1
LỜI MỞ ĐẦU
Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài đó là:
Trong những năm gần đây, nền kinh tế nước ta đã có những chuyển biến tích
cực, kinh tế sản xuất phát triển, đời sống nhân dân ngày một nâng cao. Góp phần
trong thành quả đó có sự nỗ lực không nhỏ của ngành ngân hàng. Ngân hàng với
chức năng quan trọng là trung tâm tiền tệ, tín dụng và thanh toán đã tác động và đóng
góp phần to lớn cho sự phát triển của đất nước được mọi người công nhận. Khi Việt
Nam gia nhập WTO thì ngày càng có nhiều doanh nghiệp đầu tư vào nước ta về lĩnh
vực Ngân hàng, do đó sự cạnh tranh về sản phẩm, dịch vụ cũng ngày càng khốc liệt
hơn trước.
Ngân hàng ngày càng nhiều thì người dân càng có nhiều sự lựa chọn. Người ta
lựa chọn ngân hàng đó bên cạnh tính an toàn còn có chất lượng dịch vụ mà ngân hàng
đó mang lại cho họ. Lợi ích của sản phẩm và dịch vụ càng có nhiều tính tiện lợi, sự
mới mẻ thì sức thu hút khách hàng của ngân hàng đó càng cao. Một trong những hoạt
động của Ngân hàng có tác động mạnh mẽ đối với nền kinh tế và là cầu nối cho Ngân
hàng tiếp cận với khách hàng đó là hoạt động thanh toán qua ngân hàng - hình thức
thanh toán không dùng tiền mặt mà hình thức cụ thể em muốn đề cập trong chuyên
đề này là thẻ ngân hàng.. Đây cũng là một “vũ khí” đắc lực để các ngân hàng thâm
nhập thị trường.
Kinh doanh thẻ thanh toán hiện không còn là một lĩnh vực hoàn toàn mới mẻ
ở Việt Nam. Việc phát triển thẻ đồng nghĩa với một cuộc cách mạng trong phương
thức giao dịch và mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế. Để đẩy nhanh tốc độ "công
nghiệp hoá, hiện đại hoá" ngân hàng và nhanh chóng đưa nền kinh tế Việt Nam hội
nhập với nền kinh tế thế giới thì thẻ thanh toán chính là một trong những công cụ hữu
hiệu.
Mặc dù vậy nhưng hiện nay, thị trường thẻ vẫn còn là mảnh đất tốt và rộng rãi
cho việc phát triển thẻ của các ngân hàng nói chung và ngân hàng Công Thương Việt
Nam nói riêng. Hiện nay thị trường thẻ còn gặp rất nhiều vướng mắc và khó khăn.
Đây là một vấn đề bức xúc đối với nhiều ngân hàng ở Việt Nam
minh chứng.
Cơ cấu tổ chức chuyên đề:
Chuyên đề được chia ra làm 3 chương:
- Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THẺ CỦA
NHTM
- Chương 2: THỰC TRẠNG KINH DOANH DỊCH VỤ THẺ CỦA NGÂN
HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM.
- Chương 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THẺ THANH TOÁN TẠI NH TMCP
CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
SVTH: Phạm Nguyễn Thiên Ân GVHD: ThS. Cao Minh
Trí
3
SVTH: Phạm Nguyễn Thiên Ân GVHD: ThS. Cao Minh
Trí
1966 Master
1961 JCB
1960 Visa
1958 Amex
1949 Diners
Club
4
Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH THẺ CỦA NHTM
1.1 KHÁI NIỆM VÀ CHỨC NĂNG CỦA NHTM:
1.1.1 Khái niệm NHTM.
Có nhiều khái niệm khác nhau về NHTM, khái niệm NHTM gần đây nhất và mang
nội dung bao hàm nhất là khái niệm theo Pháp lệnh TCTD ngày 23/05/1990 của Hội
đồng Nhà nước Việt Nam xác định : “NH là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt
động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn
chẽ của NHTW về việc thực hiện chính sách tiền tệ.
Để ổn định giá trị của đồng tiền, lượng tiền cung ứng trong nền kinh tế phải phù
hợp với hàng hóa lưu thông. Do đó, NHTW sử dụng công cụ chính sách tiền tệ để
điều hòa khối lượng tiền tệ trong lưu thông và buộc các NHTM phải chấp hành. Như
SVTH: Phạm Nguyễn Thiên Ân GVHD: ThS. Cao Minh
Trí
1966 Master
1961 JCB
1960 Visa
1958 Amex
1949 Diners
Club
5
vậy, NHTM đóng vai trò là chủ thể quan trọng trong việc thực hiện chính sách tiền tệ
của NHTW.
