luận văn tốt nghiệp sư phạm địa lí Du lịch huyện Tam Đảo: tiềm năng, thực trạng và định hướng phát triển - Pdf 24

Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Liên - K60 TN - Địa

MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Cũng như nhiều ngành khoa học, kỹ thuật, nghệ thuật, sản xuất, ngành Du
lịch được hình thành từ rất sớm trong bối cảnh lịch sử nhất định.
Bước sang thế kỉ XXI thì Du lịch đã trở thành một thuật ngữ quen thuộc
với mọi tầng lớp trên thế giới. Trải qua một quá trình phát triển lâu dài, với
nhiều biến động thăng trầm phức tạp thì ngày nay hoạt động du lịch là một trong
những hoạt động thường xuyên và phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới.
Ngành Du lịch chính là một mũi nhọn để nhiều quốc gia phát triển nền kinh tế
của mình. Đồng thời nó còn là chiếc cầu nối tình đoàn kết quốc tế, tình đoàn kết
dân tộc, cho phép tất cả mọi người trên thế giới có điều kiện tham quan học hỏi,
chiêm ngưỡng những danh lam thắng cảnh, tìm hiểu phong tục tập quán và có
điều kiện nghỉ ngơi chữa trị bệnh tật.
Ngay tại Việt Nam đi du lịch cũng là nhu cầu từ xa xưa và các thế hệ
người Việt Nam cũng đã có những chuyến du lịch nổi danh trong lịch sử.
Cũng như nhiều quốc gia trên thế giới nền kinh tế nước ta đang phát triển
ngày càng vượt bậc. Ở Việt Nam, nhờ chính sách Đổi mới của Đảng và Nhà
nước, đặc biệt là chính sách kinh tế, đối ngoại mà bộ mặt đất nước đã có những
bước tiến nhất định. Và ngành Du lịch được coi là một trong những ngành có
tầm quan trọng và có ý nghĩa to lớn trong định hướng phát triển kinh tế - xã hội
của đất nước. Việt Nam vốn giàu tài nguyên du lịch và đang từng bước khai
thác, bảo vệ nguồn tài nguyên ấy. Loại hình du lịch văn hóa, du lịch môi trường
sinh thái được xác định là quan trọng nhất trong việc phát triển du lịch Việt
Nam, sức hấp dẫn và khả năng thực hiện các hoạt dộng du lịch theo định hướng
ấy ngày nay đang được quan tâm.
Là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ, Vĩnh Phúc cách thủ đô Hà
Nội 80km về phía tây bắc, tiếp giáp với sân bay quốc tế Nội Bài, là điểm đầu
của quốc lộ 18 đi cảng nước sâu Cái Lân (Quảng Ninh), có tuyến đường sắt liên
vận Hà Nội – Lào Cai đi Vân Nam (Trung Quốc) và các tuyến quốc lộ 1A, quốc

2
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Liên - K60 TN - Địa

II. MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI
2.1. Mục tiêu
Mục tiêu chủ yếu của đề tài là nghiên cứu tiềm năng và thực trạng hoạt
động của du lịch Tam Đảo, từ đó bước đầu đưa ra hướng và giải pháp phát triển
du lịch huyện Tam Đảo đến năm 2020.
2.2. Nhiệm vụ
Đề tài giải quyết được những nhiệm vụ:
- Kiểm kê, khảo sát và đánh giá tiềm năng du lịch, cơ sở hạ tầng, chính
sách phát triển du lịch.
- Phân tích thực trạng hoạt động du lịch của Tam Đảo trên một số chỉ tiêu
chủ yếu, rút ra những mặt đạt được và chưa đạt được của du lịch Tam Đảo.
- Bước đầu định hướng khai thác và đề xuất một số giải pháp cơ bản góp
phần tích cực vào sự phát triển du lịch Tam Đảo đến năm 2020.
2.3. Giới hạn của đề tài
- Phạm vi không gian: nghiên cứu của khóa luận giới hạn trong huyện
Tam Đảo – tỉnh Vĩnh Phúc, bao gồm khu du lịch Tam Đảo và khu danh thắng
Tây Thiên.
- Thời gian nghiên cứu: từ năm 2005 – 2013, và định hướng đến năm
2020. Đây là giai đoạn ngành du lịch Tam Đảo có sự phát triển mạnh mẽ, có
những đầu tư vượt trội nhằm phát triển du lịch Tam Đảo và quảng bá thương
hiệu Tam Đảo, đồng thời góp phần phát triển kinh tế của huyện Tam Đảo, góp
phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.
III. QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Những quan điểm chủ yếu sử dụng trong đề tài
3.1.1. Quan điểm tổng hợp
Đây là quan điểm quan trọng nhất trong quá trình nghiên cứu địa lí. Quan
điểm này đòi hỏi phải phân tích đối tượng nghiên cứu như một hệ thống động

