Lí luận chung về bảo hiểm xã hội và
quản lí tài chính bảo hiểm xã hội
Biên tập bởi:
Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Lí luận chung về bảo hiểm xã hội và
quản lí tài chính bảo hiểm xã hội
Biên tập bởi:
Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Các tác giả:
Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Phiên bản trực tuyến:
/>MỤC LỤC
1. Những vấn đề cơ bản về bảo hiểm xã hội
2. Quản lí tài chính bảo hiểm xã hội
3. Kinh nghiệm của một số nước về quản lí tài chính bảo hiểm xã hội
Tham gia đóng góp
1/20
Những vấn đề cơ bản về bảo hiểm xã hội
Tính tất yếu khách quan của bảo hiểm xã hội
Sự ra đời của BHXH cũng giống như các chính sách xã hội khác luôn bắt nguồn từ yêu
cầu thực tiễn của cuộc sống đặt ra.Từ thời xa xưa, con người để chống lại những rủi ro,
thiên tai của cuộc sống đã biết đoàn kết tương trợ lẫn nhau, giúp đỡ lẫn nhau. Nhưng sự
giúp đỡ này chỉ mang tính tự phát và với quy mô nhỏ, thường là trong một nhóm người
chung quan hệ huyết thống.
Khi xã hội càng ngày càng tiến bộ, đặc biệt là khi chuyển sang giai đoạn có sự phân
công lao động xã hội, nền sản xuất xã hội lúc này đã phát triển. Cùng với nó là quan hệ
xã hội giữa các cá nhân, giữa các cộng đồng cũng phát triển hơn. Khi đó tôn giáo bắt
đầu xuất hiện, nó không chỉ với ý nghĩa giáo dục con người hướng thiện mà còn có các
trại bảo dưỡng, hội cứu tế với mục đích từ thiện, trợ giúp nhau trong cuộc sống. Như
vậy xét về bản chất thì hình thức tương trợ trong thời kì này đã mang tính có tổ chức và
quy mô rộng rãi hơn.
BHXH đã nhanh chóng ra đời và từng bước phát triển rộng khắp. BHXH đã được từ
điển bách khoa Việt Nam định nghĩa như sau:
“ BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi
họ bị mất hoặc giảm thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động hoặc bệnh nghề
nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng
góp của các bên tham gia BHXH, có sự bảo hộ của Nhà nước theo pháp luật, nhằm bảo
đảm an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm
an toàn xã hội.”
Qua khái niệm trên, có thể rút ra một số điểm cơ bản sau:
• Đối tượng của BHXH chính là phần thu nhập của người lao động bị biến động,
giảm hoặc mất đi do bị giảm hoặc mất khả năng lao động do các biến cố như đã
nêu trên từ đó để giúp ổ định cuộc sống của bản thân người lao động và gia
đình họ. Chính vì yếu tố này mà BHXH được coi là một chính sách lớn của mỗi
quốc gia và được Nhà nước quan tâm quản lí chặt chẽ. Cũng tùy vào điều kiện
kinh tế của mỗi nước mà các quy định về đối tượng này là có sự khác nhau
nhưng cùng bảo đảm ổn đình đời sống của người lao động.
• Đối tượng tham gia BHXH là gồm người lao động và cả người sử dụng lao
động. Sở dĩ người lao động phải đóng phí vì chính họ là đối tượng được hưởng
BHXH khi gặp rủi ro. Người sử dụng lao động đóng phí là thể hiện sự quan
tâm, trách nhiệm của họ đối với người lao động. Và sự đóng góp trên là bắt
buộc, ngoài ra còn có sự hỗ trợ của Nhà nước.
• Để điều hoà mâu thuẫn giữa người lao động và người sử dụng lao động, để gắn
bó lợi ích giữa họ, Nhà nước đã đứng ra yêu cầu cả hai bên cùng đóng góp và
đây cũng là chính sách xã hội được thực hiện góp phần ổn định cuộc sống một
cách hiệu quả nhất.
Dựa vào bản chất và chức năng của BHXH mà Tổ chức Lao động Quốc tế ( ILO) cũng
đã đưa ra một định nghĩa khác như sau:
“ BHXH là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt
các biện pháp công cộng (bằng pháp luật, trách nhiệm của Chính phủ) để chống lại tình
3/20
được tồn tích lại do bên tham gia BHXH đóng góp và có thêm sự hỗ trợ của NSNN.
