ĐỀ TÀI
NGHIÊN CøU ỨNG DỤNG DỊCH VỤ WEB
(WEB SERVICES) GIẢI QUYẾT BÀI TOÁN VỀ CUNG
CẤP DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG CỦA HÀ NỘI
MỤC LỤC
Trang
1.TỔNG QUAN VỀ NGÔN NGỮ XML
1.1Khái niệm cơ bản
1.2Đặc điểm của XML
1.3XML được sử dông nh thế nào
1.4 XML được sử dụng trong lĩnh vực B2B
1.5 XML có thể được sử dụng để chia sẻ dữ liệu
1.6 XML mô tả dữ liệu cụ thể hơn
1.7 Một ví dụ về tệp XML
1.8 Cấu trúc tài liệu XML
1.8.1 XML hợp khuôn dạng
1.8.2 Quy tắc cú pháp ngôn ngữ XML
1.9 Định nghĩa kiểu tài liệu (Document Type define- DTD)
1.9.1 Các thành phần trong mét DTD
2. TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ WED
2.1 Khái niệm
2.2 Nền tảng cơ bản của dịch vụ web
2.2.1 Khái niệm
2.2.2 SOAAP(simple Object Access Protocol)
2.2.3 Về vấn đề an ninh?
2.2.4 WSDL
2.2.5 UDDI
2.2.6 Những vấn đề còn tồn tại
3. NGHIÊN CỨU MỘT SỐ MÔ HÌNH ÁP DỤNG DỊCH VỤ WEB (WS)
TRÊN THẾ GIỚI
3.1 Sử dụng dịch vụ WS để tương hợp dữ liệu tại tổ chức Nông lương thế giới
3.4.7 Các dịch vụ WS đáp ứng khả năng hoàn vốn đầu tư trong việc tích hợp
3.5 Ưu, nhược điểm khi sử dụng công nghệ dịch vụ WS
3.5.1 Bảo mật/ riêng tư
3.5.2 Định tuyến thông điệp, độ tin cậy/chất lượng dịch vụ, và xử lý giao dịch
3.5.3 Quản trị
CHUYÊN ĐỀ : TỔNG QUAN KIẾN TRÚC HỆ THỐNG
VÀ MÔ HÌNH ỨNG DỤNG DỊCH VỤ WEB (WEB SERVICES)
TRÊN THÕ GIỚI
1. TỔNG QUAN VỀ NGÔN NGỮ XML
1.1 Khái niệm cơ bản
XML là viết tắt của ‘eXtensible Markup Language’,được phát triển bởi
W3C ( Hiệp hội Web toàn cầu ). Phiên bản 1.0 được đưa ra vào tháng 2 năm
1998. XML thừa kế các chức năng của SGML và HTML. XML được biết tới
nh mét ngôn ngữ phù hợp hoặc cốt yếu cho thương mại điện tử ( tao đổi tài
liệu ). Bản thân XML là siêu ngôn ngữ và chỉ có cú pháp là được định nghĩa. Để
áp dụng XML, cần phải định nghĩa một số từ ngữ cà phần từ. Ngày nay, có
nhiều hoạt động để thiết lập các tiêu chuẩn họ XML ( các ngôn ngữ ), ví dụ, sơ
đồ XML ( định nghĩa cú pháp và cấu trúc tài liệu XML ), XSL ( ngôn ngữ bảng
tính kiểu XML), XSTL ( biến cố của XSL )v.v. Phần cuối của chương này là
giới thiệu sơ lược cú pháp XML
XML có thể xem là bổ túc cho những ứng dụng mới như các liên hệ với
địa điểm thị trường , chuyển vận các danh bạ điện tử, dùng các khả năng đa môi
trường trong các thông điệp,v.v.XML đặc biệt thích hợp cho một líp người
dùng, đối với họ EDI truyền thống là một công nghệ nặng nề để triển khai, líp
người này chính là líp đa số các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Các giải pháp trao đổi dữ liệu điện tử ( EDIFACT, EANCOM, ANSI
X12, CII, XML, ) đều dùa trên ba cơ sở :
- Một số tối thiểu các qui tắc sử dụng và cú pháp chung
- Một từ vựng duy nhất
- Các phương tiện kỹ thuật tương thích để trao đổi với nhau.
