Đề tài: Thực trạng huy động vốn của DN vừa và
nhỏ Nhóm 05:
Nguyễn Việt Anh
Nguyễn Thiên Cương
Nguyễn Anh Quang
Phạm Đình Quân
Lê Tiến Thành
Tạ Minh Trang
Phạm Thị Trình
Dương Văn Tuấn
A.Các hình thức huy động vốn theo lý thuyết
1. Huy động vốn tăng vốn chủ sở hữu:
Hình
thức
Khái niệm
Ưu điểm
Nhược điểm
Tăng
vốn
góp
Vốn ban đầu là số
vốn do CSH góp
khi doanh nghiệp
được thành lập.
Đây là vốn góp của CSH nên
Giúp DN dễ dàng qhtd với cổ
đông, ngân hàng, các tổ chức
tín dụng.
Tăng lợi nhuận cho kỳ sau
Nhược điểm: muốn sử dụng
nguồn vốn này phải được sử
đồng ý của các CSH →
không chủ động được. chỉ
áp dụng với các DN lớn, có
lãi liên tục và đều đặn.
Không thể áp dụng thường
xuyên vì ảnh hưởng đến
quyền lợi của cổ đông
Cổ
phiếu
Cổ phiếu là một
loại chứng khoán
được phát hành
nhằm xác nhận
quyền sở hữu và
lợi ích hợp pháp
của người sở hữu
đối với tài sản hoặc
vốn của một công
ty cổ phần
Giúp thu được lượng vốn lớn.
Nâng cao khả năng vay vốn
của doanh nghiệp.
Không phải trả lại tiền gốc
cũng như không bắt buộc phải
giá rẻ so với vay ngân
hàng.
+Tiết kiệm thuế thu nhập
do lãi suất là chi phí.
+Là đòn bẩy tài chính cho
doanh nghiệp.
+Có thể gây rủi ro cho
DN nếu tính thanh
khoản không cao.
+Phát hành số lượng
lớn -> Áp lực trả nợ
cao+ Khó khăn khi
huy động vốn lần tiếp
theo.
Vay
vốn
ngân
hàng
Là vốn vay từ các ngân
hàng thương mại, tổ chức
trung gian tài chính
khác…
+Thời gian vay được
nhanh.
+Chi phí vay giảm bớt
+Tính linh hoạt cao do có
sự thỏa thuận giữa doanh
nghiệp và ngân hàng.
+Điều kiện vay chặt
chẽ, kiểm soát cao.
B. Hiện trạng
1. Huy động vốn tăng vốn chủ sở hữu:
a. TĂNG VỐN GÓP
Đại hội cổ đông năm 2012 của ACB đã thông qua phương án tăng thêm 3.000 tỉ đồng
vốn điều lệ, từ 9.300 tỉ đồng lên 12.300 tỉ đồng.ACB sẽ phát hành thêm 300 triệu cổ
phiếu theo hai đợt: Phát hành cổ phiếu đợt 1 để chia cổ tức năm 2011 và thưởng cho
các cổ đông với tỉ lệ 10:1; đợt 2 sẽ phát hành cổ phiếu theo tỉ lệ 5:1; thời gian thực
hiện dự kiến đầu quý III/2012.
b. TĂNG LỢI NHUẬN ĐỂ LẠI
2 Chiến lược chính: tăng doanh thu và giảm chi phí. Ở khâu này các doanh nghiệp
vừa và nhỏ thực hiện rất tốt. Chúng ta có thể lấy 1 ví dụ về công ty nhựa Đông Á.
Kế hoạch
Thực tế
% thực
hiện Kế hoạch
Thực tế
% thực
hiện
2007
66,012
65,593
99,4%
2007
65,000
được qua TTCK (bao gồm hoạt động IPO, phát hành cổ phiếu, phát hành trái phiếu)
năm 2012 là 41 nghìn tỷ đồng, giảm 30% so với năm 2011
Huy động vốn từ phát hành lần đầu ra công chúng đạt 296 tỷ VND với 16 công ty
thực hiện phát hành lần đầu. Trong đó, duy nhất trường hợp đấu giá phần nắm giữ cổ
phần của Tổng công ty Du lịch Sài Gòn tại Ngân hàng TMCP Kiên Long có mức giá
đặt mua thành công ở dưới mệnh giá, trung bình gần 9.000 đồng/cổ phiếu.
