Chuyên đề môn học GVHD: NGUYỄN THỊ PHƯƠNG
LỜI MỞ ĐẦU.
Với sự phát triển như vũ báo của nền kinh tế thế giới, các mối quan hệ kinh
tế trên mọi lĩnh vực của một nước ngày càng được mở rộng ra các nước, do đó vấn
đề thanh toán, định giá, so sánh, phân tích đánh giá về mặt giá trị vá hiệu quả trở
nên phức tạp hơn nhiều. Đơn vị thanh toán không chỉ là tiền tệ trong nước mà còn
phải sử dụng các loại ngoại tệ khác nhau liên quan đến việc trao đổi tiền của nước
khác. Tiền của mỗi nước được quy định theo pháp luật của nước đó và đặc điểm
riêng của nó, vì vậy phát sinh nhu cầu tất yếu là phải so sánh giá trị, sức mua của
đồng tiền trong nước với ngoại tệ và giữa các ngoại tệ với nhau. Hoạt đông chuyển
đổi đồng tiền này thành đồng tiền khác trong quá trình quan hệ giữa các nước
nhóm nước với nhau đã làm nãy sinh phạm trù tỷ giá hối đoái.
Tỷ giá hối đoái là một phạm trù kinh tế nhạy cảm và rất phức tạp. Kinh tế thị
trường thường xuyên vận động thì tỷ giá hối đoái cũng như những hiện tượng kinh
tế khác biến động là lẽ tất nhiên, là hợp với quy luật vận động của sự vật, hiện
tượng. Tuy nhiên những diễn biến có tính bất thường, khác lạ của hiện tượng kinh
tế tất phải do những nguyên nhân, hoặc do những trục trặc nào đó làm cho hiện
tượng kinh tế đó diễn ra “chệch hướng” theo logic bình thường. Điều đó làm cho
chúng ta phải thận trọng xem xét các nguyên nhân từ mọi phía, một cách toàn diện
để có nhận thức, quan điểm đúng đắn, làm cơ sở tin cậy cho việc điều chỉnh các
hoạt động thực tiễn…
Nghiên cứu sự vận động của tỷ giá hối đoái là một vấn đề phức tạp nhưng
cũng đầy tính mới mẻ và hấp dẫn, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế phát triển
không ngừng. Do đó, để lựu chọn đề tài ngiên cứu trong chuyên đề môn học, em
đã lựa chọn việc tìm hiểu về “Chính sách tỷ giá hối đoái với sự phát triển của
nền kinh tế Việt Nam”.
SVTH: NGUYỄN THỊ THANH – DHTN7TH Trang 1
Chuyên đề môn học GVHD: NGUYỄN THỊ PHƯƠNG
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ MÔN HỌC.
1.1. Giới thiệu chung về môn học.
Các chế độ tỷ giá, các nhân tố tác động đến tỷ giá, can thiệp của chính phủ
đối với tỷ giá, vai trò của sự biến động tỷ giá hối đoái thực.
Những nguyên lý cơ bản của lý thuyết bộ ba bất khả thi, lý thuyết bộ ba bất
khả thi trong các cuộc khủng hoảng.
Khái niệm, đặc điểm và hình thức biểu hiện các cuộc khủng hoảng tài chính
bao gồm: khủng hoảng tiền tệ, khủng hoảng ngân hàng, khủng hoảng nợ và khủng
hoảng kép.
SVTH: NGUYỄN THỊ THANH – DHTN7TH Trang 3
Chuyên đề môn học GVHD: NGUYỄN THỊ PHƯƠNG
CHƯƠNG II: TỔNG QUAN VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
2.1. Khái niệm về tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ được biểu hiện bằng số lượng
đơn vị tiền tệ của nước khác hay là bằng số lượng ngoại tệ nhận được khi đổi một
đợn vị nội tệ hoặc bằng số lượng nội tệ nhận được khi đổi một đơn vị ngoại tệ.