Với XML, các tệp văn bản thuần tuý có thể dùng để chia sẻ dữ liệu. Vì dữ
liệu XML được lưu dưới dạng văn bản thuần tuý, nên XML cung cấp một
phương pháp không phụ thuộc phần cứng và phần mêm để chia sẻ dữ liệu. Nó
cho phép tạo nên một cách dễ dàng hơn, dữ liệu mà nhiều ứng dụng khác nhau
có thể làm việc được. Nó cũng dễ dàng mở rộng hay nâng cấp một hệ thống lên
hệ điều hành mới, và trình duyệt mới.
XML có thể dùng để lưu trữ dữ liệu. Với XML, các tệp văn bản thuần tuý
có thể dùng để lưu trữ dữ liệu. XML có thể dùng để lưu trữ dữ liệu trong tệp tin
hay trong các cơ sở dữ liệu. Các ứng dụng có thể cất giữ hay lấy dữ liệu ở nơi
lưu trữ, và các ứng dụng bình thường có thể dùng để hiển thị.
1.6 XML mô tả dữ liệu cụ thể hơn
Với XML, dữ liệu dùng được với nhiều người hơn. Vì XML độc lập đối với
phần cứng, phần mềm và ứng dụng, ta có thể khiến dữ liệu của mình dùng được
không chỉ đối với trình duyệt HTML tiêu chuẩn.
Các khách hàng và ứng dụng có thể truy cập tệp XML nh là nguồn dữ liệu,
giống nh khi truy cập có sở dữ liệu. Dữ liệu có thể đọc được bởi mọi loại “ máy
moc” (tác nhân), và người mù, người tàn tật có thể dễ dàng đọc được dữ liệu.
XML có thể dùng để tạo ra các ngôn ngữ mới: XML là mẹ đẻ của WAP và
WML. Ngôn ngữ Đánh dấu không dây (Wireless Markup Language WML), sử
dụng cho các ứng dụng Internet đánh dÊu cho các thiết bị cầm tay nh điện thoại
di động, được viết bằng XML. Nếu người phát triển có ý thức, thì tất cả các ứng
dụng tương lai sẽ trao đổi dữ liệu XML.
Tương lai có thể sẽ có các trình xử lý V#n b#n, bảng tính và cơ sở dữ liệu
có thể đọc được dữ liệu của nhau ở dạng văn bản thuần tuý, không cần bất kỳ
tiện Ých chuyển đổi nào.
1.7 Một ví dụ về tệp XML
Dữ liệu của một thông điệp thư tín của Jim gửi Tom, dưới dạng XML,
được viết nh sau:
< ?xml version = “1.0” encoding = “ISO – 8859-1.?>
3
tử và cấu trúc cây phần tử của dữ liệu. DTD không phải là bắt buộc. Nếu không
có DTD, chỉ cần nhận dạng cấu trúc thẻ.
1.8.1 XML hợp khuôn dạng
Nh trên đã nói, nội dung tài liệu XML bị ràng buộc bởi 2 tính chất: hợp
khuôn dạng và hợp lệ. Tài liệu được coi là hợp khuôn dạng khi theo đúng các
bước thiết kế và xây dựng XML do W3C đưa ra. Nói chung là tuân theo đúng
cú pháp khi khai báo thẻ XML và tuân theo cách đặt các thẻ XML theo một trật
tự có thể phân tích được bởi các bộ phân tích.
Các phần tài liệu của XML được gọi là các thực thể. Một thực thể XML có
thể là dữ liệu văn bản dữ liệu nhị nhân nhưng không được cả hai. Một thực thể
có thể tham chiếu đến một thực thể khác và có thể dùng để phân tích hoặc làm
dữ liệu thông thường không dùng cho mục đích phân tích.
1.8.2 Quy tắc cú pháp ngôn ngữ XML
Các khai báo XML cần được đặt ở dòng đầu tiên của tài liệu.
Mọi phần tử XML đều phải có thẻ đóng :/>
Tất cả các tài liệu XML phải có thẻ gốc trong đó thẻ đầu tiên trong một tài
liệu XML là thẻ gốc.
Mọi tài liệu XML phải có một cặp thẻ đơn để định nghĩa phần tử gốc. Các
phần tử khác được lồng vào trong thẻ gốc. Tất cả các phần tử có thể có phần tử
con, các phần tử con phải được lồng đúng phần tử cha.
