Thành phần ruồi đục lá họ agromyzidae, đặc điểm sinh học, sinh thái học của loài ruồi đục lá lớn chromatomyia horticola goureau trên cây dưa chuột ở hà nội và biện pháp phòng chống - Pdf 24

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
HOÀNG THỊ HẰNG
THÀNH PHẦN RUỒI ĐỤC LÁ HỌ AGROMYZIDAE, ĐẶC ĐIỂM
SINH HỌC, SINH THÁI HỌC CỦA LOÀI RUỒI ĐỤC LÁ LỚN
Chromatomyia horticola Goureau TRÊN CÂY DƯA CHUỘT
Ở HÀ NỘI VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: Bảo vệ thực vật
Mã số: 62.62.10.01
Người hướng dẫn khoa học:
GS.TS. NGUYỄN VIẾT TÙNG
PGS.TS. HỒ THỊ THU GIANG
HÀ NỘI, 2012
i
LỜI CAM ĐOAN
- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận án là
trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã được
cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận án đều được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận án
Hoàng Thị Hằng
ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận án ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được
sự quan tâm, dìu dắt và giúp đỡ tận tình của GS. TS. NGƯT. Nguyễn Viết
Tùng, PGS. TS. Hồ Thị Thu Giang Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội.
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới sự giúp đỡ quý báu của hai
thầy cô hướng dẫn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, các thầy cô cùng tập thể cán
bộ công nhân viên Viện Đào tạo Sau đại học, Bộ môn Côn trùng, Khoa Nông

1.2 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 6
1.2.1 Kết quả nghiên cứu về ruồi đục lá rau 6
1.2.2 Kết quả nghiên cứu về ong ký sinh ruồi đục lá 25
CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 33
2.1.1 Thời gian nghiên cứu 33
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 33
2.2 Vật liệu và dụng cụ nghiên cứu 33
2.3 Nội dung nghiên cứu 34
2.4 Phương pháp nghiên cứu 34
2.4.1 Điều tra thành phần, diễn biến số lượng của loài ruồi đục lá và
thiên địch của chúng trong phổ thức ăn và trên cây dưa chuột 34
iv
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học và sinh
thái của loài ruồi đục lá 37
2.4.3 Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái của
loài ong Phaedrotoma phaseoli Fischer ký sinh ruồi đục lá 44
2.4.4 Nghiên cứu các biện pháp phòng chống ruồi đục lá hại dưa
chuột tại vùng nghiên cứu 46
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 52
3.1 Thành phần, sự chu chuyển và phân bố của ruồi đục lá họ
Agromyzidae tại Hà Nội và phụ cận 52
3.1.1 Thành phần ruồi đục lá tại Hà Nội và phụ cận 52
3.1.2 Sự chu chuyển trong phổ ký chủ của 2 loài ruồi đục lá chủ
yếu tại vùng Hà Nội và phụ cận 56
3.1.3 Sự phân bố của giòi loài ruồi đục lá lớn C. horticola và loài
ruồi đục lá phổ biến L. sativae ở các tầng lá khác nhau trên
cây dưa chuột 61
3.2 Đặc điểm hình thái, sinh học và sinh thái của hai loài ruồi đục
lá lớn Chromatomyia horticola và Liriomyza sativae trên cây

Ký hiệu, chữ viết tắt
Diễn giải
Ctv
Cộng tác viên
DT
Thời gian tăng đôi số lượng cá thể
Et al.
Và những người khác trong tài liệu tiếng Anh
IPM
Quản lý tổng hợp
KC
Ký chủ
KS
Ký sinh
lx
Tỷ lệ cái sống sót
mx
Số con cái đẻ ra ở thế hệ sau
R
Tỷ lệ gia tăng tự nhiên
R
0
Hệ số nhân của một thế hệ
T
Thời gian một thế hệ tính theo đời con
T
0
Thời gian một thế hệ tính theo đời mẹ
TGS
Thời gian sống