về xu hướng phát triển. Quan điểm này được vận dụng trong quá trình phân tích
các giai đoạn chủ yếu của quá trình hình thành, phát triển hệ thống du lịch, các
phân hệ cũng như xu hướng phát triển của hệ thống lãnh thổ.
Từ khi huyện Tam Đảo được thành lập, Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc
đã xác định đây là huyện có tiềm năng du lịch lớn của Vĩnh Phúc. Vì vậy, tỉnh
Vĩnh Phúc đã, đang và sẽ có những chính sách, chiến lược phát triển đúng đắn
nhằm khai thác tiềm năng này một cách hiệu quả.
3.1.4. Quan điểm sinh thái
Khi đánh giá tiềm năng du lịch không thể không nói đến tài nguyên du
lịch tự nhiên, một nguồn lực cơ bản để phát triển ngành. Đồng thời, quan điểm
sinh thái đòi hỏi trong quá trình khai thác phát triển cần quan tâm đến tác động
Du lịch Tam Đảo - Tiềm năng, hiện trạng và định hướng phát triển
4
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Liên - K60 TN - Địa

của du lịch đối với môi trường tự nhiên, đảm bảo cho sự phát triển bền vững
trong tương lai.
Vườn quốc gia (VQG) Tam Đảo có hệ động – thực vật rất phong phú và
đa dạng, đây là tài nguyên du lịch tự nhiên quan trọng trong việc phát triển các
loại hình du lịch sinh thái, du lịch nghiên cứu,… Tuy nhiên, trong quá trình phát
triển du lịch đã gây ra những tác động tiêu cực tới môi trường tự nhiên như:
nguồn nước thải gây ô nhiễm thủy vực; vứt rác bừa bãi, khí thải của phương tiện
giao thông gây ô nhiễm môi trường không khí, phát triển hoạt động du lịch
thiếu kiểm soát sẽ làm nhiễu loạn sinh thái như: đất bị xói mòn, sạt lở; biến động
nơi cư trú của các loài động thực vật, Vì vậy, đây là một vấn đề cấp thiết đang
đặt ra đòi hỏi các cấp, các ngành của huyện Tam Đảo quan tâm và tìm các biện
pháp giải quyết.
3.2. Phương pháp nghiên cứu
3.2.1. Phương pháp thu thập và xử lí số liệu
Đây là phương pháp truyền thống thường được sử dụng trong nghiên cứu

3.2.5. Phương pháp khai thác phần mềm của hệ thống thông tin
Ngoài phần mềm cơ bản Windows được sử dụng trong quá trình thực hiện
đề tài, tác giả còn sử dụng các phần mềm khác như: Exel, Mapinfo,…
IV. CẤU TRÚC KHÓA LUẬN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, ảnh
minh họa, nội dung chính của khóa luận được trình bày trong 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về phát triển du lịch
Chương 2: Tiềm năng phát triển du lịch ở huyện Tam Đảo
Chương 3: Thực trạng phát triển du lịch ở huyện Tam Đảo
Chương 4: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch huyện Tam Đảo
đến năm 2020.
Chương 1:
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Các khái niệm
1.1.1.1. Du lịch
Do hoàn cảnh (thời gian, khu vực) khác nhau, dưới mỗi góc độ nghiên cứu
khác nhau, mỗi người có một cách hiểu về du lịch khác nhau. Đúng như GT.TS
Berneker – một chuyên gia hàng đầu về du lịch trên thế giới đã nhận định: “Đối với
du lịch, có bao nhiều tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa”.
Theo Liên hiệp quốc các tổ chức lữ hành chính thức (International Union
of Officicl Travel Oragnization IUOTO): “Du lịch được hiểu là hành động du
hành đến một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục
đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm
tiền sinh sống…” [12].
Tại hội nghị Liên hợp quốc về du lịch tại Roma năm 1963, các chuyên gia
đưa ra định nghĩa về du lịch: “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng
Du lịch Tam Đảo - Tiềm năng, hiện trạng và định hướng phát triển
6
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Liên - K60 TN - Địa

này sang nơi khác, mà còn sinh ra nhiều hiện tượng kinh tế - xã hội gắn liền với nó.
1.1.1.2. Tài nguyên du lịch
Du lịch Tam Đảo - Tiềm năng, hiện trạng và định hướng phát triển
7
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Liên - K60 TN - Địa

