MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Xuất phát điểm là một nước nông nghiệp, Việt Nam luôn quan tâm,
chú trọng đến sự phát triển của nông nghiệp. Sự phát triển của nông nghiệp
là nền tảng, động lực thúc đẩy các ngành kinh tế nói riêng và toàn bộ nền
kinh tế nói chung. Bởi nông nghiệp, xét theo góc độ của kinh tế, là ngành
sản xuất vật chất đầu tiên, lâu đời và quan trọng nhất trong tiến trình phát
triển của lịch sử loài người. Từ khi ra đời đến nay, nông nghiệp luôn đóng
vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự sinh tồn của loài người
[23: tr.185]. Ăngghen đã khẳng định: nông nghiệp là ngành có ý nghĩa
quyết định đối với toàn bộ thế giới cổ đại và hiện nay nông nghiệp lại càng
có ý nghĩa như thế. Các Mác cũng đã từng nói, con người trước hết phải có
ăn sau đó mới nói đến các hoạt động khác. Ông đã chỉ rõ: nông nghiệp là
ngành cung cấp tư liệu sinh hoạt cho con người… và việc sản xuất ra tư
liệu sinh hoạt là điều kiện đầu tiên cho sự sống của họ và của mọi lĩnh vực
sản xuất nói chung [dẫn theo 23: tr.185]. Điều này khẳng định được vai trò
đặc biệt quan trọng của nông nghiệp trong việc nâng cao mức sống dân cư,
đảm bảo an ninh lương thực quốc gia cũng như sự ổn định chính trị - xã hội
của đất nước [23: tr.185].
Ở nước ta, nông nghiệp luôn gắn liền và song hành cùng với nông
thôn. Trước đây, khi đất nước mới thống nhất nền kinh tế chưa phát triển
thì bộ mặt của nông thôn được đặc trưng bởi nông nghiệp. Trong cơ cấu
GDP kinh tế nông thôn của hầu hết các vùng miền thì tỉ lệ đóng góp của
ngành nông nghiệp đều rất lớn. Ý Yên - Nam Định cũng là huyện không
nằm ngoại lệ.
Với hơn 70% dân số cả nước sống ở vùng nông thôn [22: tr.95], việc
phát triển kinh tế nông nghiệp góp phần “nâng cao mức sống dân cư” - tiền
đề thúc đẩy sự tăng trưởng của kinh tế chung cả nước. Mục tiêu “dân giàu
1
nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh” đã được đề ra từ Đại hội
Đảng VI (1986) và luôn được đề cập và nhấn mạnh đến ở tất cả các kì đại
sau đây:
- Tổng quan một số vấn đề lý luận về kinh tế nông nghiệp và chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp.
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến kinh tế nông nghiệp và sự chuyển
dịch của cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện Ý Yên.
- Phân tích thực trạng cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện Ý Yên trong giai
đoạn 2002 - 2012.
- Định hướng và các giải pháp để phát triển kinh tế nông nghiệp và chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Ý Yên một cách hiệu quả.
2.3. Giới hạn của đề tài nghiên cứu
Về nội dung nghiên cứu: Nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm các
lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp, công nghiệp chế biến và các dịch vụ phục
vụ trong nông nghiệp. Vì vậy nội dung nghiên cứu về sự chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp rất rộng lớn và đa dạng. Tuy nhiên, do những hạn
chế về nguồn tư liệu và thời gian thực hiện, nên đề tài chỉ tập trung làm rõ
sự chuyển dịch về cơ cấu ba ngành chính của sản xuất nông nghiệp là trồng
trọt, chăn nuôi và thủy sản.
Về phạm vi lãnh thổ nghiên cứu: Khu vực nông thôn huyện Ý Yên
bao gồm 31 xã và 1 thị trấn.
Về thời gian nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp của huyện giai đoạn 2002 - 2012.
3. Các quan điểm nghiên cứu
3.1. Quan điểm tổng hợp
Trên một lãnh thổ, các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội luôn có mối
quan hệ mật thiết với nhau, tạo nên một thể thống nhất và hoàn chỉnh. Mặt
khác, nội dung nghiên cứu của ngành nông nghiệp rất đa dạng và phức tạp,
liên quan đến nhiều vấn đề, nhiều khía cạnh có quy mô và bản chất khác
nhau, nhưng lại có quan hệ chặt chẽ với nhau [8: tr.2]. Vì vậy, trong đề tài
3
này, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của huyện Ý Yên được
giải pháp để phát triển kinh tế nông nghiệp hiệu quả ta phải xét đến các yếu
tố trên quan điểm phát triển bền vững, đặt nông nghiệp trong mối quan hệ
với tự nhiên và các ngành kinh tế khác.
