chúng ta đã bắt đầu tìm hiểu xem các luật này tương tác như thế nào. Kiểm soát
giá và thuế mang tính phổ biến trong các thị trường khác nhau, và ảnh hưởng của chúng
thường được báo chí và các nhà hoạch định chính sách tranh luận. Chỉ cần một chút kiến thức
kinh t
ế là có thể hiểu và đánh giá được các chính sách này.
Trong các chương sau, chúng ta sẽ phân tích chính sách của chính phủ một cách chi tiết hơn.
Chúng ta sẽ xem xét các ảnh hưởng của thuế đầy đủ hơn và nghiên cứu nhiều loại chính sách
hơn so với chúng ta đã làm trong chương này. Song các bài học cơ bản của chương này sẽ
không thay đổi: Khi phân tích các chính sách của chính phủ, thì cung và cầu là những công
cụ phân tích đầu tiên và hữu hiệu nhất.