Tài nguyên du lịch là những phân hệ quan trọng, có tính chất quyết định
trong việc phát triển của hệ thống lãnh thổ du lịch. Tài nguyên du lịch tồn tại trong
sự vận động, phát triển không ngừng theo những quy luật khách quan, có mối quan
hệ giữa các thành phần của từng loại tài nguyên và giữa các tài nguyên [11].
Tài nguyên du lịch là khách thể của du lịch, là cơ sở phát triển của ngành du
lịch và tất cả các nhân tố có thể kích thích động cơ du lịch của khách được ngành du
lịch tân dụng, từ đó sinh ra lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội thì đều gọi là tài nguyên
du lịch. Nói một cách tóm tắt, hễ là nhân tố thiên nhiên, nhân văn và xã hội có thể
thu hút khách thì gọi là tài nguyên du lịch [11].
Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên và văn hóa lịch sử cùng các thành
phần của chúng góp phần khôi phục, phát triển thể lực, trí lực của con người,
khả năng lao động và sức khỏe của họ. Những tài nguyên này được sử dụng trực
tiếp và gián tiếp cho việc sản xuất dịch vụ du lịch [17].
Theo Luật Du lịch của Việt Nam, năm 2005: “Tài nguyên du lịch là cảnh
quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, công trình lao động
sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm
đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du
lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch” [3].
Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch đang khai thác và tài
nguyên du lịch chưa khai thác. Mức độ khai thác tài nguyên du lịch phụ thuộc
vào: khả năng nghiên cứu phát hiện và đánh giá tiềm năng tài nguyên vốn còn
tiềm ẩn, yêu cầu phát triển các sản phẩm du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu của
khách du lịch, trình độ phát triển của khoa học công nghệ đã tạo ra các phương
tiện để khai thác các tiềm năng tài nguyên.

trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam [3].
+ Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở
nước ngoài vào Việt Nam du lịch; công dân Việt Nam, người nước ngoài thường
trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch [3].
Cũng có thể chia khách du lịch thành hai loại như sau:
+ Khách du lịch là khách thăm viếng có lưu trú tại một quốc gia hoặc một
vùng khác với nơi ở thường xuyên trên 24 giờ và nghỉ qua đêm tại đó với mục đích
nghỉ dưỡng, tham quan, thăm viếng gia đình, tham dự hội nghị, tôn giáo thể thao.
+ Khách tham quan còn gọi là khách thăm viếng 1 ngày là loại khách
thăm viếng lưu lại ở một nơi nào đó đưới 24 giờ và không lưu trú qua đêm.
1.1.1.4. Thị trường du lịch
Để đảm bảo cho hoạt động du lịch không bị ách tắc thì các dịch vụ được
tạo ra, các hàng hóa dưới nhiều dạng phải được mua và bán và phải được tiêu
dùng. Nhưng quá trình mua và bán chỉ có thể được diễn ra trên thị trường. Như
vậy, du lịch cũng tồn tại thị trường.
Du lịch Tam Đảo - Tiềm năng, hiện trạng và định hướng phát triển
9
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Liên - K60 TN - Địa

Trong quá trình phát triển của du lịch, lúc đầu du khách đến vùng nào đó
rất ít ảnh hưởng đến cư dân địa phương tại điểm du lịch. Việc đi lại khách tự lo,
nơi lưu trú thường do những người hảo tâm hoặc bà con của họ sắp xếp và bố
trí. Dần dần du lịch trở thành một hiện tượng phổ biến, từ đó cũng xuất hiện
những phương tiện chuyên vận chuyển khách, cơ sở lưu trú, ăn uống,…Khách
du lịch chỉ cần trả tiền cho những cơ sở chăm lo cho họ việc đi lại, ăn uống, ngủ
nghỉ và vui chơi giải trí… Thị trường du lịch đã hình thành như vậy trong quá
trình chuyển đổi tiền – hàng giữa khách du lịch và cơ sở kinh doanh.
Từ đó ta có thể hiểu: “Thị trường du lịch là bộ phận của thị trường chung,
một phạm trù của sản xuất và lưu thông hàng hóa, dịch vụ du lịch, phản ánh toàn
bộ quan hệ trao đổi giữa người mua và người bán; giữa cung, cầu và toàn bộ các