3.10 Nhịp điệu đẻ trứng của loài ruồi đục lá lớn C. horticola (Hà Nội,
năm 2009) 76
3.11 Bảng sống của loài ruồi đục lá lớn C. horticola trên cây dưa chuột
(Hà Nội, năm 2009) 77
3.12 Diễn biến mật độ giòi của ruồi đục lá lớn và tỷ lệ lá bị hại trên
các vụ dưa chuột (Hà Nội, năm 2009) 80
viii
3.13 Ảnh hưởng của các loại thức ăn đến thời gian sống của trưởng
thành loài ruồi đục lá phổ biến L. sativae (Hà Nội, năm 2010) 86
3.14 Thời gian phát dục các pha và vòng đời của Liriomyza sativae
trên cây dưa chuột (Hà Nội, năm 2009, 2010) 87
3.15 Sức đẻ trứng của trưởng thành cái ruồi đục lá phổ biến
Liriomyza satiave trên cây dưa chuột (Hà Nội, năm 2009) 89
3.16 Nhịp điệu đẻ trứng của loài ruồi đục lá phổ biến L. sativae trên
cây dưa chuột (Hà Nôi, năm 2009) 90
3.17 Thành phần ong ký sinh ruồi đục lá họ Agromyzidae hại rau (Hà
Nội, Hương Yên, năm 2008 - 2010) 93
3.18 Ảnh hưởng của thức ăn thêm đến thời gian sống và khả năng ký
sinh của trưởng thành ong P. phaseoli ( Hà Nội, năm 2010) 101
3.19 Thời gian phát dục các pha và vòng đời của ong P. phaseoli ký
sinh trên giòi của ruồi đục lá (Hà Nội, năm 2010) 103
3.20 Sức đẻ trứng của ong ký sinh P. phaseoli (Hà Nội, năm 2010) 104
3.21 Ảnh hưởng của tuổi ký chủ đến khả năng ký sinh của ong P.
phaseoli (thí nghiệm không có sự lựa chọn tuổi ký chủ) (Hà Nội,
năm 2010) 106
3.22 Ảnh hưởng của tuổi ký chủ tới tỷ lệ ký sinh và hệ số lựa chọn tuổi
ký chủ của ong P. phaseoli (Hà Nội, năm 2010) (thí nghiệm có
sự lựa chọn tuổi ký chủ) 107
3.23 Ảnh hưởng của số lượng ký chủ đến tỷ lệ ký sinh của P. phaseoli
(Hà Nội, năm 2010) 108

x
DANH MỤC HÌNH
STT
Tên hình
Trang
1.1 Giòi ruồi đục lá lớn Chromatomyia horticola: 17
1.2 Cánh ruồi đục lá lớn C. horticola, (Spencer, 1973) [109] 17
3.1 Một số loài ruồi đục lá họ Agromyzidae tại Hà Nội và phụ cận 53
3.2 Triệu chứng gây hại của ruồi đục lá trên dưa chuột 61
3.3 Diễn biến mật độ giòi loài C. horticola và L. sativae ở các tầng lá
khác nhau trên cây dưa chuột vụ Đông (Hà Nội, năm 2010) 62
3.4 Trứng của ruồi đục lá lớn C. horticola 64
3.5 Giòi tuổi 1 của ruồi đục lá lớn C. horticola 65
3.6 Giòi tuổi 2 của ruồi đục lá lớn C. horticola 66
3.7 Giòi tuổi 3 của ruồi đục lá lớn C. horticola 66
3.8 Nhộng của ruồi đục lá lớn C. horticola 67
3.9 Trưởng thành cái C. horticola 68
3.10 Trưởng thành đực C. horticola 68
3.11 Trưởng thành ruồi đục lá lớn C. horticola 68
3.12 Nhịp điệu đẻ trứng của loài ruồi đục lá lớn C. horticola (Hà Nội,
năm 2009) 76
3.13 Tỷ lệ sống (lx) và số con cái đẻ ra (mx) của loài ruồi đục lá lớn
C. horticola (Hà Nội, năm 2009) 78
3.14 Ảnh hưởng của các trà dưa chuột đến diễn biến mật độ giòi của ruồi
đục lá lớn và tỷ lệ lá dưa chuột bị hại vụ Đông (Hà Nội, năm 2009) 82
3.15 Diễn biến mật độ giòi của ruồi đục lá lớn và tỷ lệ lá dưa chuột bị
hại trên các giống dưa chuột vụ Xuân (Hà Nội, năm 2010) 84
3.16 Nhịp điệu đẻ trứng của loài ruồi đục lá phổ biến L. sativae trên
cây dưa chuột (Hà Nội, năm 2009) 91
xi