1.2 TỔNG QUAN VỀ NGHIỆP VỤ THẺ NHTM.
1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển của thẻ NH.
* Quá trình sản xuất xã hội luôn diễn ra một cách liên tục và không ngừng phát triển,
trong đó có nhiều mối quan hệ giữa các chủ thể của nền sản xuất, đặc biệt là mối
quan hệ trao đổi mua bán hàng hóa. Từ cổ xưa đến cách đây một vài trăm năm những
kim loại quý có tác dụng như một phương tiện trao đổi trong xã hội. Nhưng vấn đề
xảy ra là ở chỗ loại tiền này rất nặng và khó chuyển chở. Sự phát triển tiếp theo trong
hệ thống thanh toán là tiền giấy. Đồng tiền giấy có lợi là nó nhẹ hơn nhiều so với tiền
kim loại, nhưng chúng dể bị mất cắp và tốn kém khi chuyên chở.
* Để khắc phục khó khăn này, một bước tiến triển mới của hệ thống thanh toán đã
xuất hiện: đó là sự ra đời của Séc. Lợi ích của Séc là chúng có thể viết ra với bất cứ
lượng tiền nào cho đến hết số dư trên tài khoản khiến cho giao dịch với số tiền lớn trở
nên dễ dàng, khả năng mất trộm giảm đi rất nhiều. Tuy vậy trở ngại của séc là cần
thời gian để chuyển séc từ nơi này sang nơi khác và gặp nhiều rắc rối phức tạp về
giấy tờ.
biết đến như là thẻ có qui mô phát triển nhất toàn cầu.
Thẻ JCB là thẻ xuất phát từ Nhật Bản vào năm 1961 bởi ngân hàng San Wa, đến
1981 thì bắt đầu phát triển thành một cơ sở quốc tế. Mục tiêu chủ yếu là hướng vào
thị trường du lịch và giải trí, đang là thẻ cạnh tranh với Amex.
MasterCard là thẻ ra đời năm 1966 với tên gọi MasterCharge do hiệp hội thẻ ngân
hàng ICA (InterBank Card Association) phát hành thông qua các thành viên trên thế
giới. Năm 1979, MasterCharge đã đổi tên thành MasterCard và trở thành tổ chức thẻ
thanh toán lớn thứ hai trên thế giới sau Visa.
1.2.2 Khái niệm về thẻ NH.
Thẻ NH là một phương tiện thanh toán điện tử do một NH/tổ chức phát hành, cho
phép chủ thẻ sử dụng để thanh toán hàng hóa, dịch vụ hoặc để rút tiền mặt trong
pham vi số tiền trên tài khoản của khách hàng hoặc trong hạn mức tín dụng của thẻ.
1.2.3 Phân loại thẻ thanh toán.
* Phân loại theo đặc tính kỹ thuật gồm có 3 loại thẻ: Thẻ khắc chữ nổi (Embossing
Card); Thẻ từ (Magnetic stripe) ; thẻ chip (Smart Card).
* Phân loại theo tính chất thanh toán của thẻ có 2 loại thẻ: Thẻ tín dụng (Credit card)
và thẻ ghi nợ (Debit card).
* Phân loại theo chủ thẻ phát hành gồm: Thẻ do NH phát hành; Thẻ do tổ chức phi
NH phát hành.
* Phân loại theo hạn mức tín dụng có 2 loại thẻ: Thẻ Vàng (Gold card) và Thẻ Chuẩn
(Standard card).
* Phân loại theo phạm vi sử dụng thẻ có 2 loại thẻ: Thẻ nội địa và Thẻ quốc tế.
1.2.4 Đặc điểm cấu tạo của thẻ.
- Hầu hết các loại thẻ đều có hình chữ nhật, bốn góc tròn, được làm bằng nhựa cứng
cấu tạo bởi 3 lớp được ép với kỹ thuật cao, kích thước thông thường 95mm x 55mm
x 0.76mm.
* Mặt trước của thẻ thường bao gồm:
- Nền thẻ, màu thẻ do NH chọn và tùy thuộc vào hạng thẻ do NH quy định.
- Tên và logo của NH phát hành, huy hiệu và biểu tượng của của tổ chức thẻ.