Các thẻ XML phân biệt hoa thường
Các giá trị thuộc tính phải luôn luôn đặt trong ngoặc kép
Chú thích trong XML: Cú pháp chú thích trong XML tương tù nh trong
HTML <!- This is a moment
Với XML, khoảng trắng được giữ lại
Với XML, cặp CR/LF chuyển thành LF. Với XML, một dòng luôn được lưu
trữ nh mét ký tù LF.
Trong các ứng dụng Windows, một dòng văn bản mới thường được lưu trữ
nh là một cặp ký tù CR/LF (carriage return/Line feed). Trong các ứng dụng
5
PCDATA: PCDATA nghĩa là kiểu dữ liệu của phần tử là ký tù đã phân
tách.
CDATA: CDATA nghĩa là kiểu dữ liệu của phàn tử là ký tù.
1.9.1 Các thành phần trong mét DTD
Trong DTD, loại hoặc cấu trúc của phần tử XML được khai báo bằng một
khai báo phần tử. Khai báo phần tử có cú pháp nh sau:
<!ELEMENT element-naame category>
EMPTY(#PCDATA)ANY
hoặc
<!ELEMENT element-name (element-content)>
Child-element-name, (sequence)
Child-element-name
Child-element-name+
Child-element-name*
Child-element-name?
Child-element-name/ Child-element-name
(mixed)
2. TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ WED
2.1 Khái niệm
1. Mét dịch vô wed WS (Wed Service) hay còn được gọi là WS là một ứng
dụng lập trình có thể truy nhập được mét cách logic thông qua việc sử dụng các
giao thức chuẩn Internet. WS tập hợp các khía cạnh tốt nhất của việc phát triển
dùa trên các thành phần và Web. Như nhứng thành phần, WS đưa ra chức năng
hộp đen có thể được sử dụng lại mà không cần phải o lắng về việc dịch vô đó
được triển khai như thế nào. Không giống như những công nghệ thành phần hiện
hanh, WS không truy nhập được thông qua các giao thức đặc chủng về mô hinh
hướng đối tượng, như DCOM (Distributed Component Object Model), RMI
(Remote Method Invocation) hoặc IIOP (Internet Inter-Orb Protocol). Thay vào
7
đó, WS truy nhập được thông qua các giao thức của Web (HTTP) và các định
ứng dụng xử lý đơn hành với một ứng dụng kiểm kê kho hàng chẳng hạn. Hơn
nũa, EAI được thiết kế chủ ý nh mét triển khai gắn chặt với các hệ thống kết nối.
WS thì không gắn chặt với hệ thống mà chúng dễ dàng được gắn vào hoặc loại
bỏ, tìm ra để gắn vào hệ thống một cách chủ động.
8. Để tổng kết, có thể nói một WS là:
a) Một ứng dụng lập trình, truy nhập được như mét thành phần thông qua
các giao thức chẩn của Web.
b) Sử dụng các giao thức chuẩn của Web nh HTTP,XML và SOAP
c) Làm việc xuyên qua các tường lửa và Proxy
d) Có thể lợi dông được việc xác minh của giao thức HTML
e) Mã hoá tự do với SSL
f) Dễ kết hợp với các giải pháp thông điệp XML hiện có
g) Lợi dụng mô hình thông điệp XML và dễ dàng chuyển đổi từ các giải
pháp XML RPC
h) Không xung đột với các giải pháp dùa trên các thành phần thương amij
nh CORBA và COM
i) Kết hợp các khía cạnh tốt nhất của việc phát triển dự tên thành phần và
Web
j) Sẵn sàng đối với các nền tảng máy trạm khác nhau (không phụ thuộc nền
tảng)
9. Có thể nói, một WS là một ứng dụng có thể gọi được trên Web thông qua
việc sử dụng các chuẩn nh SOAP trên HTTP.