4. Các phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp thu thập, xử lý, tổng hợp nguồn tài liệu
Phương pháp thu thập tài liệu là phương pháp truyền thống được sử
dụng trong các nghiên cứu nói chung và nghiên cứu địa lí kinh tế - xã hội
nói riêng. Khoa học không thể phát triển được nếu thiếu tính kế thừa, thiếu
sự tích lũy những thành tựu của quá khứ [23: tr.15].
Để tiến hành nghiên cứu được đề tài chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp của Ý Yên thì thu thập, xử lí và tổng hợp tài liệu rất quan trọng.
Nguồn tài liệu phục vụ cho đề tài được thu thập tại các phòng ban như
Phòng Nông nghiệp, Phòng Thống kê, Phòng Tài nguyên và Môi trường
của huyện Ý Yên. Tài liệu thu thập được dưới nhiều dạng: bảng thống kê,
tài liệu thành văn sau đó phải tiến hành chọn lọc, phân tích, tổng hợp số
liệu phục vụ bài nghiên cứu.
4.2. Phương pháp thống kê
Thống kê là phương pháp được sử dụng nhiều trong khoa học xã hội
nói chung và khoa học địa lí nói riêng. Trong đề tài nghiên cứu, phương
pháp thống kê được sử dụng tích cực. Trên cơ sở số liệu đã thu thập được,
tiến hành thống kê số liệu để phân tích, xác định mối quan hệ giữa các bộ
phận của ngành nông nghiệp với nhau và giữa ngành nông nghiệp với các
ngành khác .
4.3. Phương pháp bản đồ, biểu đồ
Bản đồ là mô hình thu nhỏ của các đối tượng địa lí trên thực địa, giúp
cho việc nghiên cứu và thể hiện kết quả nghiên cứu cũng như sự phân bố
của các đối tượng địa lí một cách khoa học và trực quan [8: tr.4]. Trong đề
tài này, bản đồ được sử dụng như một nguồn tư liệu cần thiết và không thể
5
thiếu. Đồng thời, tác giả đi sâu tiến hành biên tập các bản đồ hiện trạng sản
nghiệp Ý Yên có hiệu quả.
Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
7
1. Khái niệm kinh tế nông nghiệp
Nông nghiệp theo nghĩa rộng (bao gồm cả lâm và ngư nghiệp) cũng
như theo nghĩa hẹp là một ngành quan trọng trong nền kinh tế quốc dân
[dẫn theo 12: tr.3]. Trải qua quá trình phát triển lâu dài nông nghiệp trở
thành một ngành kinh tế độc lập tương đối, gồm các phân ngành như trồng
trọt, chăn nuôi. Trong trồng trọt thì có trồng cây lương thực, cây công
nghiệp, cây ăn quả… Trong chăn nuôi có chăn nuôi gia súc, gia cầm…
Kinh tế nông nghiệp là các hoạt động kinh tế diễn ra trên địa bàn nông
thôn bao gồm các hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp
tạo ra các sản phẩm vật chất đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm của
nhân dân, làm nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến và làm
nguồn hàng xuất khẩu mang lại giá trị.
2. Khái niệm cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Cơ cấu kinh tế là tổng thể các mối quan hệ chủ yếu về chất lượng và
số lượng tương đối ổn định của các yếu tố kinh tế, các bộ phận của lực
lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong một hệ thống tái sản xuất xã hội
với những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định vào một khoảng thời gian
nhất định [11: tr.9].
Cơ cấu kinh tế có thể thay đổi để phù hợp với yêu cầu phát triển của
nền kinh tế trong từng thời kì. Một cơ cấu kinh tế hợp lý là nền kinh tế có
sự kết hợp hài hòa giữa các ngành kinh tế nhằm khai thác tốt nhất, có hiệu
quả nhất các nguồn lực của địa phương để phát triển kinh tế với tốc độ
nhanh, ổn định, bền vững, không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân cả
về vật chất lẫn tinh thần.