(hay còn được định nghĩa: tỷ giá hối đoái là quan hệ so sánh giữa hai tiền tệ của hai
nước với nhau)
2.2. Các loại tỷ giá
2.2.1. Phân loại theo đối tượng xác định
a) Tỷ giá chính thức: là một loại tỷ giá do NHTW của nước đó xác định. Dựa vào tỷ
giá này, NHTM và các tổ chức tín dụng sẽ ấn định tỷ giá mua bán ngoại tệ giao
ngay, có kỳ hạn, hoán đổi.
b) Tỷ giá thị trường: là tỷ giá hình thành theo quan hệ cung cầu trên thị trường hối
đoái
2.2.2. Phân loại theo kỹ thuật giao dịch
a) Tỷ giá giao ngay: là tỷ giá do tổ chức tín dụng yết giá tại thời điểm giao dịch hoặc
do hai bên thỏa thuận nhưng phải đảm bảo biện độ do NHNN quy định.
b) Tỷ giá giao dịch kỳ hạn: là tỷ giá giao dịch do tổ chức tín dụng yết giá hoặc do hai
bân tham gia giao dịch tự tính toán cà thỏa thuận với nhau nhưng phải đảm bảo
trong biên độ quy định của NHNN tại thời điểm ký hợp đồng.
2.2.3. Phân theo hoạt động xuất nhập khẩu
- Những dự báo về thay đổi trên thị trường là bằng zero (ngoại trừ những trường hợp
đặc biệt khi thị trường dự báo là chính phủ sẽ thay đổi mức tỷ giá cố định)
- Những lượng cung - cầu vẫn tồn tại trên thị trường ngoại tệ và chi phối số lượng
cung, cầu ngoại tệ trên thị trường.
- NHTW cam kết sẽ duy trì tỷ giá hối đoái ở một mức cố định nào đó. Nếu cung trên
thị trường lớn hơn cầu ở mức tỷ giá cố định đó thì NHTW sẽ đảm bảo mua hết
lượng dư cung ngoại tệ. Nếu cung trên thị trường nhỏ hơn cầu ở mức tỷ giá cố định
SVTH: NGUYỄN THỊ THANH – DHTN7TH Trang 5
Chuyên đề môn học GVHD: NGUYỄN THỊ PHƯƠNG
đó thì NHTW đảm bảo cung cấp một lượng ngoại tệ bằng với lượng dư cầu.
NHTW sẽ thực hiện hoạt động mua bán dư cung hay dư cầu đó với tư cách là
người mua bán cuối cùng, người điều phối.
c) Ưu điểm của chế độ tỷ giá hối đoái cố định
- Thúc đẩy thương mại và đầu tư quốc tế vì nó mang lại một môi trường ổn định,
thuận lợi, ít rủi ro cho các hoạt động kinh doanh.
- Buộc các chính phủ phải hoạch định và thực thi các chính sách vĩ mô.
- Thúc đẩy các hoạt động hợp tác quốc tế nhằm tránh những xung đột về mục tiêu
chính sách và những biến động về tỷ giá.
d) Nhược điểm của chế độ tỷ giá hối đoái cố định
- Thường chịu sức ép lớn mỗi khi xảy ra các cơn sốc từ bên ngoài hoặc từ thị trường
hàng hóa trong nước, bởi khi đó mức mức chênh lệch thực tế quá lớn về giá trị
giữa nội tệ và ngoại tệ sẽ dẫn đến phá vỡ mức cân bằng về tỷ giá.
- Chế độ tỷ giá cố định làm mất tính chủ động của chính sách tiền tệ, khiến cho
NHTW gặp khó khăn trong việc thay đổi lượng tiền cung ứng.
- Đặc biệt, nó làm cho các quốc gia dễ rơi vào tình trạng “nhập khẩu lạm phát”
không mong muốn.
2.3.2. Chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi
a) Khái niệm
Chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi là chế độ tỷ giá hối đoái mà trong đó tỷ giá hối đoái
sẽ được vận dụng và xác định một cách tự do theo quy luật thị trường (quy luật
Là chế độ tỷ giá hối đoái có sự kết hợp giữa hai chế độ tỷ giá hối đoái ở trên.