xuất rau trên thế giới với đặc tính dễ thích nghi với môi trường sống mới, tốc độ
phát triển nhanh và chóng quen với các loại thuốc hoá học (Nguyễn Văn Đĩnh,
Lương Thị Kiểm, 2001) [11].
Nước ta nằm trong vùng phân bố của các loài ruồi đục lá này, chúng là
nhóm dịch hại rất phổ biến ở Việt Nam, hầu như trên các loại rau màu trồng
quanh năm ở các địa phương đều bắt gặp triệu chứng gây hại của nhóm ruồi
đục lá (Trần Thị Thiên An, 2000) [1]. Song, đây là nhóm dịch hại còn khá
mới mẻ ở nước ta nên việc xác định thành phần cũng như sự phân bố, gây hại
2
trong phổ ký chủ của chúng để từ đó nắm vững đối tượng gây hại cho mùa
màng là một yêu cầu cấp thiết.
Hơn nữa, ruồi đục lá là những loài đa thực nên các loài ruồi đục lá dễ có
chung ổ sinh thái khiến chúng có thể cùng có mặt trên một loại cây trồng. Điều
này gây không ít trở ngại trong việc nhận diện đúng đối tượng gây hại. Tuy
nhiên, giữa chúng sẽ nảy sinh mối quan hệ cạnh tranh về thức ăn và nơi ở. Vì thế
loài có ưu thế hơn sẽ trở thành loài gây hại chính (Phạm Bình Quyền, 1994)
[28]. Xuất phát từ đặc điểm này, việc nghiên cứu hiện tượng tập trung loài và độ
ưu thế của từng loài ruồi đục lá là rất cần thiết để đánh giá đúng đối tượng gây
hại chính trên đồng ruộng.
Mặt khác, cũng do phần lớn nhóm ruồi đục lá có tính đa thực nên
chúng có khả năng phân bố rộng rãi trong tự nhiên và chu chuyển dễ dàng
trong phổ thức ăn của chúng qua các mùa trong năm. Vì vậy, việc tìm hiểu
đặc điểm phân bố và chu chuyển của chúng là cơ sở quan trọng để xác định
nguồn ruồi cũng như quy luật phát sinh phát triển của nhóm côn trùng này
trên một số cây trồng trên đồng ruộng.
Đặc biệt, ruồi đục lá lại là nhóm côn trùng phân bố rộng, có khả năng
xuất hiện quanh năm nên tập đoàn thiên địch của chúng sẽ rất đa dạng và
phong phú. Việc tìm hiểu thành phần, mức độ chuyên tính và diễn biến số
lượng của các sinh vật có ích này sẽ rất có ý nghĩa trong việc đề xuất biện pháp
quản lý tổng hợp đối với các loài ruồi đục lá, góp phần làm giảm việc lạm dụng

Phaedrotoma phaseoli trên ruồi đục lá rau. Cung cấp các dẫn liệu khoa học
mới về đặc điểm sinh vật học, sinh thái học và yếu tố ảnh hưởng đến sự phát
sinh, phát triển của loài ruồi đục lá lớn C. horticola và ong ký sinh chúng
Phaedrotoma phaseoli trên dưa chuột tại Hà Nội và phụ cận.
3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Dựa trên các kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái học của
4
loài ruồi đục lá lớn C. horticola gây hại cây dưa chuột, đã đề xuất các biện
pháp phòng chống loài ruồi đục lá này trên cây dưa chuột vừa đạt hiệu quả kinh
tế và môi trường, vừa phù hợp với trình độ canh tác của nông dân.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là loài ruồi đục lá lớn Chromatomyia horticola;
loài ruồi đục lá phổ biến Liriomyza sativae (Diptera: Agromyzidae) và loài
ong ký sinh của chúng Phaedrotoma phaseoli (Hymenoptera: Braconidae)
trên cây dưa chuột tại Hà Nội và vùng phụ cận.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học và các yếu
tố ảnh hưởng đến sự phát sinh, phát triển của loài ruồi đục lá chủ yếu và ong
ký sinh chúng trên cây dưa chuột.
Xây dựng và thực hiện một số biện pháp phòng chống loài ruồi đục lá
chủ yếu gây hại cây dưa chuột theo hướng tổng hợp ở vùng nghiên cứu.
5 Những đóng góp mới của đề tài
- Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu tương đối hệ thống về loài
ruồi đục lá lớn Chromatomyia horticola (Goureau) gây hại trên dưa chuột
vùng Hà Nội và phụ cận.
- Cung cấp các dẫn liệu khoa học mới về đặc điểm hình thái, sinh học,
sinh thái của loài ruồi đục lá lớn C. horticola và ong ký sinh Phaedrotoma
phaseoli.
5