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp là một tổng thể các mối quan hệ kinh tế
trong khu vực nông nghiệp có mối liên hệ hữu cơ với nhau về mặt chất và
9
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp thay đổi khi nền sản xuất hàng hóa ra đời
[11: tr.23]. Trước đây sản xuất nông nghiệp vẫn mang tính tự túc, tự cấp thì
hoạt động chủ yếu là trồng cấy lương thực và chăn nuôi gia súc, kinh tế hộ
nông dân đóng vai trò quyết định. Sau này khi nông nghiệp tiến đến thời kì
sản xuất hàng hóa thì cơ cấu nông nghiệp đa dạng hơn cả về ngành sản xuất
lẫn hình thức, lúc này sản xuất nông nghiệp đã được đa dạng hóa, nhiều cây
trồng vật nuôi mang lại hiệu quả kinh tế cao đã được đưa vào sản xuất.
Máy móc, công nghệ kỹ thuật mới cũng được đưa vào sử dụng ngày một
nhiều. Quy mô sản xuất cũng lớn hơn với sự xuất hiện của hàng loạt các
trang trại mang tính chuyên môn hóa.
2.2. Nội dung của cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp là khái niệm biểu đạt tổng thể các hoạt
động kinh tế - xã hội liên quan đến các lĩnh vực nông - lâm - ngư chủ yếu
diễn ra trên địa bàn nông thôn, nội dung của nó bao gồm cơ cấu ngành kinh
tế (trồng trọt, chăn nuôi, trồng, khai thác rừng, đánh bắt và nuôi trồng thủy
sản) cơ cấu lãnh thổ và cơ cấu thành phần kinh tế (thành phần kinh tế Nhà
nước, tư nhân, cá thể, hộ gia đình). Trong đó cơ cấu kinh tế theo ngành có
tầm quan trọng đặc biệt.
2.2.1. Cơ cấu ngành kinh tế nông nghiệp
Đây là nội dung quan trọng nhất của cơ cấu kinh tế nông nghiệp, phản
ánh số lượng, vị trí các ngành, các bộ phận cấu thành nên nông nghiệp
[13: tr.11].
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất hình thành đầu tiên của xã hội
loài người từ khi ra đời đến nay, nông nghiệp luôn đóng vai trò không thể
thay thế trong phát triển kinh tế nói chung và đảm bảo sinh tồn của loài
người nói riêng [23: tr.185]. Theo nghĩa hẹp, nông nghiệp bao gồm các
ngành trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp. Theo nghĩa rộng nông
nghiệp còn bao gồm cả lâm và ngư nghiệp.
Nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế trong đó:
lớn tạo ra nguồn thức ăn cho chăn nuôi phát triển theo hướng hàng hóa.
11
Vị trí của các ngành trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp có thể thay đổi
theo thời gian, ở nước ta trong những năm gần đây tỉ trọng của ngư nghiệp
có xu hướng tăng trong khi tỉ trọng của nông nghiệp theo nghĩa hẹp giảm.
Đây cũng chính là một trong những định hướng phát triển nông nghiệp để
khai thác tốt hơn các nguồn lực phát triển của đất nước, của địa phương.
2.2.2. Cơ cấu lãnh thổ nông nghiệp
Mỗi một lãnh thổ có nét đặc thù riêng về điều kiện tự nhiên cũng như
kinh tế - xã hội, đó cũng chính là tiền đề để phát triển kinh tế của các vùng
nhưng cũng là nguyên nhân gây ra sự khác biệt trong cơ cấu kinh tế của các
địa phương. Sự phân bố các ngành kinh tế trên một đơn vị lãnh thổ chính là
sự sắp xếp các ngành sản xuất vật chất và dịch vụ nhằm khai thác tốt nhất
tiềm năng cũng như lợi thế so sánh của vùng.
Cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ là biểu hiện của phân công lao động trong
nông nghiệp trên một lãnh thổ nhất định, được hình thành chủ yếu dựa vào
sự bố trí sản xuất nông nghiệp theo một không gian nhất định [23: tr.13].
Sự khác nhau về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đã tạo nên các đơn vị
lãnh thổ nông nghiệp và từ đó hình thành cơ cấu lãnh thổ nông nghiệp.
Nói cách khác cơ cấu lãnh thổ nông nghiệp chính là sự sắp xếp các
ngành trong nông nghiệp trên các lãnh thổ nông nghiệp (cây gì, con gì phân
bố ở đâu, diễn tiến theo thời gian như thế nào trên cùng một lãnh thổ). Sự
phân hóa này phụ thuộc vào từng lãnh thổ cụ thể, nếu lãnh thổ không có
sự phân hóa về điều kiện tự nhiên thì cũng không có sự phân hóa trong
nông nghiệp.