Trong đó tỷ giá hối đoái sẽ tự xác định trên thị trường theo quy luật cung cầu,
chính phủ chỉ can thiệp vào thị trường khi tỷ giá có những biến động mạnh.
b) Đặc trưng của chế độ tỷ giá hối đoái
- Tỷ giá hối đoái được xác định và thay đổi hoàn toàn tùy thuộc vòa tình hình cung
cầu ngoại têh trêh thị trường
- NHTW tuyên bố một mức biến động cho phép đối với tỷ giá và chỉ can thiệp vào
thị trường với tư cách là người mua bán cuối cùng khi tỷ giá trên thị trường có
những biến động mạnh vượt ra khỏi mức cho phép này
- Nếu tình hình kinh tế có những biến đổi lớn thì mức tỷ giá hối đoái cũng như biên
độ giao động cho phép cũng được nhà nước xác định và công bố lại.
c) Có 3 kiểu can thiệp của chính phủ
- Kiểu can thiệp vùng mục tiêu: chính phủ quy định tỷ giá tối đa, tối thiểu và sẽ can
thiệp nếu tỷ giá vượt quá giới hạn đó.
SVTH: NGUYỄN THỊ THANH – DHTN7TH Trang 7
Chuyên đề môn học GVHD: NGUYỄN THỊ PHƯƠNG
- Kiểu can thiệp tỷ giá chính thức kết hợp với biên độ giao động: tỷ giá chính thức
có vai trò dẫn đường, chính phủ sẽ thay đổi biên độ giao động cho phù hợp với
từng thời kỳ.
- Kiểu tỷ giá đeo bám: chính phủ lấy tỷ giá đóng cửa ngày hôm trước làm tỷ giá mở
cửa ngày hôm sau và cho phép tỷ giá dao động với biên độ hẹp.
d) Ưu điểm của chế độ tỷ giá hối đoái có sự quản lý của nhà nước
- Khi tỷ giá hối đoái biến động bất thường sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh
tế, lúc này rất cần có một “bàn tay đủ lớn” có thể chống đỡ và điều tiết tỷ giá cho
nó trở về trạng thái cân bằng. Nhà nước chính là bàn tay đó. Để tỷ giá hối đoái phù
hợp với nền tảng kinh tế cơ bản nhà nước có the can thiệp thị trường ngoại hối
dưới hai hình thức: trực tiếp (mua, bán ngoại tệ) và gián tiếp cung cấp những thông
tin cần thiết và chuẩn xác cho thị trường. Việc can thiệp vào thị trường sẽ làm giảm
bớt những chi phí “tăng, giảm quá mức” của tỷ giá hối đoái.
- Sự sai lệch của tỷ giá hối đoái còn dẫn tới sự bảo hộ bởi vì một đồng tiền thấp giá
Có 2 cách xác định tỷ giá trên cơ sở cân bằng sức mua giữa đồng nội tệ và
ngoại tệ
Cân bằng tuyệt đối:
Cân bằng tương đối:
2.4.2. Lãi suất
Lãi suất là giá cả thuê vốn trên thị trường. Lãi suất có tác động rất lớn đến tỷ
giá hối đoái. Thật vậy, nếu lãi suất trong nước cao hơn lãi suất ngoại tệ hay lãi suất
trên thị trường quốc tế, điều này sẽ thu hút những dòng vốn trên thị trường quốc tế
chảy vào trong nước hay sẽ làm gia tăng sự chuyển hóa lượng ngoại tệ trong nước
sang đồng nội tệ để hưởng lãi suất cao. Kết quả là, cung ngoại tệ trên thị trường
SVTH: NGUYỄN THỊ THANH – DHTN7TH Trang 9
Chuyên đề môn học GVHD: NGUYỄN THỊ PHƯƠNG
trong nước tăng lên, từ đó làm cho đồng ngoại tệ có xu hướng giảm giá hay đồng
nội tệ lên giá. Ngược lại, nếu lãi suất trong nước thấp hơn lãi suất ngoại tệ hay lãi
suất trên thị trường quốc tế thì sẽ làm cho đồng ngoại tệ lên giá và đồng nội tệ mất
giá. Trong điều kiện nền kinh tế mở, theo điều kiện của Fisher, trạng thái các luồng
vốn quốc tế không tiếp tục chảy vào hay chảy ra ngoài đối với một quốc gia khi mà
lãi suất thực giữa các quốc gia ngang bằng nhau, tức là:
Trong đó: là lãi suất trong nước
là lãi suất nước ngoài
là % thay đổi giá trị của đồng ngoại tệ
2.4.3. Cán cân thanh toán quốc tế
Cán cân thanh toán dùng để theo dõi và phân tích hoạt động thương mại
