ĐỀ TÀI: Nâng cao năng lực cạnh tranh của các DN SX KD xi măng thuộc VICEM trong nền kinh tế thị trường - Pdf 24

PHẦN MỞ ĐẦU
1- Sự cần thiết nghiên cứu đề tài.
Thực hiện chủ trương nhất quán phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà
nước nói chung và các DN nhà nước nói riêng, bởi đây là các DN đang SX-KD
những hàng hoá quan trọng hàng đầu của nền kinh tế quốc dân.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 9 của Đảng Cộng sản Việt Nam đã
khẳng định "Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài
chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ
chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa và
mục đích nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa là phát triển lực lượng sản
xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất kỷ thuật của chủ nghĩa xã hội,
nâng cao đời sống nhân dân, phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với
quan hệ sản xuất mới, phù hợp trên cả mặt: sở hữu, quản lý, phân phối".
Chính vì vậy, đổi mới và nâng cao năng lực cạnh tranh của DN trong nền
KTTT cần được tiếp tục đẩy mạnh, đó là yêu cầu hết sức quan trọng để làm tốt
vai trò chủ đạo, làm đòn bẩy thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế của đất nước và giải
quyết những vấn đề xã hội. Nó mở đường, hướng dẫn và hỗ trợ cho các thành
phần kinh tế khác cùng phát triển để làm cho lực lượng sản xuất phát triển và tạo
lực lượng vật chất để Nhà nước thực hiện chức năng điều tiết và quản lý vĩ mô,
xây dựng cơ sở vật chất kỷ thuật cho chế độ xã hội chủ nghĩa.
Trước yêu cầu đổi mới trong quá trình hoạt động SX-KD, các DN đã bộc
lộ những yếu kém và còn nhiều vấn đề cần được tiếp tục tháo gỡ để DN thực
hiện sản xuất, kinh doanh có hiệu quả, góp phần làm cho thành phần kinh tế Nhà
nước thực sự giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần,
vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã
hội chủ nghĩa. Qua thực tiễn hoạt động của mình, trong điều kiện nền KTTT và
1
sự hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới, các DN SX-KD xi măng thuộc
VICEM cũng bộc lộ những tồn tại, hạn chế cần sớm được khắc phục, hoàn thiện
để nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của mình.

3.2- Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:
- Hệ thống hoá các lý thuyết cạnh tranh và những vấn đề cơ bản về năng
lực cạnh tranh của DN trong nền KTTT. Sự cần thiết khách quan phải nâng cao
năng lực cạnh tranh của các DN SX-KD xi măng thuộc VICEM trong nền
KTTT. Nghiên cứu kinh nghiệm năng cao năng lực cạnh tranh của một số DN
kinh doanh xi măng ở một số nước.
- Phân tích, đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của các DN SX-KD xi
măng của VICEM trong những năm qua (thông qua Công ty cổ phần xi măng
Hoàng Mai).
- Đề xuất những giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các DN SX-
KD xi măng thuộc VICEM.
4- Đối tượng nghiên cứu.
Nâng cao năng lực cạnh tranh của các DN SX-KD xi măng thuộc VICEM.
Lấy ví dụ ở Công ty cổ phần xi măng Hoàng Mai.
5- Phạm vi nghiên cứu.
- Luận văn không có điều kiện đi sâu phân tích năng lực cạnh tranh của
từng DN SX-KD xi măng thuộc VICEM, chỉ tập trung phân tích, đánh giá thực
trạng năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần xi măng Hoàng Mai từ năm 2002
3
đến nay để đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị
trường đối với sản phẩm xi măng của VICEM.
6- Phương pháp nghiên cứu.
- Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử, trong đó chú ý quan điểm lịch sử cụ thể, phương
pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp kết hợp lôgíc với lịch sử.
- Phương pháp thống kê, so sánh và các phương pháp khác để làm rõ đối
tượng nghiên cứu.
- Tổng kết những tài liệu thực tiễn liên quan đến đối tượng nghiên cứu.
7- Những đóng góp mới của luận văn.
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh

một sức Ðp cạnh tranh nhất định. Bởi vì, một loại sản phẩm có thể được sản
xuất bởi nhiều DN khác nhau, do đó, số lượng sản phẩm được cung ứng ra thị
trường rất lớn. Các DN phải cạnh tranh với nhau nhằm tiêu thụ hết sản phẩm
của mình với mức lợi nhuận thu được lớn nhất. Trong cơ chế thị trường, các DN
có quyền chủ động trong SX-KD, do vậy mức độ cạnh tranh giữa các DN ngày
càng trở nên gay gắt.
5
Ở đâu cã sản xuất trao đổi hàng hóa thì ở đó có cạnh tranh. Cạnh tranh tồn
tại cùng với sự tồn tại của KTTT và cạnh tranh trở thành động lực phát triển cho
nền sản xuất xã hội.
Cạnh tranh có rất nhiều khái niệm, tồn tại trong mọi lĩnh vực xã hội chứ
không chỉ riêng trong kinh doanh. Khái niệm cạnh tranh xuất phát từ nền sản
xuất hàng hóa, tuy nhiên cho đến nay cả về mặt lý luận và thực tiễn còn nhiều
quan niệm khác nhau về phạm trù cạnh tranh.
Nghiên cứu sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, Marx còng nh nhiều nhà
kinh tế học khác đã rót ra được tính quy luật của nền sản xuất hàng hóa là cạnh
tranh. Sản xuất hàng hóa càng phát triển thì cạnh tranh càng quyết liệt và gay
gắt giữa nhiều chủ thể kinh doanh, giữa các quốc gia, các ngành và các DN đều
phải tạo lập cho mình ưu thế thuận lợi nhất để kinh doanh thành công, thu được
lợi nhuận tối đa. Theo Marx: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt
giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi nhất trong sản
xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch”.
Trong khi đó, theo định nghĩa của Đại Từ điển Tiếng Việt: “Cạnh tranh là
sự tranh đua giữa những cá nhân, tập thể có chức năng như nhau, nhằm dành
phần hơn, phần thắng về mình” và theo từ điển Thuật ngữ Kinh tế học: “Cạnh
tranh- sự đấu tranh đối lập giữa các cá nhân, tập đoàn hay quốc gia”. Cạnh tranh
nảy sinh khi hai bên hay nhiều bên cố gắng dành lấy thứ mà không phải ai cũng
có thể dành được và “chiến lược canh tranh” một khía cạnh của chiến lược
thương mại, bao gồm việc DN phát triển các chính sách để đối phó và đánh bại
các đối thủ của mình trong vấn đề cung cấp một sản phẩm nhất định.

năng suất lao động làm cho chi phí sản xuất của DN nhỏ hơn chi phí sản xuất
7
của xã hội. Điều đó làm cho lực lượng sản xuất phát triển, năng suất lao động
xã hội tăng lên, tạo điều kiện giảm giá trị và giá cả hàng hóa trên thị trường.
- Hai là cạnh tranh giữa các ngành:
Đây là sự cạnh tranh giữa các DN kinh doanh thuộc các ngành khác nhau
nhằm mục đích tìm nơi đầu tư có lợi, có tỷ suất lợi nhuận cao.
Điều này dẫn đến tình trạng những người SX-KD ở lĩnh vực có tỷ suất lợi
nhuận thấp có xu hướng dịch chuyển nguồn lực sang SX-KD ở những ngành có
tỷ suất lợi nhuận cao hơn. Đây chính là biện pháp để thực hiện cạnh tranh giữa
các ngành. Kết quả là ở những ngành trước đây có tỷ suất lợi nhuận cao, đầu tư
cao hơn sẽ thu hút thêm nguồn lực, quy mô sản xuất tăng, do đó cung hàng hóa
vượt tăng quá cầu của nó nên làm cho giá cả hàng hóa giảm xuống, điều đó làm
giảm tỷ suất lợi nhuận.
Ngược lai, ở những ngành trước đây có tỷ suất lợi nhuận thấp khiến cho
một số nhà đầu tư đã rút vốn chuyển sang lĩnh vực khác làm cho quy mô sản
xuất của những ngành này bị giảm, cung nhỏ hơn cầu của nó. Điều đó làm tăng
giá cả hàng hóa và tỷ suất lợi nhuận của ngành này tăng.
Việc di chuyển nguồn lực và kéo theo nó là sự biến đổi tỷ suất lợi nhuận
giữa các ngành cứ diễn ra như vậy cho đến khi với một số vốn đầu tư nhất định,
dù đầu tư vào ngành nào cũng thu được tỷ suất lợi nhuận ngang nhau mà người
ta gọi là tỷ suất lợi nhuận bình quân, bất kể cấu thành hữu cơ của chúng cao hay
thấp,… và nhờ đó, các DN sẽ thu được lợi nhuận bình quân. Lợi nhuận này bằng
tỷ suất lợi nhuận bình quân nhân với vốn của mỗi DN.
Như vậy, cạnh tranh giữa các ngành đã thực hiện dịch chuyển nguồn lực
từ ngành này sang ngành khác dẫn đến sự cân bằng cung cầu sản phẩm các
ngành và bình quân hóa tỷ suất lợi nhuận, đảm bảo sự bình đẳng cho việc đầu tư
vốn giữa các ngành khác nhau, tạo nhân tố tích cực cho sự phát triển.
8
• Cạnh tranh hoàn hảo và cạnh tranh không hoàn hảo:

• Một số loại cạnh tranh khác:
Bên cạnh cạnh tranh cùng ngành và cạnh tranh giữa các ngành, cạnh tranh
hoàn hảo và cạnh tranh không hoàn hảo, căn cứ vào quy mô của cạnh tranh thì
cạnh tranh còn được chia thành: cạnh tranh sản phẩm, cạnh tranh DN và cạnh
tranh quốc gia.
Căn cứ theo tính chất của phương thức cạnh tranh thì cạnh tranh có: cạnh
tranh lành mạnh – tức là biện pháp cạnh tranh phù hợp với luật pháp, tập quán,
đạo đức kinh doanh, và cạnh tranh không lành mạnh – tức là biện pháp cạnh
tranh bằng những thủ đoạn chứ không phải vươn lên bằng sự nỗ lực của chính
chủ thể kinh doanh.
Dưới góc độ các công đoạn của SX-KD, cạnh tranh lại được chia thành:
cạnh tranh trước khi bán hàng, cạnh tranh trong quá trình bán hàng và cạnh
tranh sau khi bán hàng.
Dưới góc độ các chủ thể kinh tế tham gia thị trường, có cạnh tranh giữa
những người sản xuất với nhau, giữa những người mua với nhau, cạnh tranh giữa
những người mua với người bán, người sản xuất với người tiêu dùng. Với các
loại cạnh trạnh này chủ yếu xoay quanh các vấn đề về chất lượng hàng hoá, giá
cả và điều kiện dịch vụ.
1.1.2- Năng lực cạnh tranh và vai trò của nó trong nền KTTT.
10
1.1.2.1- Quan niệm về năng lực cạnh tranh trong nền KTTT.
DN muốn tồn tại và phát triển trên thị trường thì cần phải có một tiềm lực
đủ mạnh để có thể vượt lên trên các đối thủ khác. Tiềm lực đó chính là năng lực
cạnh tranh của DN. Năng lực cạnh tranh của DN là khả năng mà DN có thể tự
duy trì vị trí của mình trong một thời gian dài trên thị trường cạnh tranh, đảm
bảo thực hiện một mức lợi nhuận lớn nhất là bằng tỷ lệ đòi hỏi cho việc thực
hiện các mục tiêu của DN.
Năng lực cạnh tranh của DN thường được đánh giá thông qua các yếu tố
nội tại của DN như: Quy mô, khả năng tham gia cạnh tranh và rót lui khỏi thị
trường, sản phẩm, năng lực quản lý, năng suất lao động, trình độ công nghệ và