thành phố Hồ Chí Minh, miền Trung. Các nghiên cứu đã công bố đề cập tới
thành phần loài ruồi của giống Liriomyza, tác hại, đặc điểm sinh học của loài
quan trọng, ký sinh phổ biến trên ruồi đục lá, biện pháp phòng trừ chúng trên
các cây như đậu ăn quả, khoai tây, cà chua ở các địa danh trên. Tuy nhiên,
chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, chi tiết về ruồi đục lá
thuộc họ Agromyzidae trên cây dưa chuột – một loại rau có giá trị cao ở khu
vực Hà Nội. Để có cơ sở khoa học cho việc xây dựng hệ thống quản lý tổng
hợp nhóm ruồi đục lá hại dưa chuột thì cần có những nghiên cứu chuyên sâu
về đặc tính sinh vật học, sinh thái học, quy luật phát sinh gây hại và thử
nghiệm các biện pháp phòng trừ chúng mà trong đó có những nghiên cứu sâu
hơn về biện pháp canh tác và sinh học là rất cần thiết.
1.2 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
1.2.1 Kết quả nghiên cứu về ruồi đục lá rau
1.2.1.1 Lịch sử phát hiện
Ruồi đục lá Liriomyza thuộc họ Agromyzidae bộ 2 cánh Diptera. Tên
gọi chung là giòi đục lá rau, đậu (tiếng Anh gọi là Leafminer). Trưởng
thành cái đẻ trứng vào trong nhu mô lá, sâu non (giòi) đục ăn nhu mô lá tạo
thành đường hầm ngoằn ngoèo hay "vẽ bùa". Trên thế giới, Liriomyza được
phát hiện từ năm 1894 với trên 300 loài ruồi đục lá thuộc giống Liriomyza,
nhưng chỉ có 23 loài gây hại trong nông nghiệp, trong đó có nhiều loài có
tính ăn đa thực, gây hại đáng kể trên rau, đậu (Spencer K.A., 1990) [111].
Ruồi đục lá phổ biến Liriomyza sativae lần đầu tiên được phát hiện gây hại
trên lá cỏ Linh lăng (Medictalic sativa) ở Argentina, sau đó nó được tìm thấy
7
ở bắc, trung và nam Mỹ, quần đảo Caribe, Châu Phi và một số quốc gia
Châu Á. L. sativae xâm nhập vào Châu Âu qua con đường nhập nội cây
trồng (Spencer, 1986) [110]. Trước những năm 1970, L. sativae chưa từng
xuất hiện ở Châu Á (Nguyễn Thị Minh Ngọc, 2002) [24], đến năm 1992 nó
xuất hiện ở Thái Lan và được tìm thấy ở Hải Nam - Trung Quốc năm 1993,
năm 1994 L. sativae được tìm thấy ở Ấn Độ, Camerun, Sudang và năm 1997