Theo Buckley, 1994 đã tổng quan các định nghĩa và mô tả như sau: “Chỉ
có du lịch dựa vào tự nhiên, được sự quản lý bền vững, hỗ trợ bảo tồn và có giáo
dục môi trường mới được xem là du lịch sinh thái”. Trong đó, yếu tố bền vững
bao hàm cả nội dung phát triển cộng đồng [Trích theo 4].
Hiệp hội du lịch sinh thái quốc tế định nghĩa: “Du lịch sinh thái là việc đi
lại có trách nhiệm tới các khu thiên nhiên mà bảo tồn được môi trường và cải
thiện phúc lợi cho người dân địa phương” [Trích theo 4].
Ở Việt Nam, định nghĩa về Du lịch sinh thái được đưa ra trong Luật Du
lịch Việt Nam là: “Du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn
với bản sắc văn hóa địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển
bền vững” [3].
Về hình thức, du lịch sinh thái là loại hình tham quan, thám hiểm, hợp với
thị hiếu của du khách, những người ưa đến những nơi môi trường còn tương đối
nguyên vẹn, các vùng tự nhiên hoang dã, đặc sắc để tìm hiểu, nghiên cứu các hệ
sinh thái tự nhiên và nền văn hóa bản địa độc đáo, du lịch sinh thái làm thức dậy
mỗi du khách tình yêu và trách nghiệm bảo tồn đối với tự nhiên và cộng đồng
[Trích theo 4].
Về mục tiêu, khác với các loại hình du lịch khác, du lịch sinh thái có một
sứ mệnh cao cả là nhằm tới sự phát triển bền vững. Điều đó có nghĩa là phát
triển du lịch sinh thái đích thực phải đảm bảo mang lại hiệu quả cả về kinh tế, xã
hội và môi trường [Trích theo 4].
1.1.1.7. Du lịch tâm linh
Tâm linh thường gắn liền với yếu tố “thiêng”. Du lịch tâm linh là việc
thỏa mãn nhu cầu giao tiếp với môi trường tự nhiên, xã hội và giao tiếp với thần
Du lịch Tam Đảo - Tiềm năng, hiện trạng và định hướng phát triển
11
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Liên - K60 TN - Địa

linh tâm linh, hưởng thụ sinh hoạt văn hóa… làm cho con người gần gũi với tự
nhiên hơn. Mô hình du lịch này hiện đang rất phát triển tại nhiều nước trên thế


Du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng được các nhu cầu hiện tại
mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch của tương lai [3].
1.1.1.9. Môi trường du lịch
Môi trường du lịch là môi trường tự nhiên và môi trường xã hội nhân văn
nơi diễn ra các hoạt đông du lịch [3].
1.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động du lịch
1.1.2.1. Vị trí địa lí
Vị trí địa lý bao gồm vị trí về mặt tự nhiên (tọa độ địa lý, giới hạn lãnh
thổ) và vị trí kinh tế - xã hội, chính trị. Mỗi vị trí đều chịu tác động của các yếu
tố tự nhiên, kinh tế - xã hội khác nhau. Vị trí địa lý được coi là địa tô tự nhiên,
chênh lệch giữa các vùng lãnh thổ. Nếu vị trí thuận lợi thì địa tô cao, ngược lại
vị trí khó khăn thì địa tô thấp.
Yếu tố quyết định của vị trí địa lý đối với hoạt động du lịch là điểm du
lịch nằm trong khu vực phát triển du lịch và khoảng cách từ điểm du lịch đến
các nguồn gửi khách du lịch ngắn.
Vì vậy, khi phân tích, đánh giá vai trò của vị trí địa lý đối với việc phát
triển các ngành kinh tế cần đặt nó trong mối quan hệ tác động qua lại với các
yếu tố khác.
Du lịch Tam Đảo - Tiềm năng, hiện trạng và định hướng phát triển
13
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Liên - K60 TN - Địa

1.1.2.2. Tài nguyên du lịch
“Du lịch là một trong những ngành có sự định hướng tài nguyên rõ rệt.
Tài nguyên du lịch có ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức lãnh thổ của ngành du
lịch, đến việc hình thành, chuyên môn hóa các vùng du lịch và hiệu quả kinh tế
của hoạt động dịch vụ” [17].
Có thể nói tài nguyên du lịch là một trong những yếu tố quan trọng nhất
quyết định việc hình thành và phát triển du lịch của một vùng hay một quốc gia,