- Đối với thẻ chip thì chip sẽ được bố trí ở mặt trước.
lực
Biểu tượng của
TCTQT
Logo của
TCTQT
Họ tên chủ
thẻ
Số thẻ
8
• Là thành viên chính thức của các Tổ chức thẻ quốc tế, là NH cung cấp thẻ cho
khách hàng.
• NH phát hành chịu trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ xin cấp thẻ, xử lý và phát hành thẻ,
mở và quản lý tài khoản thẻ, đồng thời thực hiện việc thanh toán cuối cùng cho chủ
thẻ.
1.2.5.3 NH thanh toán thẻ:
• Là NH trực tiếp ký hợp đồng với các cơ sở tiếp nhận và thanh toán các chứng từ
giao dịch do cơ sở chấp nhận thẻ xuất trình. Một NH có thể vừa đóng vai trò thanh
toán thẻ vừa đóng vai trò phát hành.
1.2.5.4 Đơn vị chấp nhận thẻ:
• Là các thành phần kinh doanh hàng hóa và dịch vụ có ký kết với NH thanh toán về
việc chấp nhận thanh toán thẻ như: nhà hàng, khách sạn...
1.2.5.5 Chủ thẻ:
• Là người có tên ghi trên thẻ được dùng thẻ để thực hiện mọi dịch vụ tiện ích của
thẻ cung cấp. Chỉ có chủ thẻ mới sử dụng thẻ của mình mà thôi.
• Mỗi khi thanh toán cho các cơ sở chấp nhận thẻ về hàng hóa dịch vụ, chủ thẻ phải
xuất trình thẻ để nơi đây kiểm tra theo quy trình và lập biên lai thanh toán.
1.2.5.6 Trung tâm thẻ:
• Là phòng quản lý thẻ Trung ương, đại diện của các NH trong quan hệ đối ngoại
trực tiếp về phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ với các tổ chức thẻ quốc tế và các
NH khác.
thiết về chủ thẻ được in lên bề mặt thẻ và được mã hóa, đồng thời ấn định mã PIN
cho chủ thẻ.
- Bước 6: NHPH giao nhận thẻ, mã PIN và hướng dẫn khách hàng sử dụng thẻ. Thời
gian kể từ khi khách hàng đề nghị mua thẻ đến khi nhận được thẻ thường không quá
6 ngày.
1.2.6.2 Quy trình chấp nhận và thanh toán thẻ:
Đối với các loại thẻ khác nhau thì quy trình thanh toán có thể có một số khác biệt
nhất định, nhưng nhìn chung đều có những điểm giống nhau cơ bản.
Quy trình chấp nhận thanh toán thẻ qua NH:
Sơ đồ 1.2: Quy trình chấp nhận và thanh toán thẻ qua NH.
Bước 1: Chủ thẻ đến ĐVCNT thực hiện giao dịch
Bước 2: ĐVCNT đưa thẻ vào máy quét để nhập thông tin, thông tin này được
gửi qua mạng thanh toán đến trung tâm xử lý của tổ chức thẻ quốc tế để xác định
điều kiện thanh toán của thẻ.
Bước 3: Khi thẻ được xác nhận có đủ điều kiện thanh toán, TCTQT sẽ cấp phép.
Bước 4: ĐVCNT cung cấp hàng hoá dịch vụ cho chủ thẻ.
Bước 5: ĐVCNT gửi hóa đơn, chứng từ đến NHTT để thanh toán. Đồng thời
NHTT truyền dữ liệu về TCTQT và TCTQT truyền dữ liệu đến NHPH.
Bước 6: NH thanh toán tạm ứng tiền cho đơn vị chấp nhận thẻ.
Bước 7: Tổ chức thẻ quốc tế gửi báo cáo và thu tiền từ NHPH.
Bước 8: Tổ chức thẻ quốc tế gửi báo cáo và thanh toán cho NHTT.
Bước 9: Vào một ngày qui định trong tháng, NHPH gửi sao kê cho chủ thẻ.
SVTH: Phạm Nguyễn Thiên Ân GVHD: ThS. Cao Minh
Trí
ĐVCNT
Chủ thẻ
NHPHNHTT
Tổ chức thẻ
quốc tế
(1)
có nhiều kinh nghiệm là một trong yếu tố quan trọng để phát triển dịch vụ thẻ. NH
nào có sự quan tâm, có chính sách đào tạo nhân lực trong kinh doanh thẻ hợp lý thì
NH đó sẽ có cơ hội đẩy nhanh hoạt động kinh doanh thẻ trong tương lai.