trường cạnh tranh.
1.1.2.2- Vai trò của cạnh tranh trong nền KTTT:
Khi nền kinh tế Việt Nam chuyển đổi, vận động theo cơ chế thị trường thì
cạnh tranh được thừa nhận, quy luật cạnh tranh bộc lộ và vai trò của cạnh tranh
trong nền KTTT thể hiện rõ nét hơn, cụ thể:
• Đối với DN sản xuất kinh doanh:
Cạnh tranh đã trở thành điều kiện sống còn của DN trong nền KTTT hiện
nay. Bất kỳ DN nào cũng phải đối mặt với sự cạnh tranh và tìm mọi cách chiếm
lấy ưu thế, có như thế thì DN mới có thể tồn tại và phát triển được.
Trong nền KTTT, khách hàng có quyền lựa chọn những hàng hóa phù
hợp nhất với nhu cầu của mình, DN nào đáp ứng được những điều đã, tức họ sẽ
bán được hàng thì DN đã sẽ tồn tại được; ngược lại DN nào không tìm được
phương thức thoã mãn nhu cầu trên thị trường, không bán được hàng thì sẽ đi tới
12
thua lỗ và phá sản. Do đã, các DN bắt buộc phải tìm cách nâng cao chất lượng
hàng hóa và dịch vụ của mình nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng.
Mặt khác, để cạnh tranh thu hót được lượng khách hàng lớn nhất thì các
DN luôn tìm cách đưa ra mức giá thấp nhất có thể, do vậy buộc các DN phải tìm
phương án sản xuất tối ưu, sử dụng công nghệ hiện đại, giảm tới mức thấp nhất
các chi phí đầu vào,… Cạnh tranh không chỉ ở phạm vi giá cả mà cạnh tranh
bằng chất lượng cũng buộc các DN phải quan tâm áp dụng khoa học kỹ thuật
tiên tiến quản lý,… Như vậy, cạnh tranh tạo nên sức Ðp buộc DN phải sử dụng
có hiệu quả nguồn lực sẵn có. Song đồng thời, cạnh tranh cho phép sử dụng các
nguồn tài nguyên, các nguồn lực xã hội một cách tối ưu. Cạnh tranh khuyến
khích áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới vào sản
xuất, thóc đẩy sản xuất phát triển, tăng năng suất lao động và hiệu quả kinh tế xã
hội.
• Đối với xã hội:
Cạnh tranh được coi là động lực phát triển kinh tế, nâng cao năng suất lao
động xã hội. Khi có cạnh tranh, các DN tìm mọi cách giảm giá thành và nâng cao

Trong những năm qua, các DN SX-KD xi măng thuộc VICEM có sự tăng
trưởng không đồng đều. Nhiều DN có lâu nay có vị thế cao trong thị trường như
xi măng Hà Tiên 1, xi măng Hoàng Thạch tiêu thụ năm 2007 chỉ tăng được 1%
so với năm 2006. Nhiều DN như xi măng Bỉm Sơn, xi măng Bút Sơn lại có tốc
độ tiêu thụ giảm so với năm 2006 từ 2% đến 4%. Trong khi đó những dây
chuyền mới lại hoạt động có tốc độ tiêu thụ khá cao như xi măng Hải Phòng
(mới) tăng gần 21%, xi măng Tam Điệp tăng tới 45%. Về số tuyệt đối sản lượng
14
tiêu thụ năm 2007 cho thấy trong tổng số sản lượng toàn xã hội tiêu thụ tăng
3.989.000 tấn thì sản lượng của các DN thuộc VICEM tăng được 896.000 tấn
(chiếm 22,46%), sản lượng 6 công ty khối liên doanh tăng được 1.074.000 tấn
(chiếm 26,92%) và sản lượng xi măng địa phương, các trạm nghiền tăng được
2.019.000 tấn (chiếm 50,61%).
Qua số liệu trên cũng cho thấy, một số DN SX-KD thuộc VICEM đã từng
có lịch sử phát triển lâu dài, đã từng có công nghệ tiên tiến, đã từng có thời gian
xây dựng thương hiệu mạnh trong tình cảm người tiêu dùng, đã từng có thời kỳ
độc quyền trên thị trường nội địa, nhưng đến nay lại có tốc độ tăng trưởng chậm
nhất trong 3 khối sản xuất tham gia thị trường xi măng (khối các DN SX-KD
thuộc VICEM; khối xi măng liên doanh; khối xi măng địa phương và các tfrạm
nghiền). Khối xi măng liên doanh, có thể nói là khối công nghiệp trẻ, có công
nghệ hiện đại, có kinh nghiệm quản lý của nền KTTT phát triển đã giữ được tốc
độ tăng trưởng khá cao cả về số tương đối lẫn số tuyệt đối, mang tính ổn định
bền vững. Khối DN xi măng địa phương và các trạm nghiền có tốc độ tăng
trưởng nhanh nhất cả số tuyệt đối và số tương đối. Khối này đã được đổi mới
nhiều về công nghệ, đồng thời trong những năm qua nhiều nhà máy có quy mô
lớn bắt đầu hoạt động, nhiều công ty du nhập được phương pháp quản lý hiện đại
của các tập đoàn lớn trên thế giới cho nên đã có những bước tiến bộ nhảy vọt.
Hiện nay, nền kinh tế của Việt Nam đang vận hành theo cơ chế thị trường
có điều tiết của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Cùng với kế hoạch
và định hướng phát triển ngành công nghiệp xi măng Việt Nam, ngoài việc nắm