Huy động từ phát hành cổ phiếu đạt gần 11 nghìn tỷ đồng, chỉ bằng 28% so với năm
2011.
2. Huy động thông qua Nợ phải trả:
a. Tín dụng thương mại:
Bianfishco chỉ còn nợ trên 245,1 tỷ đồng của nông dân.Công ty cũng nợ vốn của 9
ngân hàng, với tổng số nợ ngoại tệ trên 16,4 triệu USD tương đương 344,8 tỷ đồng.
Cộng với nợ nông dân và ngân hàng thì tổng nợ của Bianfishco là hơn 1.275 tỷ đồng.
Công ty Cổ phần Hoàng Anh Gia Lai (HAG) nợ 144 tỷ đồng. Thị trường bất động sản
đóng băng cũng dẫn tới khó khăn của một số doanh nghiệp, thậm chí tiền thuế nợ lên
tới hàng trăm tỷ đồng như Công ty Cổ phần Hoàng Anh Gia Lai (HAG) nợ 144 tỷ
đồng.
b. Phát hành trái phiếu
Nếu như cuối những năm 1990 và đầu năm 2000 ở Việt Nam mới chỉ có một vài giao
dịch phát hành trái phiếu DN với quy mô nhỏ, thì đến trong năm 2009 đã có 39 giao
dịch phát hành với tổng khối lượng vốn huy động đạt gần 30.000 tỷ đồng; năm 2010
có 45 giao dịch phát hành với tổng lượng vốn huy động đạt gần 45.500 tỷ đồng. Trái
phiếu DN đã có xu hướng chuyển dịch cơ cấu tỷ lệ phát hành lớn từ khu vực DN nhà
nước sang khu vực các công ty cổ phần, công ty TNHH.
Cuối tháng 3/2011 Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai thực hiện niêm yết hơn 24,3 triệu
chứng chỉ lưu ký toàn cầu (GDRs) trên Sở Giao dịch Chứng khoán London. Quy mô
của đợt phát hành đã tăng lên đến 90 triệu USD.
Số trái phiếu trên có thời hạn 5 năm, và HAG sẽ trả trước một phần sau 3 năm. Lãi
suất coupon được cố định ở mức 9,875%. Khoản tiền vay sẽ được hoàn trả 20%/lần
vào năm 2014; 20% vào năm 2015; và cuối cùng 60% vào năm 2016 khi trái phiếu
C. Giải pháp
1. Về phát huy các chính sách và cơ chế đã có
a. Về phát huy các chính sách và cơ chế đã có
Nghị Định 41/2010/NĐ-CP. Theo đó: NHNN là cơ quan đầu mối phối hợp với các Bộ,
các chính quyền địa phương và các Hội Nông dân, Phụ nữ, Cựu chiến binh, Thanh
niên đồng trách nhiệm tổ chức các hình thức tư vấn và tổ chức tạo thuận lợi cho các
đối tượng được tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng và phía các ngân hàng được hưởng
những chính sách ưu đãi về mức dự trữ bắt buộc, mức tái cấp vốn, tái chiết khấu cho
những TCTD nào có tỷ trọng dư nợ lớn cho các đối tượng của Nghị định và nhất là
các đối tượng có dự án khả thi về phát triển nông nghiệp, nông thôn ;
b. Về môi trường cạnh tranh,
Hàng ngàn Công ty, DNNN đã đồng loạt được điều chỉnh thống nhất bởi Luật Doanh
nghiệp chung có hiệu lực từ ngày 01/7/2010. Đây là một sự kiện pháp lý đánh dấu
việc hội nhập thị trường của các Công ty Nhà nước và cũng sẽ là cơ hội cho môi
trường thị trường ngày càng đồng chất hơn, lành mạnh và minh bạch hơn, các
DNVVN có thể phát huy lợi thế về vị thế mới này trong việc tiếp cận vốn và cạnh
tranh bình đẳng trên thị trường
Tuy nhiên, các giải pháp về chính sách, về cơ chế dịch vụ bảo hiểm và/hoặc bảo lãnh
v.v hiện hành mới chỉ là những điều kiện hỗ trợ và/hoặc những phương án tình thế sau
cùng hay là những giải pháp để bổ sung niềm tin cho việc cung ứng tín dụng của
TCTD cho bên vay nói chung và cho DNVVN nói riêng. Để giải bài tóan vốn cho
DNVVN cần phải bổ sung các giải pháp mạnh và thiết thực hơn.