- Tiềm lực kinh tế và trình độ kỹ thuật công nghệ của NH thanh toán thẻ: Điều này
gắn liền với các máy móc thiết bị hiện đại nếu hệ thống máy móc có trục trặc sẽ gây
ách tắc trong toàn hệ thống. Vì vậy NH phải đảm bảo một hệ thống thanh toán hiện
đại, theo kịp yêu cầu của thế giới. Không những thế việc vận hành bảo dưỡng, duy trì
hệ thống máy móc phục vụ phát hành và thanh toán thẻ có hiệu quả sẽ làm giảm giá
thành dịch vụ, từ đó thu hút thêm người sử dụng.
- Định hướng phát triển của NH: Một NH nếu có định hướng phát triển dịch vụ thẻ
phải xây cho mình kế hoạch, chiến lược marketing phù hợp, tìm mọi cách nâng cao
tính tiện ích của thẻ cũng như sự thuận lợi cho người sử dụng thẻ thì NH đó sẽ có thể
mở rộng và phát triển việc kinh doanh thẻ một cách bền vững và ổn định.
1.2.7.2 Nhóm nhân tố thuộc về khách hàng:
- Trình độ dân trí và thói quen tiêu dùng của người dân: Trong một xã hội mà trình
độ dân trí cao, các phát minh, ứng dụng của khoa học kỹ thuật công nghệ cao sẽ dễ
dàng tiếp cận với người dân. Tiêu dùng thông qua thẻ là cách thức tiêu dùng hiện đại,
nó sẽ dễ dàng tiếp cận và thâm nhập hơn đối với cộng đồng dân trí cao và ngược lại.
Cũng như vậy, thói quen tiêu dùng cũng ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển của
dịch vụ thẻ. Khi người dân quen với việc thanh toán sử dụng tiền mặt họ sẽ ít có nhu
cầu về thanh toán thông qua thẻ.
SVTH: Phạm Nguyễn Thiên Ân GVHD: ThS. Cao Minh
Trí
(1)
(2)
(3)
(4)
(5) (6)
(7)
(8)
liên quan đến hoạt động kinh doanh thẻ, bao gồm hoạt động phát hành, và thanh toán
thẻ. Đối tượng chịu rủi ro là ngân hàng, chủ thẻ, đơn vị chấp nhận thẻ.
1.2.8.2 Một số trường hợp rủi ro trong kinh doanh thẻ.
Rủi ro trong phát hành thẻ:
∗ Đơn xin phát hành giả: Do không thẩm định kỹ thông tin của Khách hàng, NH có
thể phát hành thẻ cho những khách hàng đăng ký với thông tin giả mạo.Và như vậy,
NH có thể gặp rủi ro khi Khách hàng không có khả năng thanh toán.
* Chủ thẻ không nhận được thẻ đã phát hành: NH gởi thẻ cho chủ thẻ qua đường bưu
điện nhưng bị thất lạc. Trong trường hợp này, NHPH phải chịu toàn bộ phí tổn đối
với những giao dịch đã thực hiện.
Rủi ro trong thanh toán thẻ:
* Thẻ giả: Thẻ bị làm giả bởi các tổ chức tội phạm hoặc cá nhân làm giả căn cứ theo
thông tin có được từ các chứng từ giao dịch của thẻ hoặc thẻ mất cắp. Thẻ giả tạo ra
các giao dịch giả mạo gây tổn thất lớn cho NHPH.
* Đầu đọc thẻ giả (skimmer)
Đầu đọc thẻ giả là thiết bị ăn cắp dữ liệu trên dãy từ, có hình dạng giống như những
chiếc đầu đọc thẻ ATM thông thường. Chúng thường được gắn sát hoặc ở phía trên
đầu đọc thẻ thật. Một đầu đọc thẻ giả có thể đánh cắp và lưu thông tin về số tài
khoản, số dư tài khoản, và mã xác nhận liên quan đến mỗi chủ thẻ của hơn 200 thẻ
ATM. Thông thường, khách hàng sẽ lầm tưởng skimmer là một bộ phận của máy rút
SVTH: Phạm Nguyễn Thiên Ân GVHD: ThS. Cao Minh
Trí
13
tiền. Kẻ gian sẽ hướng dẫn nạn nhân quẹt thẻ vào skimmer trước, sau đó mới tiếp tục
các giao dịch khác, hoặc chúng sẽ nói rằng skimmer là dụng cụ làm sạch thẻ giúp
tăng khả năng hoạt động cho những chiếc thẻ từ. Khi nạn nhân quẹt thẻ vào skimmer
là lúc dữ liệu thẻ bị lấy cắp. Sau đó kẻ gian lợi dụng thông tin để thực hiện các giao
dịch thanh toán không cần xuất trình thẻ.