2.2 Nền tảng cơ bản của dịch vụ web
2.2.1 Khái niệm
1. Dịch vụ WS cũng có thể được nói một cách khác là các khối cơ bản được
xây dùng để di chuyển trong hệ thống máy tính phân tán trên Internet. Các
chuẩn mở và việc tập trung vào giao tiếp và làm việc cộng tác giữa con người và
các ứng dông đã tạo nên một môi trưởng nơi mà WS đang trở thành nền tảng
9
cho việc tích hợp ứng dụng. Các ứng dông được xây dựng các WS các loại từ
dụ, ta có thể để mét bảng tính trong MS Excel tổng kết toàn bộ bức tranh tài
chính - chứng khoán, các tài khoản ngân hàng, các khoản vay nợ… Nếu các
thông tin này sẵn sàng thông qua các dịch vụ WS, Excel có thể cập nhật nó liên
tục. Một vài thông tin trong số này có thể xem tù do và một vài cần phải thông
qua việc thuê bao dịch vụ. Hầu hết các thông tin này là sẵn có trên Internet,
nhưng WS sẽ làm cho việc truy cập chúng dễ dàng hơn và đáng tin cậy hơn.
6. Việc trình bày các ứng dông đang có như các dịch vụ WS cho phép
người sử dụng xây dựng các ứng dụng có các tính năng mạnh ôưn thông qua
việc sử dụng WS như những Block được xây sẵn. Ví dụ, người sử dụng có thể
phát triển một ứng dụng mua bán để tù động lấy các thông tin về giá cả từ nhiều
nhà cung cấp khác nhau, cho phép người dùng chọn một nhà cung cấp, chuyển
đơn hàng và sau đó theo dõi việc chuyển hàng cho tới khi nhận được hàng. ứng
dụng của các nhà cung cấp, khi trình bày các dịch vụ của họ trên Web, có thể
quay ra sử dụng các dịch vụ WS để tăng kiểm tra tín dụng của khách hàng, lấy
tiền từ tài khoản của khách hàng và thiết lập viẹc chuyển hàng với một công ty
vận tải.
7. Trong tương lai, sẽ có những dịch vụ WS hỗ trợ các ứng dụng sử dụng
Web để làm mét điều gì đó mà hiện nay ta không thể thực hiện được. Ví dụ,
một trong các dịch vụ mà WS có thể thực hiện là dịch vô đặt lịch. Nếu bác sĩ
nha khoa và kỹ thuật viên cơ khí trình bày lịch của họ thông qua dịch vụ WS
này, ta có thể đặt trước lịch cho các cuộc gặp gỡ với họ một cách trực tuyến
hoặc họ có thể đặt thời gian cho cuộc gặp để chữa răng hay bảo hành thiết bị
trực tiếp trên lịch của ta nếu ta muốn. hãy tưởng tượng, ta có thể hình dung hàng
trăm ứng dụng có thể xây dựng một khi ta có khả năng lập trình trên Web.
2.2.2 SOAAP(simple Object Access Protocol)
1. SOAP là giao thức giao tiếp cho các dịch vụ WS. Vì SOAP được mô tả
nh mét giao thức giao tiếp, hầu hết tất cả mọi người đều nghĩ về DCOM hoặc
CORBA và bắt đầu hái những câu hái đại loại nh “ làm thế nào để SOAP kích
11
hoạt đối tượng?” họăc “ dịch vô đặt tên nào SOAP sử dụng”. SOAP là mét đặc
dụng một bộ cộng cụ SOAP để tạo ra và làm trình biên dịch cho các thông điệp
SOAP. Những bộ công cụ này thường dịch các hàm gọi từ một vài dạng ngôn
ngữ tới dạng thông điệp SOAP. Ví dụ, bộ công cụ MS SOAP 2.0 dịch hàm
COM gọi tới SOAP và bộ công cụ Apache Tooolkit dịch hàm JAVA gọi SOAP.
Các loại chức năng gọi và các dạng dữ liệu của các tham sè được hỗ trợ khác
nhau đối với từng triển khai SOAP vì thế một hàm làm việc với một bộ công cụ
này có thể làm việc với bộ kia. Đây không phải là một hạn chế của SOAP mà là
đơn giản là của một khai triển đặc biệt nào đó mà ta đang sử dụng.