quốc tế cũng như số lượng các luồng chảy vốn chạy vào và chạy ra khỏi một quốc
gia là như thế nào. Tuy nhiên những tài khoản trên cán cân thanh toán phản ánh
hoạt động thương mại quốc tế, và sự di chuyển của các nguồn vốn lại là thước đo
của tất cả các nhân tố làm phát sinh cung cầu của một đồng tiền trên thị trường hối
đoái. Do vậy cán cân thanh toán trở thành một phương tiện thuận tiện và hiệu quả
trong việc tiếp cận lý thuyết xác định tỷ giá và có thể hình dung các cân thanh toán
như là bản ghi chép thành từng khoản các nhân tố phản ánh cung cầu một đồng
Vì có một số đặc trưng như tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam rất lớn
(tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2013 lên đến hơn 260 tỷ USD, tương đương
150% GDP), dòng vốn nước ngoài vào Việt Nam rất nhiều kể cả dòng vốn đầu tư
SVTH: NGUYỄN THỊ THANH – DHTN7TH Trang 11
Chuyên đề môn học GVHD: NGUYỄN THỊ PHƯƠNG
trực tiếp lẫn đầu tư gián tiếp, Việt Nam có tình trạng đô la hóa khá mạnh do Việt
Nam là một trong số ít nước trên thế giới chấp nhận huy động bằng đô la Mỹ và
các ngoại tệ khác cũng như được phép cho vay bằng ngoại tệ.
Chính vì vậy, tỷ giá hối đoái ổn định không chỉ hỗ trợ tích cực kiềm chế lạm
phát thông qua hạn chế tăng giá hàng hóa nhập khẩu, từ các loại máy móc thiết bị,
nguyên, nhiên, vật liệu đến hàng hóa tiêu dùng mà còn góp phần cải thiện cán cân
thương mại, thu hút đầu tư nước ngoài và tăng dự trữ ngoại hối.
Năm 2012 và 2013, mặc dù CPI lần lượt tăng 6,81% và 6,04% so với cuối
kỳ và tăng bình quân tới 9,21% và 6,6% song giá USD chỉ tăng tương ứng có
0,18% và 1,09% chứng tỏ tỷ giá hối đoái không chỉ ổn định trong chính sách và thể
hiện ở tỷ giá hối đoái chính thức giao dịch liên ngân hàng mà còn ở thực tế trên thị
trường tiền tệ.
Cán cân thương mại và tài khoản vốn đều thặng dư lại thêm trên dưới 10 tỷ
USD kiều hối hàng năm nên cán cân thanh toán của Việt Nam năm 2012 - 2013 đã
được cải thiện mạnh từ mức thâm hụt lớn giai đoạn 2007 - 2009 sang trạng thái
thặng dư, thậm chí là thặng dư lớn nên đã tạo ra cơ hội tăng mạnh dự trữ ngoại hối
(quy mô dự trữ ngoại hối năm 2013 đã lên tới trên 30 tỷ USD sau khi xuống dưới
10 tỷ USD năm 2009), qua đó tạo cơ sở vững chắc để duy trì ổn định tỷ giá hối
đoái, tạo nguồn lực tài chính để sẵn sàng đối phó với khả năng rủi ro từ việc rút
vốn, đầu cơ tiền tệ hay những áp lực về phá giá đồng Việt Nam.
Rõ ràng, chính sách tỷ giá hối đoái đã và đang bám sát theo nguyên tắc ổn định
và linh hoạt, quan trọng hơn là sự ổn định và linh hoạt đó dựa trên những tiền đề
và cơ sở tài chính vững chắc. Diễn biến tỷ giá hối đoái những năm 2012 - 2013 đã
tạo được niềm tin khá chắc chắn vào sự ổn định của tỷ giá hối đoái nói chung cũng
như khả năng điều hành chính sách tỷ giá hối đoái của NHNN nói riêng. Thành
bán ngoại tệ can thiệp tại mức giá này nếu TCTD có nhu cầu. Sau đó, tỷ giá bán
USD của NHNN được điều chỉnh thêm 3 lần nữa phù hợp với cung cầu trên thị
trường, cụ thể tăng từ mức giá 20.950 VND/USD tăng lên mức 21.005 VND/USD
(ngày 20/5/2013), tăng lên mức trần 21.036 VND/USD (ngày 5/6/2013) và tăng
lên mức trần 21.246 VND/USD (ngày 8/7/2013) sau khi NHNN điều chỉnh tỷ giá
bình quân liên ngân hàng. NHNN cũng đã linh hoạt thực hiện việc bán ngoại tệ
bình ổn thị trường tại các mức tỷ giá này.