* Rủi ro đạo đức: Đây là rủi ro khi nhân viên cơ sở chấp nhận thanh toán thẻ cố tình
in ra nhiều bộ hóa đơn thanh toán thẻ nhưng chỉ giao một bộ cho khách hàng, các bộ
- Việc phát triển thẻ giúp NH có thêm nhiều khách hàng, quảng bá hình ảnh thương
hiệu của NH.
1.2.9.3 Đối với NH thanh toán:
- Trong quy trình thanh toán thẻ, các cơ sở phát hành thường mở tài khoản tại các NH
thanh toán cho tiện việc thanh toán. Điều này đã làm tăng lượng số dư tiền gởi và
nguồn huy động cho NH thanh toán.
- Nguồn thu của NH thanh toán: phí chiết khấu ĐVCNT; phí thuê thiết bị/đường
chuyền; phí chuyển đổi tiền tệ; phí ứng trước tiền mặt…
1.2.9.4 Đối với ĐVCNT:
- Tăng hiệu quả kinh doanh:
SVTH: Phạm Nguyễn Thiên Ân GVHD: ThS. Cao Minh
Trí
14
Việc chấp nhận thẻ giúp ĐVCNT nhanh thu hồi vốn. ĐVCNT sẽ được ghi có vào tài
khoản ngay khi dữ liệu về giao dịch thẻ được truyền đến NH hoặc khi ĐVCNT nộp
hóa đơn thanh toán thẻ cho NH. ĐVCNT sẽ được hưởng lãi suất không kỳ hạn cho số
dư duy trì trên tài khoản thanh toán thẻ tại NH. Việc chấp nhận thẻ cũng giúp cho các
ĐVCNT thu hút thêm những khách hàng dùng thẻ; dẫn đếntăng doanh số bán hàng
đồng thời giảm các chi phí như: kiểm đếm, bảo quản tiền…
- An toàn, đảm bảo, nhanh chóng:
Việc chấp nhận thẻ thanh toán giúp ĐVCNT đẩy nhanh tốc độ xử lý giao dịch; giảm
rủi ro tiền giả, nguy cơ bị mất cắp. Trong trường hợp xảy ra gian lận thẻ có thể nhận
được sự hỗ trợ của NH và TCTQT trong việc bồi hoàn số tiền thanh toán.
1.2.9.5 Đối với chủ thẻ:
- Tiện lợi, linh hoạt và tiết kiệm thời gian trong thanh toán:
Đây là tiện ích nổi bật của việc sử dụng thẻ do chủ thẻ không cần phải mang theo tiền
mặt mà vẫn có thể thanh toán hàng hóa dịch vụ và rút tiền khi cần 24/24h. Ngoài ra,
dịch vụ thẻ còn tiết kiệm thời gian cho chủ thẻ khi mua hàng vì tránh được khâu kiểm
đếm tiền mặt khi thanh toán số tiền lớn.
- Được hưởng lãi trên số dư tài khoản thẻ.
15
- 700 máy ATM đã được lắp đặt (trong đó có 100 máy có thể nhận gửi tiền mặt)
- 5.000 điểm bán hàng chấp nhận thẻ.
Thanh toán bằng thẻ phổ biến ở Oman một phần có lẽ do phí cho mỗi giao dịch bằng
thẻ rất thấp, hiện chỉ là 2 ru-pi (khoảng 600 đồng Việt Nam). Ấn tượng nhất là Oman
Arab Bank còn đưa vào sử dụng loại thẻ thanh toán có đầy đủ các thông tin về nhân
thân của chủ thẻ như một chứng minh thư nhân dân. Ông Assan A.Ali- Phó tổng
giám đốc Oman Arab Bank cho biết: “Chúng tôi đang thực hiện mục tiêu đưa tỷ lệ
tiền mặt trong thanh toán xuống bằng 0 và tất cả các ngân hàng trong nước buộc
phải tham gia”.
1.4 TRIỂN VỌNG PHÁT TRIỂN THẺ Ớ VN:
“Thị trường thẻ thanh toán ở Việt Nam rất tiềm năng”.
Liên tục phát hành thẻ mới, tăng thêm tiện ích và phát triển các dịch vụ giá trị gia
tăng kèm theo. Các nhà băng đang tăng tốc đầu tư và khai phá mảng thị trường bán lẻ
đầy tiềm năng vốn được xem là ít rủi ro nhưng hiệu quả và mang lại uy tín lớn cho
ngân hàng.