Chức năng của bảo hiểm xã hội
Chức năng cơ bản nhất của BHXH là thay thế, bù đắp phần thu nhập của người lao động
khi họ gặp những rủi ro làm mất thu nhập do mất khả năng lao động hay mất việc làm.
4/20
Rủi ro này có thể làm mất khả năng lao động tam thời hay dài hạn thì mức trợ cấp sẽ
được quy định cho từng trường hợp. Chức năng này quyết định nhiệm vụ, tính chất và
cả cơ chế tổ chức hoạt động của BHXH.
Đối tượng tham gia BHXH có cả người lao động và người sử dụng lao động và cùng
phải đóng góp vào quỹ BHXH. Quỹ này dùng để trợ cấp cho người lao động khi gặp
phải rủi ro, số người này thường chiếm số ít. BHXH thực hiện cả phân phối lại thu nhập
theo chiều dọc và chiều ngang, giữa người lao động khoẻ mạnh với người lao động ốm
đau, già yếu , giữa những người có thu nhập cao phải đóng nhiều với người có thu nhập
thấp phải đóng ít. Như vậy thực hiện chức năng này BHXH còn có ý nghĩa góp phần
thực hiện công bằng xã hội, một mục tiêu quan trọng trong chính sách kinh tế -xã hội
của mỗi quốc gia.
Nhờ có BHXH mà người lao động luôn yên tâm lao động, gắn bó với công việc, nâng
cao năng suất lao động. Từ đó góp phần nâng cao năng suất lao động xã hội, tạo ra của
cải vật chất ngày càng nhiều hơn, nâng cao đời sống toàn xã hội. Nếu trước đây, sự trợ
giúp là mang tính tự phát, thì hiện nay khi xã hội đã phát triển, việc trợ giúp đã được cụ
thể hoá bằng các chính sách, quy định của Nhà nước. Sự bảo đảm này giúp gắn bó mối
quan hệ giữa người lao động và xã hội và càng thúc đẩy hơn nghĩa vụ của họ đối với xã
hội.
Trong thực tế giữa người lao động và người sử dụng lao động có những mâu thuẫn nội
tại, khách quan về tiền lương, tiền công, thời gian lao động BHXH đã gắn bó lợi ích
giữa họ, đã điều hoà được những mâu thuẫn giữa họ, làm cho họ hiểu nhau hơn. Đây
cũng là mối quan hệ biện chứng hai bên đều có lợi, người lao động thì được đảm bảo
cuộc sống, người sử dụng thì sẽ có một đội ngũ công nhân hăng hái, tích cực trong sản
xuất. Đối với Nhà nước thì BHXH là cách chi ít nhất song hiệu quả nhất vì đã giải quyết
những khó khăn về đời sống của người lao động và góp phần ổn định sản suất, ổn định
• Chăm sóc y tế.
• Trợ cấp ốm đau.
• Trợ cấp thất nghiệp.
• Trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
• Trợ cấp tuổi già.
• Trợ cấp thai sản.
• Trợ cấp tàn tật.
• Trợ cấp vì mất người trụ cột gia đình.
Các thành viên tham gia Công ước phải thực hiện ít nhất là 3 trong 9 chế độ nói trên,
trong đó phải có nhất thiết 1 trong năm chế độ sau đây:
• Trợ cấp tuổi già.
• Trợ cấp thất nghiệp.
• Trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
• Trợ cấp tàn tật.
• Trợ cấp vì mất người trụ cột gia đình.
Mỗi chế độ trong hệ thống BHXH khi xây dựng phải dựa trên các cơ sở điều kiện kinh
tế, thu nhập, tiền lương, Đồng thời, tuỳ từng chế độ mà còn phải tính đến các yếu tố
6/20
sinh học, tuổi thọ bình quân, nhu cầu dinh dưỡng, để quy định các mức đóng, mức
hưởng, thời gian hưởng và đối tượng hưởng cho hợp lí. Các chế độ BHXH có những
đặc điểm chủ yếu sau đây:
+ Các chế độ được xây dựng theo luật pháp của mỗi nước.
+ Hệ thống các chế độ mang tính chất chia sẻ rủi ro, chia sẻ tài chính.
+ Mỗi chế độ được chi trả đều căn cứ chủ yếu vào mức đóng góp của các bên tham gia
BHXH.
+ Phần lớn các chế độ là chi trả định kì.
+ Đồng tiền được sử dụng làm phương tiện chi trả và thanh quyết toán.