hang động đã được sử dụng phục vụ du lịch và thu hút khoảng 15 triệu khách du
lịch mỗi năm. Nổi bật là hệ thống hang Flint Mammauth ở Hoa Kỳ, hang
Optimisticeskaya ở Ucraina, hang Oescau Jecau Bernard ở Pháp,… Ở Việt Nam,
nổi tiếng nhất là Phong Nha – Kẻ Bàng ở Quảng Bình.
- Đồng bằng: Địa hình đơn điệu, tuy nhiên kết hợp với sông, hồ, ao, kênh
rạch, tài nguyên sinh vật nuôi trồng cũng tạo nên những phong cảnh đồng quê
yên ả, nên thơ đó là tài nguyên du lịch. Ngoài ra, địa hình đồng bằng, còn thuận
lợi cho việc cơ trú của con người từ lâu, vì vậy ở đây có nhiều di tích văn hóa –
lịch sử, nhiều đô thị, cho nên cũng là nơi thu hút nhiều du khách, đặc biệt là đối
với loại hình du lịch văn hóa, du lịch sinh thái ngắn ngày hoặc cuối ngày.
Khí hậu: Khí hậu rất quan trọng trong hoạt động du lịch, nó là một nhân
tố quyết định mức hấp dẫn của địa bàn đối với khách du lịch, là nguyên nhân
chính làm nên tính mùa trong du lịch. Các hiện tượng thời tiết đặc biệt: gió, bão,
gió mùa, gió phơn, lũ lụt, mùa mưa… ảnh hưởng xấu đến hoạt động du lịch.
Tài nguyên khí hậu phục vụ du lịch là tổng hợp các yếu tố: nhiệt độ,
lượng mưa, độ ẩm, gió, ánh nắng mặt trời…
Các nhà khí hậu học đã xây dựng các chỉ tiêu sinh khí hậu để xác định
mức độ thích nghi của khí hậu đối với con người. Dựa trên các chỉ tiêu này
ngành du lịch khai thác tài nguyên khí hậu thích hợp cho từng loại hình du lịch
nhất định ỏ mỗi khu vực.
Nói chung những điểm du lịch có khí hậu ôn hòa, không quá nóng, quá
lạnh, quá ẩm, quá khô hay quá nhiều gió… thường thu hút được nhiều khách du
lịch. Tuy nhiên, mỗi loại du lịch đòi hỏi khí hậu khác nhau.
Tài nguyên nước: Nước mặt là nhân tố tạo cảnh quan, có giá trị đặc biệt
trong du lịch, nhất là các hồ, dòng sông, thác nước… Theo quan niệm phương
Đông, khi xây dựng công trình cần theo phong thủy trong Kinh dịch, vì thế các
hồ, sông, suối rất cần thiết khi xây dựng các di sản lịch sử - văn hóa, tạo ra các
danh lam thắng cảnh. Nước mặt còn có tác dụng gián tiếp qua các thành phần
khác ven bờ, các bãi biển hoặc bãi ven hồ khí hậu mát mẻ, có thể sử dụng để
tắm, dạo chơi, hoạt động thể thao.

tạo ra trong suốt quá trình tồn tại và phát triển, được khai thác để phục vụ cho
các hoạt động du lịch.
Các tài nguyên du lịch nhân văn thường có ý nghĩa nhận thức hơn là giải
trí và thông qua những hoạt động du lịch dựa trên việc khai thác các tài nguyên
này, khách du lịch có thể hiểu được các đặc trưng cơ bản về văn hóa của dân
tộc, địa phương nơi mình đến.
Tài nguyên du lịch nhân văn bao gồm: các di tích lịch sử - văn hóa, các lễ
hội, các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học và các đối tượng văn hóa, thể thao
cùng với hoạt động nhận thức khác.
Du lịch Tam Đảo - Tiềm năng, hiện trạng và định hướng phát triển
16
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Liên - K60 TN - Địa

Di tích lịch sử - văn hóa: Trong cuốn “Địa lý du lịch” do PTS. Nguyễn
Minh Tuệ chủ biên, xuất bản năm 1996 đã định nghĩa: “Di tích lịch sử - văn hóa
là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó chứa đựng các giá trị
điển hình lịch sử, do tập thể hoặc cá nhân con người hoạt động sáng tạo ra trong
lịch sử để lại” [17].
Theo các thang giá trị khác nhau, các di tích cũng được phân thành các
cấp khác nhau: Di sản thế giới, các di tích cấp quốc gia và địa phương.
Các Di sản văn hóa là kết tinh cao nhất của những sáng tạo văn hóa của
một dân tộc được cả thế giới công nhận. Nếu quốc gia nào có được những di tích
được công nhận là Di sản văn hóa thế giới thì đó không những là một vinh dự
lớn cho dân tộc mà còn là nguồn tài nguyên vô giá, có sức thu hút khách du lịch
cao, đặc biệt là khách du lịch quốc tế.
Đối với việc đánh giá các di tích phục vụ cho mục đích du lịch cần quan
tâm đến 4 tiêu chí: số lượng di tích, mật độ di tích, số di tích được xếp hạng và
số di tích đặc biệt quan trọng.
Lễ hội: Các lễ hội là tài nguyên nhân văn quan trọng, vì lễ hội rất đa dạng
và phong phú, là quốc hồn, quốc túy của mỗi quốc gia, là giá trị văn hóa của mỗi