Trước sự bùng nổ nhu cầu về các dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Việt Nam nói chung
và trong lĩnh vực thẻ ngân hàng nói riêng, việc các nhà cung cấp dịch vụ có thể cung
ứng những sản phẩm đa dạng nhằm đến từng đối tượng định hướng khác nhau có
một ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Với dân số trên 80 triệu người, nền kinh tế ổn định ở
mức 7-8%/năm, cơ cấu dân cư tương đối trẻ, Việt Nam đang nổi lên như một thị
trường rất giàu tiềm năng cho những sản phẩm thẻ mới.
Do hạn chế về quy mô vốn cũng như hình thức hoạt động, khối ngân hàng cổ phần
đang bị ép sân trên hầu hết các lĩnh vực tín dụng. Chính vì vậy, dịch vụ thẻ đang là
một đích nhắm quan trọng của họ. Nếu như các ngân hàng quốc doanh phát triển
mảng thị trường này theo diện rộng, đầu tư mạnh cho cơ sở hạ tầng thì khối cổ phần
lại có hướng đi riêng. Họ thiên về hướng phát triển nhiều loại thẻ ghi nợ, tăng thêm
nhiều dịch vụ tiện ích cho thẻ và tận dụng cơ sở chấp nhận thẻ sẵn có của khối ngân
hàng quốc doanh.
Không phải bây giờ mà từ đầu nam 2006, ông Michael Cannon Tổng Giám Đốc
SVTH: Phạm Nguyễn Thiên Ân GVHD: ThS. Cao Minh
Trí
17
Chương 2:
THỰC TRẠNG KINH DOANH DỊCH VỤ THẺ CỦA
NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM.
2.1 THỊ TRƯỜNG THẺ VIỆT NAM.
2.1.1 Vài nét về thị trường thẻ ở Việt Nam hiện nay:
Hiện nay, cả nước có 63 NH, trrong đó có 5 NHNN, 39 Ngân hàng TMCP, 13
NH 100% vốn đầu tư nước ngoài và chi nhánh NH nước ngoài tại VN, 5 NH liên
doanh và 1 quỹ tín dụng.
Các phương tiện và dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt tiếp tục phát triển rất
mạnh trong 5 tháng đầu năm nay, đặc biệt đối với dịch vụ thẻ.
2.1.1.1 ATM vẫn tăng “nóng” về Số lượng:
• SỐ LƯỢNG THẺ ATM PHÁT HÀNH QUA CÁC NĂM:
Bảng 2.1: Số lượng thẻ phát hành qua các năm.
ĐVT: 1000 chiếc
Biểu đồ 2.1: Số lượng thẻ ATM phát hành qua các
năm
(ĐVT: 1000 chiếc)
5.400
21.000
24.000
7.900
13.400
0
5000
10000
15000
20000
0
2000
4000
6000
8000
10000
12000
2006 2007 2008 2009 5 tháng
đầu 2010
Năm
Số lượng ATM (chiếc)
Số lượng
(Nguồn: Tổng hợp số liệu thẻ phát hành từ các trang web)
Số lượng máy ATM được các NHTM lắp đặt tăng trưởng qua các năm. Năm
2007 tăng 1.931 máy; Năm 2008 tăng 2.450 so với năm 2007, Năm 2009 tăng 1.840
so với năm 2008; Đầu tháng 6.2010 số lượng ATM là 11.000, tăng 2.110 so với năm
2009. Như vậy so với thời điểm cuối năm 2009, số lượng máy ATM được lắp đặt
thêm cũng tăng tới 22,2%.
• SỐ LƯỢNG THIẾT BỊ CHẤP NHẬN THẺ QUA CÁC NĂM:
Bảng 2.3: Số lượng thiết bị chấp nhận thẻ phát hành qua các năm.
ĐVT: máy.
SVTH: Phạm Nguyễn Thiên Ân GVHD: ThS. Cao Minh
Trí
Năm 2006 2007 2008 2009 6 tháng đầu 2010
Số lượng máy 2.669 4.600 7.050 8.890 11.000
Năm 2006 2007 2008 2009 6 tháng đầu 2010
Số lượng
POS
11.532 17.020 24.760 34.000 37.000
19
nhưng thanh toán điện tử lại có sức phát triển nhanh chóng với nhiều phương thức
khác nhau. Việc ra đời của thanh toán điện tử nhằm giảm áp lực việc lưu thông tiền
mặt trên thị trường. Với phương thức thanh toán điện tử, các giao dịch được thực
hiện nhanh chóng thông qua chuyển khoản, giúp mọi người tiết kiệm thời gian và chi
phí đi lại.