2. Nhóm giải pháp về ý tưởng làm nền cho chính sách, cơ chế mới
Thông tin tín dụng khách hàng: Gần đây Nghị định số 10/2010/NĐ-CP về hoạt động
thông tin tín dụng đã ra đời, trong đó cho phép thành lập các Công ty cung ứng dịch
vụ thông tin tín dụng ngoài công lập, cũng sẽ là một kênh tham khảo quan trọng để bổ
sung cho quyết định phương án cho vay đối với DNVVN của TCTD;
Kênh giao dịch bảo đảm thông qua các hình thức chứng thực của cơ quan có tư cách
pháp nhân và chịu trách nhiệm trước Pháp luật về việc chứng thực, chứng nhận tính
đúng pháp lý của các tài sản đảm bảo khoản vay của các DNVVN;
- Trong giai đoạn khó khăn hiện nay thì chính các doanh nghiệp phải tự
động tái cấu trúc, sử dụng nguồn vốn tiết kiệm và hiệu quả , tập trung
nguồn lực vào các lĩnh vực chuyên sâu của mình, trong trường hợp cấp
thiết thì mới vay ngân hàng. Các doanh nghiệp nên sớm niêm yết cổ phiếu
của mình trên thị trường chứng khoán để huy động vốn trên thị trường
này, không nên chỉ phụ thuộc nguồn vốn vay.
2. Thông tin khách hàng có tác dụng như thế nào???
- Gần đây Nghị định số 10/2010/NĐ-CP về hoạt động thông tin tín dụng đã
ra đời, trong đó cho phép thành lập các Công ty cung ứng dịch vụ thông
tin tín dụng ngoài công lập, cũng sẽ là một kênh tham khảo quan trọng để
bổ sung cho quyết định phương án cho vay đối với DNVVN của TCTD;
- Xếp hạng tín dụng là 1 cách hiệu quả trong viecj cung cấp thông tin của
khách hàng , xếp hạng tín dụng giúp tạo lập môi trường công bằng, khách
quan trong quan hệ tín dụng ,góp phần phát triển nền kinh tế, giảm rủi ro
tài chính. Việc xếp hạng có vai trò quan trọng góp phần tiếp cận thị trường
của các doanh nghiệp , giảm giá thành tín dụng , giảm thiểu rủi ro với việc
ko trả đk nợ.
- Thông tin của khách hàng giúp các nhà tín dụng giảm chi phí và thời gian
ra quyết định cho vay thông qua thực hiện các chính sách khách hàng như
hạn mức cho vay , thời hạn cho vay, giá trị tài sản đảm bảo cần cho các
khoản vay, lãi suất cho vay, quản lý tốt hơn các danh mục cho vay, giám
sát và đánh giá các khoản tín dụng cho biết khoản vay có chất lượng tốt
hay đang có xu hường từ đó đưa ra đk các giải pháp kịp thời. thông tin
khách hàng cũng giúp cho các nhà tín dụng có chiếm lược cụ thể qua đó
hướng tới các khách hàng tốt và ít rủi ro hơn , quản trị tín dụng tốt hơn
3. Câu hỏi: Tại sao hình thức huy động vốn bằng cách tăng vốn góp chủ sỡ hữu
và tăng lợi nhuận giữ lại có thực sự dễ huy động hay không?
- Hình thức này dễ huy động bởi chính nhưng ưu điểm của nó:
- Không tốn kém chi phí và không phải hoàn trả đối với VCSH, do đây là
chính là nguồn vốn của các chủ sỡ hữu nên không phải hoàn trả lại(lợi thế
doanh nghiệp phát hành nhằm mục đích huy động vốn đầu tư dài hạn cho
doanh nghiệp. Trái phiếu DN có 5 loại : trái phiếu có đảm bảo, trái phiếu
không có đảm bảo, trái phiếu có lãi suất ổn định, trái phiếu có lãi suất thả
nổi, trái phiếu có thể chuyển đổi.
- Cổ phiếu : là loại chứng khoán được phát hành nhằm xác nhận quyền sở
hữu và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc vốn của 1
công ty cổ phần.