cầu trong nước, giành một phần xuất khẩu và nhanh chóng đưa ngành xi măng
Việt Nam trở thành một ngành công nghiệp mạnh, có công nghệ sản xuất hiện
16
đại, đủ sức cạnh tranh với sản phẩm cùng loại của nước ngoài, góp phần thực
hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”.
1.1.3.3- Do yêu cầu của các DN SX-KD xi măng thuộc VICEM phải tận
dụng cơ hội và vượt qua những thách thức trong quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế.
Ngày nay, hội nhập vào nền kinh tế thế giới là một bước đi chiến lược tất
yếu và cũng là con đường mà tất cả các nước muốn xây dựng một nền kinh tế
công nghiệp hiện đại đều phải hướng tới. Khi hội nhập, các quốc gia sẽ có nhiều
cơ hội thuận lợi những cũng gặp nhiều khó khăn thách thức phía trước. Kinh tế
Việt Nam đang đứng trước hoàn cảnh đó và chỉ có con đường duy nhất là đẩy
mạnh tiến trình hội nhập, nếu muốn phát triển nền kinh tế theo hướng công
nghiệp hiện đại.
Các DN SX-KD thuộc VICEM không thể nằm ngoài vòng xoáy đó. Đứng
trước xu hướng hội nhập, những năm gần đây, các DN SX-KD xi măng thuộc
VICEM đã chủ động nắm bắt cơ hội mới, đón trước những thách thức trở ngại,
trên cơ sở đó xác định cho mình hướng đi và những giải pháp tích cực để chủ
động nâng cao khả năng cạnh tranh khi hội nhập.
Những cơ hội các DN SX-KD xi măng thuộc VICEM phải vận dụng cũng
như những thách thức phải vượt qua đó là:
• Về cơ hội:
- Tiếp nhận nhanh chóng công nghệ tiên tiến hiện đại thông qua con
đường chuyển giao công nghệ, rút ngắn ngững bước đi thăm dò, giảm chi phí
trong công tác nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng.
- Toàn cầu hóa, mở rộng tự do thương mại có khả năng tạo ra những cơ
hội thị trường cho mọi loại hình DN, trong đó có ngành công nghiệp xi măng
Việt Nam. Đồng thời tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế, các DN SX-KD xi
17