Các ngân hàng ngày càng chú trọng đến hoạt động kinh doanh thẻ và tốc độ tăng
trưởng của các ngân hàng trong hoạt động kinh doanh thẻ khá lớn, khoảng từ 150%-
200%.
Từ chỗ phục vụ khách du lịch và doanh nhân nước ngoài là chủ yếu, thẻ ngân
hàng đã mở rộng tới các tầng lớp dân cư trong xã hội. Không chỉ phát triển về lượng
mà mạng lưới đơn vị chấp nhận thẻ còn phát triển cả về chất. Nếu như trước đây các
đơn vị này chủ yếu dùng máy cà tay thì đến nay, đã có 80-90% số đơn vị được trang
bị máy chấp nhận thẻ điện tử (EDC).
Bên cạnh mạng lưới đơn vị chấp nhận thẻ, các kênh giao dịch tự động (ATM)
cũng được các ngân hàng chú trọng phát triển để mở rộng mạng lưới cung ứng dịch
vụ, đáp ứng nhu cầu giao dịch 24/24 giờ của khách hàng.
SVTH: Phạm Nguyễn Thiên Ân GVHD: ThS. Cao Minh
Trí
20
Đáng lưu ý, dù vẫn còn đang trong giai đoạn triển khai thí điểm, việc cung ứng
phương tiện thanh toán ví điện tử của các tổ chức không phải TCTD cũng đạt được
các con số đáng kể. Ước tính số lượng phát hành ví điện tử hiện đạt gần 84.500 với
17 NH tham gia triển khai dịch vụ và được chấp nhận thanh toán tại 119 đơn vị cung
ứng hàng hóa dịch vụ.
Cùng với sự phát triển nhảy vọt của thẻ ATM và điểm chấp nhận thẻ, thị trường
thẻ NH Việt Nam đã xuất hiện xu thế liên doanh trong phát triển thẻ và thanh toán
thẻ. Sự hợp tác này giúp phát triển một mạng lưới thanh toán thẻ rộng khắp. Nhằm
góp phần giảm chi phí trang bị hệ thống cơ sở hạ tầng, nhiều NHTM đã thực hiện
hợp tác, xây dựng đối tác chiến lược. Tổng cộng trên thị trường đã có 4 liên minh thẻ
ra đời. Đó là Liên minh thẻ của Vietcombank và 17 ngân hàng thương mại cổ phần,
mới mang tính tự phát. Việc kết nối vẫn mang tính cục bộ theo nhóm nên chưa phát
huy hết những tiện ích của máy ATM.
SVTH: Phạm Nguyễn Thiên Ân GVHD: ThS. Cao Minh
Trí
21
• Hệ thống các điểm chấp nhận thẻ (POS) mới chỉ tập trung tại các khách sạn, nhà
hàng, cửa hàng cao cấp. Mạng lưới giao dịch còn thiếu về số lượng và yếu về chất
lượng, cộng với việc định hướng khách hàng chưa tốt.
Về phía doanh nghiệp:
• Ngoại trừ các doanh nghiệp lớn, đại bộ phận chưa thực sự nhận thức được lợi ích
của thanh toán qua ngân hàng, vẫn còn tư duy thanh toán bằng tiền mặt để giấu doanh
thu, trốn thuế.
Về phía khách hàng:
• Do thói quen, tâm lý của đại bộ phận dân cư – đã một thời gian dài quen với việc
chi tiêu bằng tiền mặt.
• Ý thức tự bảo vệ còn kém, chưa được định hướng đúng về vấn đề sử dụng dịch vụ
thẻ.
2.1.2 Các NHTM trên thị trường và thương hiệu thẻ đi cùng.
Các NH phát hành và thương hiệu thẻ GHI NỢ NỘI ĐỊA:
Bảng 2.4: Thương hiệu thẻ ghi nợ nội địa của các NHTM
(Nguồn: Tổng hợp từ các trang Web của các NH)
Các NH phát hành thẻ TÍN DỤNG QUỐC TẾ:
Bảng 2.5: Thương hiệu thẻ TDQT của các NHTM
(Nguồn: Tổng hợp từ các trang Web của các NH)
SVTH: Phạm Nguyễn Thiên Ân GVHD: ThS. Cao Minh
Trí
Vietcombank Connect 24
Đông Á Thẻ đa năng
Argibank Success
VietinBank
Techcombank Techcombank Credit Visa
ACB Visa Electron, MasterCard Electronic
Eximbank Eximbank Visa Debit
Sacombank Sacombankpassport
Ngân hàng Nhận định
Vietcombank
Vẫn là NH dẫn đầu trên thị trường về số lượng thẻ ATM phát
hành, số lượng ATM lắp đặt, số chủng loại Sản phẩm và dịch
vụ thẻ cũng như CSCNT.