5. SOAP có thể sử dông để liên kết các hệ thống tạp nham khác nhau bên
trong và không cần tổ chức của bạn. Có rất nhiều cố gắng được thực hiện trong
quá khứ để có một giao thức giao tiếp chung có thể sử dông được cho việc tích
hợp hệ thống, nhưng không có cách nào trong sè đó có được ứng dụng rộng rãi
nh với SOAP. Vì sao vậy? Vì SOAP nhá hơn và đơn giản hơn nhiều khi triển
khai so với nhiều giao thức trước đó. DCE (Distributed Computing
Envirinment) và CORBA (Common Object Request Broker Arrchiture) là
những ví dụ- có nhiều năm được tiến hành thực hiện, nhưng chỉ một vài triển
khai là được tung ra thành công. Tuy nhiên, SOAP có thể sử dụng bộ biên dịch
XML và các thư viện hiện hành để thay thế hầu hết các công việc nặng nhọc, vì
thế một triển khai SOAP có thể hoàn tất trong một tháng. Điều này giải thích vì
sao có nhiều triển khai SOAP đang tồn tại.
6. Tính phổ dụng của HTTP và sù đơn giản của SOAP làm cho chúng trở
thành nền tảng lý tưởng cho việc triển khai dịch vụ WS và chúng có thể được
gọi từ hầu hết mọi môi trường.
2.2.3 Về vấn đề an ninh?
1. Mét trong những câu hái đầu tiên đối với một người mới làm việc với
SOAP là SOAP làm việc nh thế nào với vấn đề an ninh? Khi mới được phát
triền, SOAP được xem nh là một giao thức dùa trên HTTP người ta giả định là
an ninh HTTP có thể tương xứng đối với SOAP. Cuối cùng, có hàng ngàn ứng
13
dụng Web chay hôm nay sử dụng an ninh HTTP nên chắc chắn điều này là
mô tả các giao diện dich vô WS truy nhập từ các nền tảng khác nhau và từ các
ngôn ngữ lập trình khác nhau. Hơn nữa, để mô tả nội dung các thông điệp,
WSDL xác định nơi mà dịch vụ sẵn sàng và giao tiếp nào được sử dông để nói
chuyện được với dịch vô. Điều này có nghĩa là tệp WSDL xác định mọi yêu cầu
để viết một chương trình làm việc với dịch vụ WS. Có vài công cụ sẵn có để đọc
mét tệp WSDL và tạo ra các mã theo yêu cầu để giao tiếp với một dịch vụ WS.
4. Nhiều bộ công cụ SOAP hiện hành cho phép tạo các tệp WSDL từ giao
diện chương trình hiện hành, nhưng cũng có một số Ýt công cụ cho phép viết
WSDL trực tiếp. Ngày nay, có thể nói WSDL sẽ trở thành cách ưu điểm trong
việc tạo ra các giao diện SOAP cho dịch vụ WS.
2.2.5 UDDI
1. Tích hợp và mô tả trình bày tổng hợp UDDI (Universal Discovery
Desscription and Integration) là các trang vàng của dịch vụ WS. Giống nh các
trang vàng truyền thống, ta có thể tìm một công ty chào các dịch vụ ta cần, đọc
về những thứ mà dịch vô đưa ra phục vụ và liên hệ với ai đó để tìm hiểu thêm
các thông tin liên quan. Tất nhiên, ta có thể mở một thương vô trong tầng hầm
của ta và dùa trên quảng cáo bằng lời truyền miệng nhưng nếu ta muốn có được
mét thị trường đáng kể, ta cần có UDDI so cho các khách hàng của ta có thể tìm
thấy ta.
2. Một nội dung thư mục UDDI là một tệp XML mô tả một nghiệp vụ và
các dịch vụ nó chào. Có 3 phần đối với một nội dung trong thư mục UDDI đó. “
Trang trắng” mô tả công ty chào dịch vụ: tên, địa chỉ, các thông tin liên hệ,…
“Trang vàng” bao gồm các chủng loại công nghệ dùa trên các nguyên tắc phân
loại tiêu chuẩn nh Hệ thống phân loại công nghệ Bắc Mỹ chẳng hạn. “ Trang
xanh” mô tả giao diện đối với dịch vụ một cách đủ chi tiết cho ai đó có thể viết
một ứng dụng sử dụng dịch vụ WS này. Cách thức mà các dịch vô được xác
định là thông qua mét văn bản UDDI gọi là kiểu dạng (Type Model) hoặc là
Tmodel. Trong nhiều trường hợp, Tmodel này chứa một tệp WSDL mô tả giao
15
diện SOAP đối với một diịch vụ WS, nhưng Tmodel còng đủ mềm dẻo để mô tả
máy chủ với nhau và việc thiết lập các máy chủ này một cách chủ động cho việc
xử lý cũng là một phần của kiến trúc dịch vụ WS toàn cầu và sẽ đạt được thông
qua đặc tả kỹ thuật định tuyến của WS và các đặc tả kỹ thuật tham chiếu của
WS. Khi kiến trúc dịch vụ WS toàn cầu phát triển, các đặc tả kỹ thuật đối với
những nhu cầu nh vậy và cả những nhu cầu khác nữa sẽ được đưa ra.