+ Chi trả BHXH như là quyền lợi của mỗi chế độ BHXH.
+ Mức chi trả còn phụ thuộc vào quỹ dự trữ. Nếu quỹ dự trữ được đầu tư có hiệu quả và
an toàn thì mức chi trả sẽ cao và ổn định.
quy định người sử dụng lao động phải chịu toàn bộ chi phí cho chế độ tai nạn lao động,
Chính phủ trả chi phí y tế và trợ cấp gia đình, các chế độ còn lại cả người lao động và
người sử dụng lao động cùng đóng góp mỗi bên một phần bằng nhau. Trong đó, một số
nước khác lại quy định, Chính phủ bù thiếu cho quỹ BHXH hoặc chịu toàn bộ chi quản
lí BHXH
Quỹ BHXH được sử dụng để chi trả chủ yếu cho hai mục đích sau: thứ nhất là chi trả
và trợ cấp cho các chế độ BHXH như đã nêu ở mục 5, còn lại là chi trả cho chi phí sự
nghiệp quản lí BHXH. Trong hai khoản chi đó thì khoản chi thứ nhất là quan trọng và
chiếm phần lớn trong quỹ BHXH. Các khoản trợ cấp này cũng được quy định về mức
trợ cấp và thời gian hưởng một cách cụ thể và có sự khác biệt đối với từng chế độ. Tại
những nước khác nhau thì các khoản trợ cấp này cũng được quy định khác nhau.
Phân loại quỹ BHXH:
Tuỳ theo mục đích và cách tổ chức của những hệ thống BHXH trên thế giới mà quỹ
BHXH được phân loại khác nhau:
• Phân loại theo các chế độ bao gồm: Quỹ hưu trí, tử tuất; Quỹ tai nạn lao động
và bệnh nghề nghiệp; Quỹ thất nghiệp; Quỹ ốm đau thai sản.
• Phân loại theo tính chất sử dụng bao gồm: Quỹ ngắn hạn để chi trả cho các chế
độ ngắn hạn như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động làm mất khả năng lao động
tạm thời; Quỹ dài hạn để chi trả trợ cấp cho các chế độ như hưu trí, tử tuất.
• Phân loại theo đối tượng tham gia bao gồm: Quỹ cho công chức Nhà nước, quỹ
cho lực lượng vũ trang, quỹ cho lao động trong các doanh nghiệp, quỹ cho các
đối tượng còn lại.
Việc phân loại quỹ như trên cần được thực hiện và cân nhắc tránh những tình trạng phân
nhỏ quỹ dễ gây ra tình trạng mất tập trung, không có sự bổ xung và hỗ trợ lẫn nhau. Việc
phân chia quỹ không hợp lí sẽ dẫn tới những ảnh hưởng xấu đến việc chi trả cho các đối
tượng, đặc biệt là vấn đề quản lí quỹ một cách hợp lí. Dựa trên các cách tổ chức thực
8/20
hiện các chế độ mà mỗi nước lại có những quy định khác nhau về các quỹ thành phần.
Các quỹ thành phần phải thực sự phù hợp với hệ thống BHXH đó.
9/20
Đây cũng là một đặc thù trong ngành Bảo hiểm nói chung và BHXH nói riêng
vì tính đảo ngược chu kì kinh doanh tức là thu phí trước chi trả cho các chế độ
sau. Tuy có sự hỗ trợ của NSNN, song quản lí tài chính BHXH phải góp phần
giảm gánh nặng cho NSNN và vẫn thực hiện chính sách xã hội này một cách
tốt nhất.
• Quỹ BHXH phải được bảo tồn và phát triển: Như trên đã đề cập thì ngành Bảo
hiểm có đặc thù thu phí trước, chi trả sau, thời gian đóng và thời gian hưởng có
10/20
thể kéo dài, đồng tiền có giá trị về mặt thời gian. Do vậy cần đầu tư để bảo tồn
và tăng trưởng quỹ một cách hợp lí. Để đảm bảo nguyên tắc này cơ quan
BHXH phải tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động thu chi và quản lí quỹ
thực hiện đầu tư phần quỹ nhàn rỗi một cách có hiệu quả và tuân thủ các
nguyên tắc sau:
+An toàn: Mục đích của quỹ là bảo đảm chi trả lương hưu và các trợ cấp BHXH cho
người lao động. Vì vậy, quỹ dù có đầu tư vào lĩnh vực nào cũng phải đảm bảo an toàn
cho khoản đầu tư đó. Đảm bảo an toàn là không chỉ bảo toàn vốn đầu tư về danh nghĩa,
mà còn là bảo toàn về cả giá trị thực tế, điều này càng có ý nghĩa quan trọng trong thời
kì lạm phát. Nói cách khác thì đầu tư quỹ phải lựa chọn lĩnh vực để giảm thiểu rủi ro.