ACB
Có chiến lược đa dạng hóa các sản phẩm thẻ bằng việc hợp
tác với nhiều đối tác. Đặc biệt mạnh trong mảng thanh toán
quốc tế.
Đông Á
Sử dụng chiến lược đa dạng hóa các tiện ích dịch vụ (gửi tiền
qua ATM, thanh toán trực tuyến, đổi ngoại tệ trên ATM…)
Techcombank
Tập trung mạnh chiến lược truyền thông tài trợ quảng bá
truyền thông cho sản phẩm thẻ Fast@access và Visa Debit,
Visa Credit thông qua các chương trình tài trợ trên truyền
hình.
Nông nghiệp và
phát triển nông
thôn
Sử dụng chiến lược giá để bao phủ thị trường.
BIDV
Là NH theo sau. Đã triển khai kết nối hệ thống ATM, hệ
thống Visanet, đang có kế hoạch phát hành thẻ tín dụng quốc
tế trong thời gian tới.
Banknetvn
Vietinbank có mạng lưới kinh doanh trải rộng toàn quốc với 3 Sở Giao dịch,
141 chi nhánh và trên 700 điểm giao dịch.Có quan hệ đại lý với trên 850 ngân hàng
lớn trên toàn thế giới. Ngoài ra NHCT VN còn bao gồm các đơn vụ sự nghiệp là
Trung tâm đào tạo, Trung tâm công nghệ thông tin và các đơn vị thành viên như
Công ty cho thuê tài chính, Công ty chứng khoán, Công ty quản lý quỹ và khai thác
tài sản.
Với vị thế là một trong những NHTM đi đầu trong việc ứng dụng tiến bộ khoa
học kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào hoạt động NH nhằm cung cấp các sản phẩm
dịch vụ tốt nhất cho khách hàng, NHCT VN là NH đầu tiên mở trang Website nhằm
cung cấp thông tin và các tiện ích liên lạc phục vụ kinh doanh của NHCT VN và
khách hàng. Hòa chung với xu hướng hội nhập với bạn bè quốc tế, NHCT VN hiện
đang là thành viên chính thức của Hiệp Hội các NH Châu Á, Hiệp hội phát hành và
thanh toán thẻ Visa/MasterCard, Hiệp hội tài chính viễn thông liên NH toàn cầu. Tính
đến nay NHCT VN đã thiết lập quan hệ đại lý với 735 ngân hàng của 60 quốc gia
trên thế giới.
2.2.2 Một số kết quả Vietinbank đạt được:
- Ngày 29/03/2009, trong Lễ trao giải 120 doanh nghiệp đón nhận giải thưởng
Thương hiệu mạnh Việt Nam năm 2008 do Thời báo kinh tế phối hợp với Cục xúc
tiến Thương mại, một lần nữa Vietinbank giành giải thưởng cho Doanh nghiệp có
Thương hiệu mạnh năm 2008 .
- Năm 2010 là năm thứ hai liên tiếp VietinBank được nhận giải thưởng Sao
Khuê cho đơn vị ứng dụng phần mềm và công nghệ thông tin xuất sắc. Sự kiện này
đánh dấu nỗ lực không ngừng của VietinBank xây dựng hệ thống CNTT hiện đại,
đem lại hiệu quả cao nhất cho hoạt động quản trị, kinh doanh.
SVTH: Phạm Nguyễn Thiên Ân GVHD: ThS. Cao Minh
Trí
24
- Tháng 3/2010 tại Khách sạn Rex, Q.I, Tp.Hồ Chí Minh, VietinBank đã vinh
dự đón nhận giải thưởng “Ngân hàng có sản phẩm thẻ ATM tốt nhất năm 2010” do
báo Sài gòn Tiếp thị tổ chức, giải thưởng được bình chọn dựa trên số liệu điều tra
25
SVTH: Phạm Nguyễn Thiên Ân GVHD: ThS. Cao Minh
Trí