Dân số càng đông, lực lượng tham gia càng nhiều thì du lịch càng có điều
kiện phát triển. Trong quy hoạch tổng thể để phát triển lãnh thổ du lịch cần phân tích:
+ Các đặc điểm của dân cư: nhân khẩu, cấu trúc, mật độ, thành phần dân tộc
+ Kết cấu dân cư theo nghề nghiệp, lứa tuổi, sự gia tăng dân số, sự phát
triển đô thị hóa và tỷ lệ dân đô thị.
1.1.2.4. Sự bùng nổ khoa học kĩ thuật và phát triển của các ngành kinh tế
Sự bùng nổ cách mạng khoa học kỹ thuật, công nghiệp phát triển và tự
động hóa quá trình sản xuất là những nguyên nhân vừa trực tiếp vừa gián tiếp
cho việc phát triển du lịch. Các ngành công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận
tải và dịch vụ phát triển tạo điều kiện nhiều mặt cho du lịch phát triển.
1.1.2.5. Nhu cầu nghỉ ngơi du lịch
Vấn đề đô thị hóa, công nghiệp hóa, kéo dài tuổi thọ … là những nguyên
nhân của nhu cầu nghỉ ngơi du lịch.
Đô thị hóa tạo nên lối sống đặc biệt, lối sống “thành thị”. Quá trình đô thị
hóa tạo điều kiện thay đổi đời sống vật chất và văn hóa cho con người theo
hướng tích cực. Tuy nhiên quá trình này còn dẫn tới sự thay đổi điều kiện tự
nhiên, tách con người ra khỏi thiên nhiên bao quanh, làm thay đổi khí hậu, ô
nhiễm môi trường, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và cuộc sống của con người.
Mật độ dân số cao, lượng thông tin quá nhiều, tần số tiếp xúc lớn, giao thông
ách tắc…là những nguyên nhân gây căng thẳng thần kinh, bệnh stress.
Du lịch Tam Đảo - Tiềm năng, hiện trạng và định hướng phát triển
18
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Liên - K60 TN - Địa

Các nghiên cứu cho thấy cư dân tại các đô thị và các khu có mật độ tập
trung cao, nhu cầu du lịch cao hơn nhiều so với nông thôn. Họ muốn đến những
nơi có môi trường trong lành, yên tĩnh để nghỉ dưỡng, thư giãn nhằm phục hồi
sức khỏe thể chất và tinh thần.
Cần nghiên cứu nhu cầu nghỉ ngơi để có kế hoạch phát triển ngành du lịch.
1.1.2.6. Thời gian rỗi

Hoạt động marketing có thể nói là cầu nối giữa khách, nhà đầu tư và địa
bàn du lịch, cung cấp cho khách và nhà đầu tư du lịch những thông tin về tài
nguyên du lịch, cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch, điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội,
các dịch vụ du lịch, giá cả, môi trường du lịch…
Những nước có nền du lịch phát triển tốt thường trích khoảng 6 – 8%
doanh thu du lịch để xúc tiến, quảng bá phát triển du lịch.
1.1.2.9. Cơ sở hạ tầng
Đây là nguồn lực quan trọng, tạo sức hấp dẫn đối với du khách và thuận
lợi cho phát triển du lịch, gồm giao thông, điện, nước, phương tiện thông tin…
Trong các điều kiện cơ sở hạ tầng, giao thông là quan trọng nhất trong
hoạt động du lịch, vì:
+ Đảm bảo sự di chuyển của con người trong quá trình du lịch
+ Tạo điều kiện khai thác sớm và có hiệu quả các tài nguyên du lịch
+ Du lịch có điều kiện trở thành hiện tượng phổ biến trong xã hội
Ở các nước phát triển, các nước mới phát triển hệ thống giao thông đồng
bộ, hệ thống thông tin hiện đại, đã tạo ra tiện ích, rút ngắn khoảng cách về
không gian, giảm giá thành sản phẩm cho du khách. Đây là những điều kiện
thuận lợi, hấp dẫn du khách và hoạt động kinh doanh du lịch.
Ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, hệ thống giao thông chưa
tốt làm hạn chế việc khai thác tài nguyên du lịch và triển khai hoạt động du lịch.
1.1.2.10. Các nhân tố chính trị, chính sách
Để phát triển du lịch, ngoài tài nguyên là cơ sở quan trọng, thì yếu tố con
người và cơ chế có ý nghĩa quyết định. Một chính sách đúng đắn, phù hợp,
thuận lợi cho việc phát triển du lịch mới có thể đưa ngành du lịch trở thành
ngành kinh tế mũi nhọn mang lại hiệu quả cao.
Các nước phát tiển du lịch tốt trên thế giới đều có chính sách phát triển du
lịch đúng đắn. Nước ta coi du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn, nhiều chính sách
văn bản pháp luật ra đời theo hướng càng ngày càng thông thoáng hơn, tạo hành
lang pháp lý để kiểm tra, giám sát, triển khai hoạt động du lịch. Tuy nhiên các
chính sách này cần luôn được điều chỉnh thích ứng để thúc đẩy hoạt động du