- Nhiều quốc gia cùng có xu hướng phát triển kinh tế theo trào lưu hướng
ngoại, trong khi các DN SX-KD xi măng Ýt khi có cơ hội nhận được sự bảo hộ
(bằng thuế và phi thuế) của Nhà nước, dẫn đến việc suy giảm khả năng bảo vệ
thị trường nội địa.
- Nguy cơ bị lép vế trong việc tìm kiếm các cơ hội, hợp đồng hợp tác với
các DN thuộc các nước công nghiệp phát triển và các nước đang phát triển.
- Bề dày văn hóa kinh doanh của các DN vừa và nhỏ Việt Nam nói chung
và của các DN SX-KD thuộc VICEM trong nền KTTT chưa hình thành một cách
rõ nét.
1.2- Nội dung và những nhân tố ảnh hưởng đến nâng cao năng lực cạnh
tranh của các DN SX-KD xi măng Việt Nam trong nền KTTT.
1.2.1- Đặc điểm của các DN SX-KD xi măng trong nền KTTT.
Xi măng là loại vật liệu xây dựng cơ bản và thông dụng, được sử dụng rộng
rãi với khối lượng lớn trong xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng công nghiệp, dân
dụng và các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội khác của đất nước. Do vậy, các DN
SX-KD xi măng có một số đặc điểm như sau:
Một là, ngành công nghiệp xi măng là ngành sản xuất chịu ảnh hưởng
nhiều của nguồn tài nguyên thiên nhiên (nguồn đá vôi, đá sét), chỉ các doanh
nghiệp đảm bảo được nguồn tài nguyên thiên nhiên mới có khả năng sản xuất
kinh doanh xi măng vững chắc, lâu dài. Trong thực tế, các đơn vị kinh doanh xi
măng từ nguồn bán thành phẩm (clinker) nhập khẩu cho thấy tính cạnh tranh
kém do nguồn bán thành phẩm nhập khẩu và chi phí vận tải quá cao. Điều này
19
cho thấy xi măng là ngành độc quyền nhóm – chỉ một Ýt doanh nghiệp có được
nguồn tài nguyên tham gia thị trường xi măng.
Hai là, trong những năm qua, xi măng vẫn được coi là ngành tham gia bảo
đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, là công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô và
giữ vai trò ổn định thị trường. Các DN SX-KD xi măng còn là mét trong những
đơn vị có tỷ trọng đóng góp cho nguồn thu ngân sách Nhà nước tương đối cao
(khoảng 4 - 5 triệu USD cho một triệu tấn sản phẩm), góp phần làm tăng trưởng

thuật công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất hay thay đổi cơ chế quản lý trong công
nghiệp xi măng đều có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến chất lượng, giá trị
và tốc độ xây dựng các công trình ở mọi khu vực của mọi thành phần kinh tế.
Đồng thời cũng có tác động ngược lại đến việc kìm hãm hoặc phát triển thị trường
tiêu thụ sản phẩm của các DN SX-KD xi măng.
Do đặc điểm về vùng nguyên liệu, các nhà máy sản xuất xi măng thường
được xây dựng ở vùng sâu, vùng xa, điều đó cũng góp phần vào việc đổi mới bộ
mặt, đời sống nhân dân ở các vùng sâu, vùng xa, chưa có cơ hội phát triển của đất
nước.
Bốn là, sản phẩm của các DN SX-KD xi măng có khối lượng lớn nhưng
thời gian sử dụng ngắn trong khi địa bàn tiêu thụ rộng. Một nhà máy xi măng
trung bình mỗi ngày sản xuất 5.000 tấn xi măng (cần khoảng 150 xe vận tải) cho
địa bàn tiều thụ hàng ngàn kilômét, trong khi sản phẩm xi măng chỉ có thời hạn
sử dụng tốt nhất là 60 ngày.
Do đặc điểm của ngành xi măng như vậy nên các doanh nghiệp sản xuất
kinh doanh xi măng thường có quy mô lớn, thiết bị mang tính đồng bộ, phức tạp,
21
hầu hết các thiết bị, phụ tùng đều phải nhập khẩu. Do tính phức tạp của hệ thống
thiết bị của ngành xi măng, tính đặc thù cao của thiết bị nên kèm theo đó dự trữ
phụ tùng thay thế lớn. Vốn đầu tư lớn, thời gian hoạt động dài, các dự án đầu tư
cho xi măng thường có vốn đầu tư 150 USD/tấn công suất, một nhà máy công
suất 1,4 triệu tấn năm có tổng vốn đầu tư trên 3.000 tỷ đồng, thời gian hoạt động
của một nhà máy xi măng thường là trên 50 năm. Vì vậy, hiệu quả đầu tư xi
măng thường được nhìn về dài hạn.
Năm là, quá trình tiêu thụ xi măng mang tính chất thời vụ. Ở Việt Nam,
nhu cầu tiêu dùng xi măng biến động mang tính thời vụ giữa các quý trong năm
và đã trở thành quy luật. Do vậy, các DN SX-KD xi măng hay các thành phần
tham gia thị trường xi măng đều phải có những đối sách, những giải pháp phù
hợp theo quy luật để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh.
Tăng trưởng nhu cầu tiêu thụ xi măng gắn liền với tăng trưởng kinh tế,