3. NGHIÊN CỨU MỘT SỐ MÔ HÌNH ÁP DỤNG DỊCH VỤ WEB (WS)
TRÊN THẾ GIỚI.
3.1 Sử dụng dịch vụ WS để tương hợp dữ liệu tại tổ chức Nông lương thế giới
FAO (Food and Agriculture Organization)
3.1.1 Tóm lược
Trong tài liệu này chúng tôi trình bày kinh nghiệm sử dụng WS để hỗ trợ
tính tương hợp các nguồn dữ liệu Tổ chức Nông lương thế giới của Liên hợp
quốc. Chúng tôi mô tả kiến trúc thông tin dạng theo tuyến (bus) dùa trên các WS
nhằm hỗ trợ thông qua việc truy cập đa ngôn ngữ tới các dữ liệu được lưu trữ
trong các nguồn dữ liệu khác nhau và tạo nên các báo cáo động. Kiến trúc này
lưu giữ được tính tự quản của các nguồn dữ liệu tham gia và cho phép cải tiến
hệ thống bằng cách thêm hoặc bớt các nguồn dữ liệu. Hơn nữa, nhờ vào các đặc
tính của WS về việc dấu đi các chi tiết triển khai của các dịch vụ cho nên có thể
được sử dụng một cách độc lập với nền tảng phần cứng và phần mềm mà trên đó
chóng triển khai, kiến tróc được đưa ra hỗ trợ bài toán về sự khác biệt công nghệ
đang được sử dụng rất thịnh hành trong tổ chức FAO và làm giảm bớt khó khăn
phải chỉ định mét công nghệ duy nhất trong toàn bộ tổ chức. Chúng tôi thảo luận
về những lợi Ých còng nh khiếm khuyết của tiếp cận này và những kinh nghiệm
có được trong khi phát triển kiến trúc của chúng tôi.
3.1.2 Giới thiệu
1. Sự phát triển của các hệ thống mạng máy tính phân tán đã cung cấp nền
tảng công nghệ cho việc truy cập dữ liệu và các ứng dụng từ xa. Việc phát triển
17
các hệ thống khác nhau cũng làm gia tăng tiện Ých của các hệ thống này, nhưng
không giải quyết được vấn đề tương hợp giữa các ứng dụng khác nhau. Các ứng
dữ liệu được phân tán trong nhiều nguồn khác nhau từ cả hai phái bên trong và
bên ngoài tổ chức. Điều quan trọng là chia sẻ dữ liệu giữa các hệ thống nhanh
chóng và dễ dàng, không cần phải yêu cầu các hệ thống phải được “trói lại” chặt
chẽ với nhau. Nói một cách đơn giản là các hệ thống đang tồn tại cần phải “nói
chuyện” được với nhau. Một vấn đề chính nữa liên quan tới thực tế là bên trong
tổ chức sử dụng 2 công nghệ khác nhau (Microsoft ASP [5] và Java
JSP/sevlet[20]) một cách rất rộng rãi và vì thế rất khó để theo chỉ một công nghệ
nào trong toàn bộ tổ chức FAO.
5. Trong tài liệu này trình bày một cách tiếp cận dùa trên các dịch vụ web
WS[17] và công nghệ ngôn ngữ đánh dấu mở rộng XML (eXtenxible Markup
Language) để cho phép tính tương hợp đối với các nguồn dữ liệu khác nhau có
trong tổ chức FAO. Đây là một tiếp cận nhẹ nhàng và dùa trên việc sử dụng một
kênh thông tin cho phép dữ liệu giữa các nguồn thông tin khác nhau được triển
khai bởi việc sử dụng các công nghệ khác nhau có thể trao đổi được với nhau.