trò chơi dân gian đặc sắc cùng nhiều món ăn đặc sản mang đậm màu sắc địa
phương của Vĩnh Phúc cũng là sức hút du khách. Bên cạnh đó, du lịch khám phá
leo núi, du lịch đồng quê, du lịch gắn với các hình thức vui chơi giải trí đang
hình thành và phát triển như đua ngựa, chơi Golf…hứa hẹn những tiềm năng
phát triển ở ngành công nghiệp không khói ở Vĩnh Phúc. Không chỉ thế, Vĩnh
Phúc cũng có hệ thống sông, hồ đa dạng, đã và đang được quy hoạch và đầu tư
Du lịch Tam Đảo - Tiềm năng, hiện trạng và định hướng phát triển
21
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Liên - K60 TN - Địa

thành những khu, điểm du lịch như: Hồ Đại Lải (TX. Phúc Yên), Hồ Bò Lạc,
vườn cò Hải Lựu (Lập Thạch), Đầm Vạc (Vĩnh Yên), hồ Thanh Lanh, thác Bản
Long (Tam Đảo), đầm Dưng (Vĩnh Tường)… vườn cò Hải Lựu, vườn cò Đạo
Trù,…là điểm du lịch sinh thái tham quan, nghiên cứu hấp dẫn gắn liền với
những tour du lịch đồng quê.
Những năm gần đây, thu hút đầu tư vào lĩnh vực du lịch trên địa bàn tỉnh
có bước tăng trưởng vượt bậc, nhiều dự án đã đi vào hoạt động như: sân Golf
Tam Đảo, câu lạc bộ văn hóa – du lịch Trại ổi, một phần dự án du lịch Bắc đầm
Vạc Trong năm 2010, tổng số vốn ngân sách Nhà nước đầu tư cho các dự án
du lịch trên địa bàn tỉnh là 55 triệu USD, trong giai đoạn 2011 – 2015 tổng số
vốn được nâng lên 106 triệu USD.
Tính đến 30/6/2013, trên địa bàn toàn tỉnh có 214 cơ sở lưu trú với 3.528
buồng đạt chuẩn (khách sạn 80, nhà nghỉ 134), trong đó có 42 khách sạn đạt tiêu
chuẩn từ 1-4 sao như: khách sạn Melia, Hương Rừng, Hoàng Quy… Nếu như
năm 2005, lượng khách đến Vĩnh Phúc chỉ 986.000 lượt khách, trong đó có
18.500 lượt khách quốc tế, danh thu du lịch đạt 358 tỷ đồng, thì đến năm 2013, 6
tháng đầu năm đạt 1.008.049 lượt khách (trong đó quốc tế đạt 16.347 lượt,
khách nội địa đạt 991.702 lượt). Doanh thu kinh doanh từ du lịch đạt khoảng
429 tỷ đồng. Doanh thu du lịch tăng bình quân 12% - 15%/năm. Lượng khách
quốc tế bình quân 17.500 lượt người/năm; khách du lịch nội địa tăng bình quân

Dương, Bình Xuyên và thành phố Vĩnh Yên. Huyện có tổng diện tích tự nhiên là
23.589,9ha; có 9 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó có 8 xã, 1 thị trấn; có 6 xã
thuộc vùng khó khăn, trong đó có 3 xã đặc biệt khó khăn thuộc chương trình 135
của Chính phủ.
Du lịch Tam Đảo - Tiềm năng, hiện trạng và định hướng phát triển
23
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Liên - K60 TN - Địa