Tốc độ lạm phát dự kiến năm 2014 và 2015 đều khoảng 7%, đồng thời với
việc đặt mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô và tái cơ cấu kinh tế lên hàng đầu nên định
hướng chính sách lãi suất huy động chủ đạo giai đoạn 2014 - 2015 là duy trì như
nửa cuối năm 2013, cả lãi suất huy động bằng VNĐ và USD. Mục tiêu tăng tổng
phương tiện thanh toán năm 2014 từ 16 - 18%, nghĩa là tương đương năm 2013
nên không cần thiết điều chỉnh lãi suất huy động để thay đổi quy mô tiền gửi tại hệ
thống TCTD.
Tỷ giá mua vào USD của NHNN cũng đã được điều hành theo hướng
khuyến khích các TCTD bán ngoại tệ cho NHNN để tăng dự trữ ngoại hối Nhà
nước. Tỷ giá mua vào được NHNN duy trì tương đối ổn định ở mức 20.850
VND/USD cao hơn mức tỷ giá bình quân liên ngân hàng là 20.828 VND/USD.
Nhờ vậy, trong năm 2012 và 9 tháng đầu năm 2013, NHNN đã mua được một
lượng lớn ngoại tệ để tăng dự trữ ngoại hối nhà nước, quy mô dự trữ ngoại hối Nhà
nước được cải thiện rõ nét. Khi tỷ giá bình quân liên ngân hàng được điều chỉnh,
NHNN cũng đã điều chỉnh tăng tỷ giá mua ngoại tệ lên 21.100 VND/USD từ ngày
07/8/2013 và tiếp tục mua ngoại tệ từ các TCTD tại mức giá này.
SVTH: NGUYỄN THỊ THANH – DHTN7TH Trang 14
Chuyên đề môn học GVHD: NGUYỄN THỊ PHƯƠNG
Niềm tin vào chính sách tiền tệ và chính sách tỷ giá hối đoái của NHNN đã được
phục hồi, củng cố vững chắc hơn, qua đó, uy tín và mức độ tin cậy vào những cam
kết mạnh mẽ của NHNN ngày càng được nâng cao. Hy vọng niềm tin đó sẽ tiếp
tục đồng hành vớái Việt Nam trong những năm sắp tới.
2.5.2. Về chế độ tỷ giá
nguyên vật liệu sản xuất cho hàng xuất khẩu của mình. Ngoài ra, tỷ giá cao còn
làm gia tăng giá trị các khoản nợ đối với các DN có khoản vay nợ nước ngoài, kể
cả các khoản nợ công của Chính phủ hiện đang có xu hướng gia tăng trong thời
gian gần đây (chiếm 42,2% trong tổng nợ công năm 2012). Như vậy, với nền kinh
tế Việt Nam phát triển theo mô hình định hướng xuất khẩu trong khi nhập siêu các
yếu tố đầu vào có xu hướng tăng như năm năm 2011 là 105,8 tỷ USD tăng 24,7%
so với năm 2010, năm 2012 là 114,3 tỷ USD tăng 7,1% so với năm 2011 thì việc
lựa chọn chính sách tỷ giá đảm bảo tính đa mục tiêu là khó có thể thực hiện được.
Do vậy, yêu cầu trong chính sách tỷ giá buộc phải có lựa chọn.
Trên thực tế, mức tăng trưởng xuất khẩu bình quân khoảng 18%/năm đã đóng
góp quan trọng cho tăng trưởng cũng như đảm bảo các cân đối lớn trong nền kinh
tế đối với quốc gia đang phát triển như Việt Nam hiện nay. Do đó, chính sách tỷ
giá hiện tại vẫn cần hướng tới mục tiêu khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập
khẩu các mặt hàng trong nước có thể sản xuất được nhằm cải thiện cán cân thương
mại và cán cân thanh toán góp phần tăng trưởng kinh tế.