biến nhất là loài L. huidobrensis, được ghi nhận trên 45 loài cây trồng.
Ở Việt Nam, theo công bố của các tác giả Hà Quang Hùng (2001) [16],
Nguyễn Thị Nhung và Phạm Văn Lầm (2002) [25], Anderson et al. (2002)
[35], Anderson et al. (2006) [36], Hosfvang et al. (2005) [58], Thang (1999)
[113], Tran et al. (2004) [116] có 5 loài ruồi đục lá trong giống Liriomyza là
L. sativae, L. huidobrensis, L. chinensis, L. bryoniae, L. trifolii. Trong đó loài
ruồi đục lá phổ biến L. sativae là loài có phạm vi phân bố rất rộng, chúng xuất
hiện và gây hại ở tất cả các vùng trồng rau trong cả nước. Từ năm 1990, ruồi
đục lá Liriomyza chỉ mới bắt đầu phát triển tấn công trên một số cây trồng,
nhưng đến năm 1995 đã trở thành dịch hại quan trọng, gây hại trên 40 loại rau
màu và cỏ dại, mức độ gây hại của chúng nặng hay nhẹ tùy thuộc vào từng
loại ký chủ. Các cây ký chủ nhiễm ruồi đục lá phổ biến L. sativae là cà chua,
đậu đỗ, đậu cove, dưa hấu, mướp, dưa chuột… một số cây cỏ dại như cải dại,
dền dại, cỏ vòi voi và một số cỏ lá rộng khác trên ruộng rau.
Theo công bố của Tran Dang Hoa et al. (2005a) [107] ở 5 vùng thuộc
khu vực miền Trung và miền Nam Việt Nam từ năm 2002 - 2004 đã xác định
được 6 loài ruồi đục lá: L. sativae, L. chinensis, L. bryoniae, L. huidobrensis,
L. trifolii và Chromatomyia horticola, L. chinensis chỉ gây hại trên hành.
Trong đó L. sativae là loài gây hại phổ biến nhất, chúng gây hại 17 loại rau
9
trong tổng số 22 loài rau điều tra.
Tại khu vực trồng rau ở Hà Nội và phụ cận Lê Ngọc Anh và Đặng
Thị Dung (2006) [4] đã ghi nhận có 7 loài ruồi đục lá thuộc họ
Agromyzidae bộ Diptera, bao gồm L. sativae, Liriomyza sp., L. bryonidae,
C. horticola Goureau, Phytomyza sp. và 2 loài ruồi vàng và ruồi đen 2 vằn
bụng. Các loài ruồi đục lá này gây hại trên 34 loài cây ký chủ khác nhau
thuộc 11 họ thực vật. Ở 6 tỉnh phía bắc Việt Nam có loài ruồi L. sasakawa
Katoi lần đầu tiên được công bố có mặt ở Việt Nam.
Dang Thi Dung, Ho Thi Thu Giang (2007) [47], điều tra thu được bảy loài
ruồi đục lá ở phía bắc Việt Nam: L. sativae, L. chinensis, L. bryoniae, Liriomyza

đục lá L. huidobrensis đã gia tăng sự gây hại của chúng một cách nhanh
chóng làm giảm 30% năng suất của cây đậu Hà Lan nếu không có biện pháp
phòng chống kịp thời lúc chúng mới xuất hiện với mật độ thấp.
Rauf (1995) [94] cho biết loài L. huidobrensis là loài gây hại nặng trên
cây cà chua và nhiều cây trồng khác ở một số vùng của Indonesia, chúng làm
giảm từ 30 - 70% sản lượng rau và rút ngắn thời gian thu hoạch từ 2 đến 3 tuần.
Không những thế L. huidobrensis còn được xác định là đã gây hại nặng đối với
một số cây hoa hồng trong nhà kính ở Puncak và làm thiệt hại tới 30% giá trị
kinh tế cho ngành sản xuất hoa ở vùng này. Cũng ở Indonesia, Rauf et al.
(2000) [95] cho biết tại vùng Tây Sumatra, loài L. huidobrensis khi phá hoại
trên cây cà chua đang sinh trưởng phát triển sẽ làm khoảng 40% diện tích cà
chua không cho năng suất. Ở vùng Ciwidey, cây dưa chuột đang ở giai đoạn
sinh trưởng nếu bị loài ruồi này tấn công gây hại nặng sẽ làm giảm 70% sản
lượng quả và nếu gặp phải một vài yếu tố bất lợi khác cây sẽ bị chết sau trồng
30 - 40 ngày. Nông dân Srilanka cho rằng loài L. huidobrensis làm giảm trên
50% năng suất khoai tây hạt và ở những ổ dịch nó có thể phá hại tới 70% năng
suất củ cải và 100% năng suất khoai tây (dẫn theo Nguyễn Văn Đĩnh và Lương
Thị Kiểm (2001)) [11].
Các tác giả Parrella et al. (1992) [87] sau 2 năm nghiên cứu tìm hiểu về
11
sự gây hại của L. trifolii trên chồi non của hoa cúc vạn thọ trồng trong nhà
kính cho thấy chúng không chỉ làm giảm khả năng quang hợp của cây mà còn
làm chậm quá trình phát triển của hạt, kéo dài thời gian xử lý noãn của hoa.
Ho Thi Thu Giang and Takatoshi UENO (2002) [52] cho rằng: ruồi đục
lá thuộc giống Liriomyza, họ Agromyzidae được công nhận là loài dịch hại
nghiêm trọng và phổ biến ở châu Âu, châu Mỹ và nhiều nước châu Á trong đó
có Việt Nam và Nhật Bản. Chúng gây hại trên nhiều loại cây trồng như cây
họ đậu, dưa chuột, khoai tây và một số cây cảnh.
Theo Arpaia et al. (2003) [34], trong số các loài côn trùng gây hại trên
cây trồng tại khu vực rau bình thường và khu vực rau chuyển gen loài