Sau 10 năm thành lập được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy,
Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh; sự phối hợp, tạo điều kiện của các
cấp, các ngành chức năng và sự phấn đấu nỗ lực của đảng bộ và nhân dân các
dân tộc trong huyện, kinh tế - xã hội của huyện có bước phát triển mới, tương
đối toàn diện trên các lĩnh vực. Nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao, nếu như
năm 2004, giá trị sản xuất của huyện chỉ đạt hơn 70 tỷ thì năm 2013 đạt hơn 400
tỷ. Tương tự thương mại – dịch vụ từ 34,02% năm 2004 tăng lên 48,51% năm
2013. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện tăng trung bình trên 14%. Các lĩnh
vực văn hóa – xã hội tiếp tục phát triển, cơ sở hạ tầng được quan tâm đầu tư; đời
sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên, an ninh quốc phòng được
đảm bảo, hệ thống chính trị ngày càng được củng cố.
Về tự nhiên, Tam Đảo là tên gọi của 3 đỉnh Thiên Thị, Thạch Bàn và Phù
Nghĩa nổi lên trên biển mây trắng trong dãy núi Tam Đảo. Dãy Tam Đảo rộng
từ 10 – 15km, chạy dài trên 80km theo hướng Tây Bắc – Đông Nam trên địa bàn
3 tỉnh: Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Tuyên Quang.
Tam Đảo có diện tích rất lớn chính vì vậy nó giữ vai trò quan trọng trong
điều hòa khí hậu, điều tiết nguồn nước, bảo vệ môi trường sống cho một phần
đồng bằng Bắc Bộ trong đó bao gồm cả thủ đô Hà Nội.
Đầu thế kỉ XX, người Pháp đã chọn Tam Đảo xây dựng thành khu nghỉ
mát ở độ cao 950m so với mực nước biển với nhiều biệt thự kiểu dáng châu Âu.
Khí hậu nơi đây mát mẻ, trong lành, mang sắc thái như vùng ôn đới.
Rừng Tam Đảo là kho tài nguyên quý giá, nơi lưu trữ sự đa dạng sinh học

+ Phía Tây Bắc giáp huyện Sơn Dương của tỉnh Tuyên Quang.
+ Phía Bắc và Đông Bắc giáp huyện Đại Từ của tỉnh Thái Nguyên.
Với vị trí như vậy, Tam Đảo trở thành một khu du lịch hấp dẫn nằm trong
vùng du lịch Bắc Bộ. Đây là điều kiện để kết nối các tour, tuyến du lịch của
huyện với các tỉnh Tuyên Quang, Thái Nguyên nơi có các di tích lịch sử cách
mạng. Lại gần các địa bàn giàu có về tiềm năng du lịch như: Quảng Ninh, Bắc
Cạn, Lào Cai, Phú Thọ, Hòa Bình,…
Hơn nữa, Tam Đảo cách Thành phố Vĩnh Yên 10 km và cách Thành phố
Hà Nội 70 km, những nơi có dân số đông, có sự phát triển kinh tế năng động
nhất cả nước, có sức lan tỏa lớn, nhu cầu thăm quan, nghỉ dưỡng cuối tuần cao
đó là những điều kiện thuận lợi trong việc khai thác các tiềm năng du lịch và các
hoạt động kinh tế của huyện. Bên cạnh đó, Tam Đảo cách sân bay quốc tế Nội
Bài 60km, đây là nơi vận chuyển hàng hóa, hành khách nhanh, chất lượng cao,
có tuyến cao tốc Nội Bài – Lào Cai chạy qua giáp với huyện đây là điều kiện
thuận lợi để thu hút khách quốc tế đến với Tam Đảo để phát triển du lịch nói
riêng và kinh tế xã hội nói chung của huyện.
2.2.2. Tài nguyên du lịch tự nhiên
2.2.2.1. Địa hình
Tam Đảo là huyện miền núi, nằm trên phần chính phía Tây Bắc của dãy
núi Tam Đảo, nơi bắt nguồn của sông Cà Lồ. Địa hình của Tam Đảo khá phức
tạp, đa dạng vì có cả vùng cao và miền núi, vùng gò đồi và vùng đất bãi ven
sông. Vùng miền núi và núi cao với diện tích khoảng 11.000 ha, chủ yếu do
VQG Tam Đảo và Lâm trường Tam Đảo quản lý. Diện tích còn lại bao gồm các
Du lịch Tam Đảo - Tiềm năng, hiện trạng và định hướng phát triển
25

Trích đoạn Doanh thu du lịch Hiện trạng cơ sở vật chất kỹ thuật ngành du lịch Lao động trong ngành du lịch Hiện trạng đầu tư phát triển du lịch Thực trạng môi trường du lịc hở Tam Đảo
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status