Theo số liệu từ NHNN thì giai đoạn từ năm 2008 đến nay, NHNN đã điều
hành chính sách tỷ giá theo hướng giảm giá đồng Việt Nam ở mức vừa phải đã có
tác động làm giá bán hàng xuất khẩu của Việt Nam trên thị trường thế giới cạnh
tranh hơn.
SVTH: NGUYỄN THỊ THANH – DHTN7TH Trang 16
Chuyên đề môn học GVHD: NGUYỄN THỊ PHƯƠNG
Đơn vị: %
CÁC ĐỢT ĐIỀU CHỈNH TỶ GIÁ
NGÀY HIỆU LỰC BIÊN ĐỘ ĐIỀU CHỈNH
10/3/2008 1,00%
27/6/2008 2,00%
07/11/2008 3,00%
24/3/2009 5,00%
25/11/2009 3,00%
11/02/2011 1,00%
VND/USD 17,486 18,479 19,500 21,036 20,860 21,500
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Chính sách tiền tệ của ngân hàng là làm sao kiểm soát được tốc độ lạm phát
thấp hơn tốc độ phát triển kinh tế.
Đồng tiền ổn định và tỷ giá hối đoái có vai trò quan trọng trong chính sách
tiền tệ, nó là mục tiêu của chính sách tiền tệ mà mọi quốc gia đều hướng tới. Tỷ giá
hối đoái chịu tác động của nhiều nhân tố, trong đó hai yếu tố quan trọng nhất là sức
mua của đồng tiền và tương quan cung cầu tiền tiền tệ. Khi lạm phát tăng, sức mua
của đồng tiền giảm so với ngoại tệ làm giảm tỷ giá hối đoái của đồng ngoại tệ so
với đồng nội tệ tăng giá và ngược lại.
2.5.4.2. Tỷ giá hối đoái tác động tới xuất nhập khẩu Việt Nam
Bất kỳ biến động nào cũng ảnh hưởng tới tình hình xuất nhập khẩu của Việt
Nam. Khi giá thực tế của VND tăng lên thì giá hàng hóa của Việt Nam tại nước
ngoài trở thành đắt đỏ hơn và hàng hóa nước ngoài tại Việt Nam như của Nhật,
SVTH: NGUYỄN THỊ THANH – DHTN7TH Trang 18
Chuyên đề môn học GVHD: NGUYỄN THỊ PHƯƠNG
Mỹ… trở thành rẻ hơn. Điều này có nghĩa là tỷ giá VND/USD giảm xuống. Dẫn
đến tăng xuất khẩu và giảm nhập khẩu của Việt Nam
2.5.4.3. Tỷ giá hối đoái tác động tới đầu tư, công ăn việc làm
Tỷ giá hối đoái là một nhân tố tác động tới cả trong nước và ngoài nước do đó
tác động tới công ăn việc làm của người dân. Khi tỷ giá ổn định và tăng lên sẽ hấp
dẫn được các nhà đầu tư vào Việt Nam. Các nhà đầu tư có thể đầu tư trực tiếp hay
gián tiếp làm tăng quy mô sản xuất lên. Để đáp ứng cho quá trình mở rộng sản xuất
họ phải tuyển thêm lao động. Do đó số lượng việc làm tăng lên và nề kinh tế giảm
thất nghiệp.
2.5.4.4. Tác động của tỷ giá tới cán cân thương mại
Cán cân thương mại là chênh lệch giữa doanh số xuất khẩu và nhập khẩu
trong một thời kỳ nhất định. Các cân thương mại thặng dư phản ảnh doanh số xuất
khẩu lớn hơn nhập khẩu. Ngược lại cán cân thương mại thâm hụt phản ánh doanh
số xuất khẩu nhỏ hơn nhập khẩu. Nhìn chung cán cân thương mại tác động nhiều
NAM
2.6.1. Giải pháp để ổn định tỷ giá hối đoái ở Việt Nam
2.6.1.1. Sự cần thiết trong việc điều hành cơ chế tỷ giá hiệu quả, phù hợp với
tình hình kinh tế hiện nay
Lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái cho mỗi nước tùy thuộc vào điều kiện thực tế
và phát triển kinh tế - xã hội của nước đó. Điều hành chế độ tỷ giá hối đoái được
coi là việc đòi hỏi phải rất linh hoạt và chiến thuật. Một quốc gia có thể thực thi
một chế độ tỷ giá hối đoái cố định trong một vài năm sau đó có thể thả lỏng rồi trở
lại cố định hay bán thả nổi.