+ Hiệu quả: Đây là mục tiêu của việc đầu tư tăng trưởng quỹ do vậy nguyên tắc này rất
quan trọng và phải được đi liền với nguyên tắc thứ nhất. Lãi đầu tư không chỉ góp phần
đảm bảo khả năng thanh toán cho các khoản chi mà còn góp phần cho phép hạ tỉ lệ đóng
góp của người lao động và người sử dụng lao động.
+ Khả năng thanh toán (tính lưu chuyển của vốn): Đây cũng là yêu cầu đặc thù của
nghành do các khoản chi trả là phát sinh sau và kéo dài nên các khoản đầu tư phải đảm
bảo tính thanh khoản để dễ dàng chi trả cho các đối tượng kịp thời. Đặc biệt tránh những
khoản đầu tư dễ vướng vào những vấn đề tồn khoản. Các hình thức đầu tư dễ thanh
khoản và an toàn thường được ưu tiên thực hiện trước.
+ Có lợi ích kinh tế, xã hội: Là một quỹ tài chính để thực hiện chính sách xã hội, do
đó trong quá trình đầu tư phải lưu ý đến việc nâng cao phúc lợi cho người dân, phải ra
sức cải thiện chất lượng chung cho đời sống dân cư của đất nước. Các hình thức, hạng
+ Quản lí công tác cấp sổ BHXH: Vì đây là căn cứ xác định quá trình đóng góp, ngành
nghề lao động, thời gian lao động, tên người lao động và một số thông tin khác.
Quản lí quỹ lương của các doanh nghiệp:Theo những quy định hiện hành như ngày nay
thì phí thu BHXH thường được tính theo phần trăm tổng quỹ lương của doanh nghiệp và
tiền lương tháng của người lao động nên quỹ lương còn là cơ sở để quản lí thu một cách
thuận lợi. Dựa trên quỹ lương của doanh nghiệp BHXH có thể đảm bảo thu đúng, thu
đủ và hạn chế được tình trạng gian lận trốn đóng BHXH. Bên cạnh đó chính các doanh
nghiệp trở thành những “đại lí” thực hiện thu và chi trả trực tiếp cho một vài chế độ là
thực sự thuận lợi cho công tác thu phí nói riêng và công tác thực hiện các chế độ BHXH
nói chung.
Quản lí tiền thu BHXH:Các đơn vị, doanh nghiệp sẽ thực hiện nộp phí thông qua tài
khoản của BHXH. Do vậy, BHXH khó nắm bắt được tình hình thu. Để đảm bảo thu
đúng, thu đủ, kịp thời cần có những quy định rõ ràng về thời gian nộp, hệ thống tài
khoản thu nộp phải thuận lợi và an toàn cho việc nộp. Việc nắm bắt tình hình thu BHXH
giúp quản lí quỹ dễ dàng, kịp thời điều chỉnh và đảm bảo cho công tác chi trả được thực
hiện một cách tốt nhất. Trong nội dung quản lí thu BHXH, tất cả các đóng góp BHXH
sẽ được quản lí chung một cách thống nhất, dân chủ, công khai trong toàn hệ thống.
12/20
Quản lí chi BHXH.
Các khoản chi BHXH bao gồm các khoản chi cho các chế độ, chi quản lí và chi khác.