2.2.3. Cơ cấu thành phần kinh tế nông nghiệp
Cơ cấu thành phần kinh tế được hình thành trên cơ sở tổ chức nền
kinh tế theo các hình thức khác nhau về tư liệu sản xuất. Cơ cấu thành phần
kinh tế là những lực lượng kinh tế quan trọng để thực hiện cơ cấu kinh tế
ngành [23: tr.13]. Từ khi đổi mới Nhà nước ta đã chủ trương phát triển kinh
lớn, nó được thể hiện cả trong nội bộ ngành và tỉ trọng của ngành nói
13
chung so với các ngành kinh tế khác (công nghiệp – xây dựng và dịch vụ)
trong cơ cấu kinh tế chung của cả nước.
Cũng như cơ cấu kinh tế nói chung, cơ cấu kinh tế nông nghiệp mang
tính khách quan, lịch sử, xã hội và luôn luôn gắn liền với sự phát triển của
lực lượng sản xuất, sự phân công lao động xã hội, chuyển dịch từ thấp đến
cao, từ đơn giản đến phức tạp của các quy luật tự nhiên, kinh tế [12: tr.6].
3.1. Khái niệm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là quá trình thay đổi các yếu
tố và mối quan hệ giữa các yếu tố trong cấu trúc nông nghiệp [11: tr.15].
Hiểu cách khác chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là quá trình làm
biến đổi cấu trúc và các mối quan hệ tương tác trong hệ thống theo những
định hướng và mục tiêu nhất định, nghĩa là đưa hệ thống từ một trạng thái
nhất định sang trạng thái tối ưu để đạt hiệu quả mong muốn, thông qua sự
điều khiển ý thức của con người, trên cơ sở vận dụng đúng đắn các quy luật
khách quan [12: tr.13]. Đơn giản hóa đó là sự phát triển của các ngành kinh
tế thuộc lĩnh vực nông nghiệp dẫn đến sự tăng trưởng khác nhau giữa các
ngành và làm thay đổi mối quan hệ tương tác giữa chúng so với một thời
điểm trước đó.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là kết quả của quá trình phát
triển vừa chịu tác động của các yếu tố khách quan như điều kiện tự nhiên,
kinh tế - xã hội vừa chịu tác động của các yếu tố chủ quan như sự can thiệp
của nhà nước bằng các chính sách xã hội. Sự chuyển dịch này có thể theo
hướng tiến bộ hay không tiến bộ, mang lại kết quả kinh tế mong muốn hay
không mong muốn và do đó, có thể làm cho hệ thống kinh tế phát triển
hay trì trệ, lâm vào khủng hoảng hay tụt hậu xa hơn so với các khu vực
kinh tế khác.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp được xem xét trên 3 góc độ:
chuyển dịch cơ cấu ngành, cơ cấu thành phần và cơ cấu lãnh thổ kinh tế.
luôn luôn vận động biến đổi để phù hợp với sự tương quan giữa quan hệ
15
sản xuất và lực lượng sản xuất. Chuyển dịch, thay đổi là xu hướng khách
quan, tất yếu và trong những năm tới cơ cấu nông nghiệp sẽ chuyển dịch
theo các xu hướng:
3.2.1. Phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa và mở rộng sự hợp tác
Xu hướng này đảm bảo cho nền nông nghiệp phát triển theo đúng xu
thế chung của thế giới và phù hợp với điều kiện của các nước đang phát
triển. Nền nông nghiệp cần chuyển sang sản xuất hàng hóa, kết hợp với
việc mở rộng hợp tác (giữa các ngành, các địa phương, các vùng trong
nước và trên phạm vi quốc tế) nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu
quả kinh tế [13: tr.23].
3.2.2. Chuyển từ độc canh thuần nông sang đa canh, đa dạng hóa các sản
phẩm nông nghiệp, gắn liền nông nghiệp với công nghiệp chế biến và
dịch vụ
Nông nghiệp cổ truyền của nước ta chủ yếu trồng cây lương thực.
Trước Đổi mới do đặc điểm của nền sản xuất nông nghiệp và tác động của
các yếu tố khách quan nên trong một thời gian dài nước ta thiếu lương
thực, chúng ta tập trung sản xuất lương thực đảm bảo sự sinh tồn. Nhưng
ngày nay nhu cầu về lương thực đã được đảm bảo, không những thế Việt
Nam còn vươn lên là nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Đây chính là
cơ sở để đa dạng hóa các sản phẩm nông nghiệp. Đồng thời để nâng cao
hiệu quả sản xuất và tăng thêm giá trị cho sản phẩm thì phải gắn liền nông
nghiệp với công nghiệp chế biến và dịch vụ. Nông nghiệp phải giải quyết
vấn đề lương thực - thực phẩm, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến.