SVTH: NGUYỄN THỊ THANH – DHTN7TH Trang 20
Chuyên đề môn học GVHD: NGUYỄN THỊ PHƯƠNG
Trong bối cảnh nước ta hiện nay: kinh tế tăng trưởng chưa ổn định , thị trường
hối đoái mới hướng tới hoàn thiện, thị trường nội tệ chưa thực sự phát triển, thị
trường chứng khoán đang đang ở trong giai đoạn đầu vì thế việc điều hành tỷ giá là
rất cần thiết. Điều hành tỷ giá gắn liền với biện pháp của chính phủ, không thể dự
hết vào quy luật thị trường hay sử dụng biện pháp hành chính. Điều hành tỷ giá
phải thận trọng, linh hoạt và phù hợp với điều kiện thực tế.
2.6.1.2. Đề xuất các giải pháp cho chính sách tỷ giá
a) Xác định mức tỷ giá hiện nay
Tỷ giá chính thức được công bố hàng ngày trên cơ sở tỷ giá bình quân mua
bán thực tế trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng của ngày trên cơ sở tỷ giá bình
quân mua bán thực tế trên thị trường liên ngân hàng của ngày giao dịch gần nhất
trong đó và khống chế tỷ giá giao dịch trên thi trường chính thức quá hẹp (không
vượt quá biên độ 0,1% so với tỷ giá chính thức. NHNN còn quy định quá chi tiết
về mức độ biên độ và mức độ còn quá hẹp chiều rộng dự kiến của dải bang phụ
thuộc vào mức độ độc lập của chính sách tiền tệ. Cơ sở cho nhận định trên là chính
sách tài khóa nước ta bị giới hạn nghiêm ngặt, bằng mọi giá không được vượt quá
thâm hụt 3%/GDP. Vì vậy trong diều kiện không tự chủ được chính sách tài khóa
thì chỉ còn một cách duy nhất là tăng tính linh hoạt của chính sách tiền tệ của
xảy ra thì để giữ tỷ giá thì NHNN buộc phải tung ngoại tệ ra để bán. Song không
chỉ như vậy, dự trữ ngoại tệ cần phải dủ mạnh để sẵn sàng đối phó với những âm
mưu kích động yếu tố đầu cơ trên thị trường. Nếu dự trữ của NHNN không đủ
mạnh để can thiệp trong những lúc cần thiết thì NHNN điều chỉnh để giữ giá hoặc
thả cho nó trôi nổi trên thị trường.
d) Tăng cường sự hợp tác tài chính tiền tệ trên thế giới
Tăng cường sự hợp tác tài chính tiền tệ trên thế giới bằng cách hướng kết các
thỏa thuận hoán đổi tiền tệ với các NHTW (tức là thị trường ngoại tệ liên ngân
SVTH: NGUYỄN THỊ THANH – DHTN7TH Trang 22
Chuyên đề môn học GVHD: NGUYỄN THỊ PHƯƠNG
hàng phải hoạt động liên tục, thông suốt không bị giới hạn về thời gian và không
gian để giải quyết nhanh chóng nhu cầu thanh toán ngoại tệ). Đồng thời có chính
sách khuyến khích các công ty xuất nhập khẩu đa dạng hóa cơ cấu tiền tệ trong
thương mại quốc tế để nâng cao sự cân đối giữa luồng cung và cầu ngoại tệ góp
phần đa dạng hóa tiền tệ một cách cân đối hơn.