Trong đó có thể nói hai khoản chi đầu là rất lớn đặc biệt là chi cho các chế độ, hơn nữa
khoản chi này chính là thể hiện sự bảo đảm cuộc sống của chính sách BHXH. Vì vậy
nhắc đến quản lí chi là nhắc đến hai nội dung chính sau:
Quản lí hoạt động chi trả cho các chế độ:Mục tiêu của hoạt động quản lí chi không với
mục đích giảm khoản chi này một cách lớn nhất có thể mà quản lí để tránh tình trạng
chi sai chế độ hoặc chi không đúng đối tượng vừa tránh lãng phí lại đảm bảo công bằng
cho các đối tượng tham gia BHXH. Do vậy, để đảm bảo chi trả trợ cấp đúng chế độ,
đúng đối tượng, kịp thời cần có phương thức chi hợp lí, tổ chức thực hiện chi trả cho
các chế độ thuận lợi, dễ dàng. Cũng như quản lí hoạt động thu trước tiên chúng ta phải
quản lí những đối tượng được hưởng các chế độ BHXH. Đối tượng có thể hưởng các
gánh nặng cho NSNN. Để hoạt động đầu tư thực hiện đúng vai trò của nó thì phải đảm
bảo những nguyên tắc như an toàn, tránh rủi ro, có lãi và trên hết là thực hiện được lợi
ích xã hội.
Quản lí hoạt động cân đối quỹ.
BHXH là chính sách xã hội nên khác với các loại hình bảo hiểm thương mại, BHXH
hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận mà mục đích lớn nhất là ổn định cuộc sống của
người lao động. Do vậy cân bằng thu chi là trạng thái mong muốn của mỗi nước khi
triển khai thực hiện BHXH. Để cân đối thu chi trên thực tế thường phải có sự hỗ trợ của
NSNN, đồng thời thì quỹ phải tìm cho mình những nguồn thu khác để đảm bảo cân bằng
quỹ. Trong đó các khoản chi và nguồn thu đã được trình bày ở trên. Quản lí cân đối quỹ
là việc làm hết sức quan trọng nhằm phát hiện ra những thay đổi dẫn đến mất cân đối để
có những biện pháp khắc phục kịp thời.
Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động quản lí tài chính BHXH.
Đối với ngành quản trị nói chung và công tác quản lí tài chính BHXH nói riêng thì việc
xem xét các yếu tố tác động của môi trường tới hoạt động của đối tượng quản lí là rất
cần thiết. Các tác động của môi trường có thể mang đến những thách thức cũng như
những cơ hội cho chính bản thân các hoạt động tài chính của BHXH. Muốn quản lí tốt,
nhà quản trị cần nắm rõ những yếu tố này để đưa ra những quyết định hợp lí và có lợi
nhất cho đối tượng quản lí. Các tác động của môi trường thường được chia làm hai loại
là tác động của môi trường ngoài hệ thống và tác động từ môi trường trong hệ thống.
Tác động từ môi trường ngoài hệ thống bao gồm các ảnh hưởng từ môi trường kinh tế-
chính trị- xã hội của mỗi quốc gia. Nhìn rộng ra thì có thể là cả những ảnh hưởng của
môi trường thế giới. Khi chúng ta xem xét các yếu tố của BHXH dưới giác độ của các
công ước quốc tế mà Tổ chức Lao động Quốc tế ( ILO) đã quy định. Nhưng các nhân tố
môi trường trong nước là quan trọng hơn. BHXH không chỉ là thể hiện tính ưu việt của
mỗi Nhà nước mà chính Nhà nước cũng là chủ sử dụng lao động lớn nhất trong xã hội.
Các chính sách, quyết định của Nhà nước tác động trực tiếp tới hoạt động quản lí. Môi
trường kinh tế như GDP, thu nhập bình quân đầu người, giá cả, tình trạng nền kinh tế
tăng trưởng hay khủng hoảng, mức sống tối thiểu, các dịch vụ công cộng . Đây là các
yếu tố tác động tới thu chi, cân đối quỹ BHXH sao cho phù hợp đảm bảo ổn định cuộc
+ Bảo hiểm y tế.
+ Bảo hiểm chăm sóc sức khoẻ cho người già và người tàn tật.
+ Bảo hiểm ốm đau.
+ Bảo hiểm tai nạn lao động.
+ Bảo hiểm hưu trí.
Hoạt động BHXH của Cộng hoà Liên bang Đức thực hiện theo ba trụ cột chính là:
• Hệ thống BHXH bắt buộc.
• Hệ thống BHXH tư nhân.
• Hệ thống BHXH ở các xí nghiệp.