Công nghiệp phát triển phục vụ sản xuất nông nghiệp, thu hút lao động dư
thừa trong nông nghiệp [11: tr.23].
3.2.3. Chuyển từ sản xuất manh mún, phân tán sang sản xuất tập trung,
chuyên môn hóa, quy mô hợp lí, phát huy lợi thế
Ngành nông nghiệp nước ta còn manh mún, phân tán, trình độ phân
nhân tố kìm hãm, tác động tiêu cực. Tổng hợp các nhân tố tác động cho
17
phép chúng ta tìm ra các lợi thế so sánh của mỗi vùng, mỗi địa phương.
Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển nông nghiệp và sự chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp được chia làm 2 nhóm:
4.1. Nhóm nhân tố thuộc về điều kiện tự nhiên
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất số một, phụ thuộc rất nhiều
vào tự nhiên, vì thế điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát
triển nông nghiệp. Nhóm nhân tố thuộc về điều kiện tự nhiên ảnh hưởng
đến nông nghiệp bao gồm: vị trí địa lí, điều kiện khí hậu, thời tiết, đất đai,
nguồn nước, rừng, khoáng sản và các yếu tố sinh học khác. Sản xuất nông
nghiệp thực sự có hiệu quả khi ta bố trí hệ thống cây trồng vật nuôi phù
hợp với điều kiện tự nhiên [15: tr.17].
Trong các nhân tố trên 3 nhân tố quan trọng nhất đó là khí hậu, đất đai
và nguồn nước.
Khí hậụ là nhân tố đầu tiên tác động đến ngành sản xuất nông nghiệp,
khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa có sự phân hóa Bắc - Nam, Đông - Tây và
phân hóa theo đai cao cho phép nước ta phát triển một nền nông nghiệp
nhiệt đới với sự đa dạng của cơ cấu cây trồng vật nuôi. Khí hậu là nhân tố
quyết định trực tiếp đến nuôi con gì, trồng cây gì. Những bất thường của
thời tiết như bão, lũ lụt, hạn hán, sương muối, băng giá… thường gây ra
những ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất nông nghiệp ở địa phương. Tính
mùa của khí hậu quy định tính mùa trong sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm
nông nghiệp [23: tr.191]. Vì thế khi muốn phát triển nông nghiệp hay
chuyển đổi cơ cấu cây trồng thì ta phải quan tâm đến các yếu tố thích nghi
của chúng đối với khí hậu của địa phương. Hiện nay do biến đổi khí hậu
nên giới hạn sinh thái của cây trồng có sự thay đổi, vì thế khi phát triển
nông nghiệp ta cần phải quan tâm đến vấn đề này.
Đất đai: đất trồng là tư liệu sản xuất chủ yếu, là cơ sở để tiến hành
trồng trọt và chăn nuôi. Không thể sản xuất nông nghiệp nếu không có đất
19
4.2. Nhóm nhân tố thuộc về điều kiện kinh tế - xã hội
Nhóm nhân tố này luôn tác động mạnh mẽ đến sự hình thành và biến
đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Các nhân tố kinh tế - xã hội ảnh hưởng tới
sự phát triển nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp bao
gồm thị trường, hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước, cơ sở hạ
tầng nông thôn, sự phát triển của khu công nghiệp và đô thị, dân số và lao
động bao gồm cả số lượng và chất lượng (trình độ dân trí, trình độ chuyên
môn hóa, tập quán sản xuất…).
Dân cư và lao động: ảnh hưởng tới hoạt động nông nghiệp dưới hai
góc độ là lực lượng sản xuất trực tiếp và là nguồn tiêu thụ các nông sản.
Dưới góc độ là lực lượng sản xuất trực tiếp để tạo ra các sản phẩm nông
nghiệp, nguồn lao động được coi là nhân tố quan trọng để phát triển theo
chiều rộng (mở rộng diện tích, khai hoang) và theo chiều sâu (thâm canh,
tăng vụ). Dưới góc độ là nguồn tiêu thụ, cần quan tâm đến truyền thống,
tập quán ăn uống, quy mô dân số với khả năng sản xuất lương thực, thực
phẩm [23: tr.194].