Kênh thông tin hỗ trợ truy cập đa ngôn ngữ tới các dữ liệu được lưu trữ tới các
nguồn dữ liệu khác nhau, quản lý siêu dữ liệu theo cùng một cách và cho phép
siêu dữ liệu được sử dông nh các mẫu trao đổi FAO. Cách tiếp cận này cũng hỗ
trợ tạo các báo cáo động. Mét công cụ mẫu được triển khai để trình diễn và đánh
giá tiếp cận này.
(Ve hinh)
3.1.3 Đặt vấn đề
1. Tổ chức FAO có khoảng 200 hệ thống cung cấp thông tin cho việc truy
cập trên Internet, được triển khai trên hai công nghệ khác nhau: Microsoft ASP
[5] và JavaB JSP/servlets[20]. Các nguồn dữ liệu này cần chia sẻ và trao đổi các
dữ liệu giữa chúng với nhau mét cach dễ dàng. Tuy nhiên, việc sử dụng hai công
nghệ này rất rộng rãi trong tổ chức và không thể bắt tuân theo một công nghệ
duy nhất nào. Hơn nữa, cần phải tránh việc phải viết lại các ứng dụng hiện có.
19
2. Kiến trúc các thông tin hiện hành được chỉ ra trên hình 1. Nã bao gôm
các nguồn thông tin(các hệ thống cơ sở dữ liệu) chứa các dạng dữ liệu khác
dữ liệu không dễ dàng mở rộng khi các dữ liệu mới hoặc các phương án ngôn
ngữ được bổ sung. Những khó khăn khác liên quan tới việc hỗ trợ và trình bày
siêu dữ liệu và trao đổi siêu dữ liệu theo cách thức tiêu chuẩn cũng như việc
định dạng bản gốc tiêu chuẩn. Trong tổ chức FAO mét kho văn bản đã được
phát triển với mục đích lưu trữ phổ biến tất các xuất bản phẩm bằng điện tử.
Kho này lưu trữ các biên bản họp, các văn bản siêu dữ liệu và dữ liệu chỉ mục.
Các giao diện ASP khác nhau cho phép tìm kiếm kho văn bản theo dạng, ngôn
ngữ và đối tượng của văn bản. Tuy nhiên, không có cách tiêu chuẩn nào để quản
lý các phương án ngôn ngữ của các văn bản hoặc các kiến trúc dữ liệu khác nhau
như các thông tin đặc trưng của quốc gia và siêu dữ liệu. Từ điển dữ liệu đa
ngôn ngữ về nông nghiệp(AGROVOC) [2] từ FAO được áp dụng cho web nh
mét chiến lược đảm bảo một vài tính phù hợp với mô tả/phát kiến của các
nguồn. Tuy nhiên, chúng không đạt tới mức một công cụ hoàn chỉnh cho mục
đích này theo nghĩa là cần thêm thuật ngữ đặc trưng của đối tượng và nhiều thứ
khác mà từ điển đồng nghĩa truyền thống đưa ra.
3.1.4 Công việc liên quan
1. Thách thức và tương hợp các hệ thống phân tán, đặc biệt là các hệ thống
cơ sở dữ liệu, đã tồn tại lâu nay và được nghiên cứu rất quyết liệt. Nhiều tiếp cận
đã được đưa ra cho phép tích hợp và tương hợp các hệ thống phân tán và được
phát triển một cách độc lập với nhau. Những tiếp cận này được đưa ra nh mét
kết quả công việc nghiên cứu cả trong giới hàn lâm lẫn trong giới công nghiệp.
Chúng ta có thể chia tiếp cận này thành 2 nhóm chính. Trong nhóm đầu mét mô
hình toàn cầu được sử dụng như mét líp khác nhau trên đỉnh các mô hình đang
tồn tại và cho phép người sử dụng các ứng dụng bức tranh về một hệ thống cơ
sở dữ liệu tập trung duy nhất.
21
2. Ví dụ của tiếp cận này nh hệ thống DATAPLEX [9], DDTS [13],
MULTIBASE [29] vàPEGASUS [3]. Tuy nhiên, việc xây dựng một mô hình
tiàn cầu không đơn giản, không đảm báo tính tự chủ của các hệ thống cơ sở dữ
liệu tham gia và không cho phép việc cải tiến hệ thống một cách dễ dàng về