Lãi suất mà các cổ đông nhận được từ hình thức này thường cao hơn so
với trái tức nhận được từ hình thức đầu tư trái phiếu. Tuy nhiên tính ổn
định không cao bằng trái phiếu.
- Vay ngân hàng : là hình thức huy động vốn mà hầu hết các DN đều áp
dụng. Với hình thức này các DN có thể huy động vốn nhanh hơn và với 1
lượng vốn nhiều hơn so với 2 hình thức trên. Lãi suất vay ngân hàng cũng
ổn định, tuy nhiên cũng còn cao hơn so với 2 hình thức trên.
- Vậy nên vay ngân hàng vẫn là hình thức huy động vốn quan trọng nhất
của các DN.
5. Câu hỏi: Cách thức huy động vốn trong thời kỳ khó khăn (2010 – 2011)
- Thời kỳ 2010 – 2011 để nhận được sự hỗ trợ cho vay vốn từ ngân hàng là
vô cùng khó khăn và mạo hiểm, nhiều DN vừa và nhỏ đã tự tìm một số
cách huy động vốn thích hợp để tiếp tục hoạt động:
1) Vốn từ nội tại (tăng VCSH): Trong bối cảnh lãi suất lên cao, đầu ra sản
phẩm khó khăn, đối tượng có thể huy động vốn với “chính sách linh hoạt”
đầu tiên mà các ông chủ doanh nghiệp nghĩ đến là người thân, gia đình và
bạn bè.
- Hình thức vay này nhìn chung là đơn giản vì không cần phải thế chấp tài
sản do dựa trên mối quan hệ thân thiết giữa người vay và người cho vay.
Song nếu doanh nghiệp không hạch toán nguồn vốn này như một khoản
vay chính thức thì rất dễ đến tình trạng chủ sở hữu tín dụng tự ý quyết
định hoạt động vốn. Đã có nhiều doanh nghiệp bị phá sản và thua lỗ, mối
quan hệ quý báu cũng bị tổn hại.
tư quá ít, sắp xếp thay phiên nhau nghỉ để giảm tải quỹ lương cho công ty
và thực hành tiết kiệm triệt để chi phí sản xuất, vận hành là cách mà một
số doanh nghiệp ngành xây dựng tự cứu lấy mình. Việc tiết kiệm chi phí
vận hành từ văn phòng đến thi công “cực kỳ” quan trọng vì: giảm được
tiền phải chi trả là cái lợi đầu tiên trông thấy, rèn được ý thức kỷ luật,
ngăn nắp của nhân viên là cái lợi lâu dài.
- Cũng do đặc trưng của mỗi ngành nghề, yêu cầu về tay nghề, trình độ của
nhân sự ở một số ngành như: xây dựng, cơ khí, nha khoa… nên các chủ
doanh nghiệp không thể cắt giảm hoàn toàn được vì khi cần không thể có
ngay nhân sự đáp ứng. Giải pháp thường thấy là cho nhân viên nghỉ luân
phiên hoặc tạm nghỉ việc nhưng vẫn được đảm bảo trả 80% lương cơ bản.
4) “Tín dụng đen”: Vạn bất đắc dĩ các doanh nghiệp mới phải sử dụng
nguồn vốn này vì lãi suất của nó quá lớn và độ rủi ro cao. Tuy nhiên, đây
lại là nguồn vốn dồi dào và linh động không kém so với ngân hàng. Nhiều
người còn ví các tổ chức tín dụng không công khai này như là ngân hàng
thu nhỏ bởi lượng tiền giao dịch khá lớn. Sở dĩ, các doanh nghiệp tìm đến
nguồn tín dụng này là do sự cấp bách về tài chính trong một khoảng thời
gian ngắn.
- Thông thường, lãi suất vay tại thị trường “tín dụng đen” này được tính
theo kiểu nghìn đồng/triệu/ngày, dao động từ 2.500đ/triệu/ngày đến
3.000đ/triệu/ngày… Đây là giá phổ biến với các tổ chức tín dụng được coi
là “uy tín”. Nhưng với tỷ lệ lãi suất “ngất ngưởng” như vậy thì cả bên vay
và bên cho vay đều đã ngầm hiểu với nhau về mức độ rủi ro rất lớn.