Con người còn là nhân tố có ý nghĩa quyết định trong việc hình thành
và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp vì cơ cấu nông nghiệp mang
tính khách quan nhưng hình thành nhanh hay chậm, hợp lí hay không hợp lí
lại do tác động chủ quan của con người [15: tr.19].
Thị trường: là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nông
nghiệp nhất là khi nông nghiệp đang phát triển theo xu hướng hàng hóa.
Thị trường còn là căn cứ để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Nhu
cầu đa dạng của con người không ngừng biến đổi và tăng thêm đòi hỏi thị
trường phải đáp ứng. Vì thế tất yếu phải đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ,
như vậy không chỉ dừng lại ở cơ cấu kinh tế nông nghiệp truyền thống mà
đòi hỏi phải có sự chuyển dịch cơ cấu theo hướng ngày càng đa dạng có
hiệu quả đi theo với sự phát triển của nhu cầu thị trường [15: tr.17-18].
Phát triển thị trường sản xuất nông thôn sẽ tạo điều kiện tiêu thụ nông sản
21
lại hiệu quả cao trong nông nghiệp như chính sách dồn điền đổi thửa tích tụ
lại ruộng đất, chính sách hỗ trợ giá nông phẩm cũng như các chính sách
cho nông dân vay vốn với lãi suất thấp trong thời gian dài để đầu tư vào
phát triển các ngành trong nông nghiệp.
Chương 2: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NÔNG
NGHIỆP VÀ SỰ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
NÔNG NGHIỆP HUYỆN Ý YÊN.
22
1. Điều kiện tự nhiên
1.1. Vị trí địa lí
Ý Yên là huyện đồng bằng nằm ở phía Tây của thành phố Nam Định,
có tọa độ địa lý 20
0
13’ - 20
0
17’B và 105
0
55’ - 106
0
09’ Đ; phía Bắc giáp
tỉnh Hà Nam, phía Đông Bắc giáp huyện Vụ Bản, phía Đông Nam giáp
huyện Nghĩa Hưng, phía Tây và phía Nam giáp tỉnh Ninh Bình lấy sông
Đáy làm ranh giới. Diện tích toàn huyện là 24 173 ha. Dân số đạt 227 818
người (năm 2012). Gồm 32 đơn vị hành chính (31 xã và 1 thị trấn)
[20: tr.4].
Ý Yên là cửa ngõ phía tây của tỉnh Nam Định, là cầu nối trung chuyển
giữa tỉnh Nam Định với tỉnh Ninh Bình và các tỉnh phía nam. Thị trấn Lâm
là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của huyện, cách thành phố Nam
Định 25 km, cách thành phố Ninh Bình 9km. Đây là thị trường lớn để giao
không đồng nhất giữa các vùng. Theo “Báo cáo điều chỉnh quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất đai huyện Ý Yên đến năm 2010” [20], trên địa bàn
huyện có 10 loại đất, trong đó đất phù sa có tầng đốm rỉ chiếm tỉ lệ cao
nhất (27%) được phân bố ở các xã Yên Thành, Yên Thọ, Yên Lương… sau
đó là đất phù sa glây chua (15,4% diện tích) có ở Yên Minh, Yên Mỹ, Yên
Bình… Ngoài các loại đất phù sa còn có đất xám, đất cát và đất phèn
24
[20: tr.8]. Đây cũng điều kiện phải quan tâm trong quá trình chuyển đổi cơ
cấu cây trồng phù hợp với từng loại đất để đạt được hiệu quả kinh tế cao.
1.3. Khí hậu
Khí hậu là nhân tố ảnh hưởng lớn đến tính chất của cây trồng, vật
nuôi. Cũng giống như các huyện khác trong tỉnh Ý Yên mang đầy đủ
những đặc điểm của tiểu vùng khí hậu đồng bằng sông Hồng, là khu vực
nhiệt đới, gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều, có 4 mùa rõ rệt [20: tr.5].
- Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 23 - 24
0
C, số tháng có nhiệt độ
trung bình lớn hơn 20
0
C từ 8 - 9 tháng. Mùa đông nhiệt độ trung bình là
18,9
0
C, tháng lạnh nhất là tháng 1 và 2. Mùa hạ nhiệt độ trung bình là 27
0
C,
tháng nóng nhất là tháng 7 và 8 [20: tr.5].
- Độ ẩm: Độ ẩm không khí tương đối cao, trung bình
năm từ 80 - 85%,
giữa tháng có độ ẩm lớn nhất và tháng có độ ẩm nhỏ nhất chênh lệch không