Ngoài ra, chất lượng sản phẩm còn phải được coi trọng ở các khâu dịch vụ
trước, trong và sau khi bán hàng.
Chất lượng sản phẩm không chỉ được hiểu là phải thật tốt, thật bền, thật
đẹp mà còn được hiểu: Chất lượng sản phẩm phải do khách hàng quy định . Đây
là một quan niệm rất mới và cũng là hệ quả tất yếu của quá trình cạnh tranh gay
gắt để dành dật khách hàng giữa các DN . Về mặt lý luận, quản trị chất lượng sản
phẩm là nhân tố chủ quan của DN. Điều này đưa các DN tiếp cận gần hơn tới thị
trường và cạnh tranh ngày một gay gắt hơn. Việc nâng cao chất lượng sản phẩm
đồng nghĩa với việc nâng cao sức cạnh tranh. Bởi vì, nhờ nâng cao chất lượng
23
sản phẩm nên các sản phẩm bán được nhiều hơn, các DN có uy tín cao hơn và có
cơ hội để mở rộng thị trường tiêu thụ, tăng thị phần.
Tóm lại, chất lượng sản phẩm là yếu tố quan trọng hàng đầu của cạnh
tranh và yếu tố này rất năng động, thay đổi theo nhu cầu của thị trường, của từng
khu vực thị trường khác nhau và cho các nhóm đối tượng khác nhau. Cạnh tranh
làm cho các DN không ngừng tìm kiếm con đường tự hoàn thiện mình và nâng
cao chất lượng tối ưu cho sản phẩm của mình.
1.2.2.2- Giá cả sản phẩm.
Với tư cách là công cụ cạnh tranh của các nhà sản xuất, giá cả được hiểu
là số tiền mà người bán dự kiến nhận được của người mua thông qua trao đổi
hàng hóa, dịch vụ trên thị trường. Giá cả được hình thành là do chi phí, nhu cầu
của thị trường và do chính sách của các DN quyết định. Giá cả có vai trò rất
quan trọng, là khâu cuối cùng thể hiện kết quả hoạt động SX-KD của các DN.
Giá cả quyết định việc mua hàng hóa hay không của người tiêu dùng, mặt khác
nó còn quyết định tình hình biến động của thị trường. Thông qua giá cả, các DN
có thể nhận biết được sự tồn tại, sức chịu đựng cũng nh năng lực cạnh tranh của
mình trên thương trường.
Giá cả của các DN có các nhân tố ảnh hưởng:
+) Chi phí sản xuất: Đây là các chi phí phát sinh trong quá trình SX-KD
như chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công trực tiếp, chí phí sản xuất chung,

Cạnh tranh sẽ làm cho các DN luôn tìm tòi, nghiên cứu để tự hoàn thiện
mình, nâng cao chất lượng tối ưu cho sản phẩm, đa dạng hóa sản phẩm và dịch
vụ đáp ứng mong muốn của người tiêu dùng.
25

Trích đoạn Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Nguyên nhân tồn tại, hạn chế. Đầu tư phát triển giai đoạn 2005 – 2008. Mục tiêu nâng cao năng lực cạnh tranh của các DN SX-KD xi măng thuộc VICEM. Mở rộng thị trường, thực hiện nhiệm vụ bình ổn giá cả xi măng trên phạm vi tồn quốc.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status