e) Nhà nước cần hoàn thiện công tác quản lý ngoại hối
Khi dự trữ ngoại hối được quản lý tốt sẽ làm tăng tích lũy ngoại tệ (bằng việc
phát triển xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu). Tiết kiệm chi ngoại tệ, chỉ nhập những
hàng hóa cần thiết cho nhu cầu sản xuất và những mặt hàng thiết yếu trong nước
chưa sản xuất được. Tiến tới tự do hóa trong quản lý ngoại hối, hoạt động này bao
gồm việc giảm dần tiến đến loại bỏ sự can thiệp trực tiếp của NHNN trong việc
kiểm soát ngoại hối, thiết lập tính chuyển đổi cho đồng tiền Việt Nam sử dụng hiệu
quả và linh hoạt các công cụ quản lý tỷ giá nâng cao tính chủ động trong kinh
doanh tiền tệ của các NHTM…
f) Hoàn chỉnh thị trường
Về thị trường ngoại hối: cần hoàn thiện thị trường ngoại hối để tạo điều kiện
cho việc thực hiện chính sách ngoại hối có hiệu quả bằng cách mở rộng thị trường
ngoại hối để các doanh nghiệp, các định chế tài chính phi ngân hàng tham gia thị
trường ngày một nhiều hơn, đặc biệt là thị trường hoán chuyển để các đối tượng
kinh doanh có liên quan đến ngoại tệ tự bảo vệ mình.
đắp thiếu hụt ngân sách. Cách tốt nhất để thực hiện bù đắp thiếu hụt ngân sách Nhà
nước là bằng vốn vay trong nước hạn chế tối đa việc vay nợ nước ngoài. Trong
điều kiện hiện nay một chính sách phá giá nhỏ có thể tác động tích cực trong việc
cải thiện đồng thời cân bằng bên trong và bên ngoài, khuyến khích xuất khẩu, hạn
chế nhập khẩu, sử dụng đầy đủ hơn các nguồn lực hiện có, làm tăng việc làm, sản
SVTH: NGUYỄN THỊ THANH – DHTN7TH Trang 24
Chuyên đề môn học GVHD: NGUYỄN THỊ PHƯƠNG
lượng và thu nhập của nền kinh tế trương khi vẫn hiềm chế được lạm phát ở mức
thấp. Công cụ lãi suất được sử dụng có hiệu quả để tác động đến tỷ giá.
i) Vận dụng dự báo tỷ giá để phòng ngừa và hạn chế rủi ro
Hoạt động dự báo có một tầm quan trọng lớn trong việc phòng ngừa rủi ro
hoặc đầu cơ. NHTW có thể sử dụng các nhân tố cơ bản như thuyết PPP, hiệu ứng
Fisher quốc tế để dự báo. Ngoài ra NHTW cần theo dõi, phân tích diễn biến thị
trường tài chính quốc tế một cách có hệ thống để có những cơ sở vững chắc cho
đánh giá, dự báo sự vận động của các đồng tiền then chốt. Nhanh chóng thực hiện
các công cụ phòng ngừa rủi ro trong điều kiện tỷ giá hiện nay tiềm tàng nhiều nhân
tố bất ổn. Nhà nước cần gấp rút triển khai các công cụ phòng ngừa rủi ro. Chính
phủ đã cho phép các NHTM thực hiện công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá như hợp
đồng tương lai, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng quyền chọn. Vấn đề là các NHTM và
doanh nghiệp nhất là các doanh nghiệp xuất nhập khẩu và doanh nghiệp có thu chi
bằng ngoại tệ phải nhanh chóng sử dụng các công cụ này để phòng ngừa rủi ro tỷ
giá.
2.6.2. Kiến nghị
2.6.2.1. Tăng cường linh hoạt tỷ giá hối đoái
Hiện nay, biên độ giao động tỷ giá ở Việt Nam là 3%. Theo ý kiến của các
chuyên gia, mức biên độ này vẫn còn tương đối hẹp và chưa thật sự hiệu quả. Với
tình hình Việt Nam hiện nay, NHTW nên nới rộng biên độ giao động của VND,
chiều rộng khung này có thể ở mức 10%. Tuy nhiên do tình hình lạm phát tăng
cao nên biện pháp này nhằm mục đích nâng giá VND trong ngắn hạn. Giảm giá
việc phát hành VND làm cho cơ chế thị trường tác động nhiều hơn nữa vào tỷ giá.