gây hại nặng trên hoa cúc, cà chua, cần tây nhưng không hại cây họ hòa thảo,
cây họ hoa hồng, khoai lang, khoai sọ.
Chen et al. (2003) [42] công bố L. sativae đã trở thành loài ruồi gây hại
nghiêm trọng trên rau màu ở Sanya - Hải Nam - Trung Quốc, chúng xuất hiện
và gây gại quanh năm nhưng nặng nhất là mùa xuân và mùa đông, tỷ lệ bị hại
là 30 - 40%. Phạm vi ký chủ của loài này là 69 loại cây trồng thuộc 14 họ thực vật.
Trần Thị Thiên An (2000) [1] đã phát hiện được ký chủ của ruồi đục lá
L. trifolii bao gồm 30 loài rau trong 11 họ cây trồng, 3 loài hoa và một số cỏ
dại là ký chủ phụ.
Theo Nguyễn Thị Nhung và Phạm Văn Lầm (2000) [25], ở vùng Hà
Nội ruồi đục lá L. sativae đã gây hại trên đậu trạch, đậu bở, đậu đũa, cà chua,
dưa chuột, bí xanh.
Ruồi đục lá L. sativae là loài đa thực, có phổ ký chủ rộng, gây hại trên
41 loại cây thuộc 15 họ thực vật, trong đó có 30 cây được sử dụng làm rau
chiếm 73,17%, 2 cây công nghiệp chiếm 4,87%, 1 cây hoa chiếm 2,43% và 8
cây cỏ dại chiếm 19,51% (Trần Thị Thiên An, 2003) [2].
13
Đang Thi Dung, Ho Thi Thu Giang (2007) [47] đã ghi nhận ở miền Bắc
Việt Nam có 31 loài cây ký của ruồi đục lá.
Arid Andersen et al. (2008) [37], đã thu thập các loài ruồi đục lá trên 50
loài rau ở 62 tỉnh thành của cả nước. Kết quả có hơn 16800 mẫu được xác định
tới loài. Giòi ăn mô lá làm diện tích quang hợp giảm, lá vàng, cây còi cọc, làm
giảm giá trị thương phẩm. Ngoài ra, vết thương giòi để lại là điều kiện để các vi
sinh vật khác xâm nhập gây hại cho cây (Tran Dang Hoa et al., 2007) [123].
1.2.1.3 Đặc điểm hình thái, sinh học và sinh thái chính của một số loài ruồi
đục lá phổ biến
Một số đặc điểm hình thái và sinh học của ruồi đục lá
Kết quả nghiên cứu của Molitas - Colting (2001) [77] và nhiều tác giả
khác đều cho biết sự phát triển của ruồi đục lá thuộc giống Liriomyza trải qua 4
giai đoạn là trứng, giòi, nhộng và trưởng thành. Thời gian phát triển vòng đời


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status