Trong đó hệ thống BHXH bắt buộc được tổ chức theo mô hình tự quản, bảo đảm tài
chính theo phương pháp lấy thu bù chi. Hệ thống BHXH tư nhân và hệ thống BHXH ở
các xí nghiệp hoạt động theo Bộ luật Lao động của Liên bang. Tự chịu là hình thức quản
16/20
lí tương đối độc lập với sự chỉ đạo của cơ quan quản lí Nhà nước cao nhất. Có thể hiểu
rõ thông qua cơ chế quản lí chung của Quỹ hưu trí sau. Cơ quan quản lí cao nhất là một
Hội đồng, hội động này bổ nhiệm Ban điều hành, từ Ban điều hành sẽ điều hành mọi
hoạt động của tổ chức. Hoạt động tài chính trong năm của Quỹ hưu trí viên chức Liên
bang diễn ra như sau:
Vào mùa hè hàng năm, các chuyên gia của Chính phủ Liên bang, tổ chức BHXH, Tổng
cục Thống kê sẽ dự kiến nhu cầu tài chính của năm tới theo phương pháp ước tính. Từ
đó đưa ra dự kiến số thu, dự kiến số chi, trên cơ sở này xác định tỉ lệ thu cho năm tới
và tiến hành đưa ra bằng một văn bản có hiệu lực pháp luật. Quỹ thu thường là đủ dùng
chi trả cho các đối tượng hưởng chế độ, chi hoạt động của bộ máy quản lí và còn một
khoản để dự trữ gọi là khoản dự trữ trần. Do sự ổn định của nền kinh tế mà khoản dự
trữ này thường chỉ ở mức đủ chi cho các đối tượng do quỹ đảm bảo trong một tháng, từ
năm 2001 đã rút xuống khoản 0,8 tháng. Cách này có những ưu điểm như: hạn chế được
những tác động của môi trường kinh tế, dễ dàng cân đối quỹ, giảm thiểu tình trạng bội
chi, không hề gây gánh nặng cho NSNN, .
Cộng hoà Liên bang Đức không có các tổ chức BHXH thực hiện cùng một lúc nhiều chế
độ, mà thông thường mỗi tổ chức chỉ chịu trách nhiệm thu, chi cho một loại chế độ nhất
18/20
Tham gia đóng góp
Tài liệu: Lí luận chung về bảo hiểm xã hội và quản lí tài chính bảo hiểm xã hội
Biên tập bởi: Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
URL: />Giấy phép: />Module: Những vấn đề cơ bản về bảo hiểm xã hội
Các tác giả: Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
URL: />Giấy phép: />Module: Quản lí tài chính bảo hiểm xã hội
Các tác giả: Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
URL: />Giấy phép: />Module: Kinh nghiệm của một số nước về quản lí tài chính bảo hiểm xã hội
Các tác giả: Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
URL: />Giấy phép: />19/20
Chương trình Thư viện Học liệu Mở Việt Nam
Chương trình Thư viện Học liệu Mở Việt Nam (Vietnam Open Educational Resources
– VOER) được hỗ trợ bởi Quỹ Việt Nam. Mục tiêu của chương trình là xây dựng kho
Tài nguyên giáo dục Mở miễn phí của người Việt và cho người Việt, có nội dung phong
phú. Các nội dung đểu tuân thủ Giấy phép Creative Commons Attribution (CC-by) 4.0
do đó các nội dung đều có thể được sử dụng, tái sử dụng và truy nhập miễn phí trước
hết trong trong môi trường giảng dạy, học tập và nghiên cứu sau đó cho toàn xã hội.
Với sự hỗ trợ của Quỹ Việt Nam, Thư viện Học liệu Mở Việt Nam (VOER) đã trở thành
một cổng thông tin chính cho các sinh viên và giảng viên trong và ngoài Việt Nam. Mỗi
ngày có hàng chục nghìn lượt truy cập VOER (www.voer.edu.vn) để nghiên cứu, học
tập và tải tài liệu giảng dạy về. Với hàng chục nghìn module kiến thức từ hàng nghìn
tác giả khác nhau đóng góp, Thư Viện Học liệu Mở Việt Nam là một kho tàng tài liệu
khổng lồ, nội dung phong phú phục vụ cho tất cả các nhu cầu học tập, nghiên cứu của
độc giả.
Nguồn tài liệu mở phong phú có trên VOER có được là do sự chia sẻ tự nguyện của các
tác giả trong và ngoài nước. Quá trình chia sẻ tài liệu trên VOER trở lên dễ dàng như
đếm 1, 2, 3 nhờ vào sức mạnh của nền tảng Hanoi Spring.
Hanoi Spring là một nền tảng công nghệ tiên tiến được thiết kế cho phép công chúng dễ
dàng chia sẻ tài liệu giảng dạy, học tập cũng như chủ động phát triển chương trình giảng