Đánh giá năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần xi
măng Bỉm Sơn trong những năm 2003 2008
I - KHÁI QUÁT KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH
CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XI MĂNG BỈM SƠN TRONG GIAI ĐOẠN
2003 – 2008:
Trong thời gian vừa qua, công ty cổ phần xi măng Bỉm Sơn đã thu được
những kết quả tốt về mọi mặt hoạt động sản xuất kinh doanh, là một trong
những đơn vị sản xuất và tiêu thụ xi măng lớn trong Tổng Công ty công nghiệp
xi măng Việt Nam, xứng đáng là đơn vị Anh hùng trong thời kỳ đổi mới. Sản
lượng sản xuất và tiêu thụ tăng đều hàng năm, các chỉ tiêu tài chính luôn luôn
ổn định và có hiệu quả, đặc biệt chỉ tiêu lợi nhuận hàng năm đều tăng từ 15%
đến 50% so với các năm trước đó. Thu nhập bình quân của người lao động tăng
cao và ổn định. Hơn nữa, Xi măng Bỉm Sơn luôn chú trọng đầu tư đổi mới máy
móc thiết bị hiện đại, tăng cường công tác đào tạo để nâng cao trình độ, tay
nghề của công nhân với mục tiêu tăng năng suất lao động và chất lượng sản
phẩm. Với đội ngũ cán bộ giàu kinh nghiệm và công nhân kỹ thuật lành nghề,
năng lực thiết bị ngày càng hiện đại. Xi măng Bỉm Sơn đã và đang tham gia
cung cấp cho xây dựng dân dụng vào rất nhiều những công trình trọng điểm
của đất nước như: Thuỷ điện Hoà Bình, Bảo tàng Hồ Chí Minh, đường dây
500kw Bắc- Nam,…
1. Đánh giá về doanh thu, lợi nhuận, nộp ngân sách và thu nhập bình quân
đầu người/ tháng:
Bảng 2.1: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của CTCP xi măng Bỉm
Sơn từ 2003 – 2008
Chỉ tiêu Đơn vị
Năm
2003 2004 2005 2006 2007 2008
Doanh thu Tỷ đồng 1.307,1
1.560,
2
1.553,2 1.602,8 1.547,0 1.936,1
khoảng 600.000đồng/tấn. Bắt đầu từ năm 2006, Công ty tiến hành đi vào cổ
phần hóa, được tự chủ hơn về việc tìm kiếm thị trường nên khả năng tiêu thụ có
tăng lên. Năm 2007, Công ty đã áp dụng một số chính sách thuế, đồng thời cải
cách hệ thống bán hàng nên hầu hết các đại lý bán hàng vẫn chưa thích nghi
được với hình thức bán hàng mới. Đến năm 2008, mọi sự thay đổi đã đi vào
khuôn khổ, các đại lý đã quen dần với cung cách bán hàng mới nên kết quả kinh
doanh đã có sự cải thiện đáng kể.
Phần lớn doanh thu của Công ty là từ xi măng bao còn các sản phẩm khác
như xi măng bột, clinker chiếm tỷ lệ rất ít trong cơ cấu doanh thu.
- Cùng với sự tăng lên của tổng doanh thu, lợi nhuận trước thuế tăng đều
qua các năm và không có những biến động đáng kể. Mặc dù công tác tiêu thụ
gặp rất nhiều khó khăn do giá bán giảm nhưng do việc quản lý sản xuất kinh
doanh có hiệu quả nên lợi nhuận ngày càng cao.
- Tỷ lệ nộp ngân sách của Công ty tăng giảm thất tjhường:
Tỷ lệ nộp ngân sách Nhà nước của Xi măng Bỉm Sơn có mức biến động
đáng kể, như tỷ lệ nộp ngân sách cao nhất trong giai đoạn này là năm 2005 với
mức tăng là 12% còn năm 2006 lại giảm đột ngột là 11.69%, tuy nhiên sự biến
động đó hoàn toàn phù hợp với sự tăng giảm, biến động của lợi nhuận qua các
năm trong giai đoạn này.
Biểu đồ 2.2: Tỷ lệ nộp ngân sách của CTCP xi măng Bỉm Sơn giai đoạn
2003 – 2008
(Nguồn: Phòng kinh tế kế hoạch và kế toán thống kê tài chính)
- Thu nhập bình quân 1 tháng của các cán bộ công nhân viên trong Công ty
có xu hướng tăng lên, nhưng mức tăng trung bình, không cao. Cao nhất là năm
2007 tăng được 609 nghìn đồng/ người, còn thấp nhất là năm 2006 chỉ tăng
được 135 nghìn đồng/ người.
Năm 2007 là năm Công ty có những thay đổi cơ bản về công tác tổ chức và
nhân sự. Chuyển đổi chi nhánh thành Văn phòng đại diện; bổ nhiệm, sắp xếp lại
lao động cho phù hợp với tình hình thực tế của Công ty; giải quyết chế độ chính
sách cho 143 người (chủ yếu là lao động dôi dư ở các chi nhánh) và tiếp nhận
1.SL sản xuất
Clinker Nghìn tấn 1.443,08 1.682,19 1.635,32 1.564,30 1.688,48 1.731,57
Xi măng Nghìn tấn 1.817,02 2.247,85 2.233,43 2.315,37 2.255,75 2.427,42
2.SL tiêu thụ:
Clinker Nghìn tấn 152,40 235,99 105,70 46,44 20,98 71,214
Xi măng Nghìn tấn 1.825,46 2.188,18 2.266,06 2.365,29 2.287,67 2.565,13
(Nguồn: phòng kinh tế kế hoạch và phòng kế toán thống kê tài chính)
Từ bảng số liệu trên có thể thấy, trong những năm gần đây sản lượng sản
xuất và tiêu thụ của công ty tương đối ổn định, mặc dù công tác tiêu thụ gặp rất
nhiều khó khăn và giá bán giảm dần. Sản lượng sản xuất tăng dần theo các năm,
điều đó phù hợp với sự phát triển cũng như nhu cầu tiêu dùng của xã hội, và do
đó cũng kéo theo sự gia tăng của tổng doanh thu. Clinker cũng có sản lượng sản
xuất tăng dần theo các năm, nhưng khả năng tiêu thụ lại tăng giảm thất thường
và đóng góp vào sản lượng tiêu thụ là rất ít mặc dù vẫn sản xuất nhiều, điều đó
chứng tỏ Công ty đã tự cung tự cấp được cho sản xuất, có đủ cliker để dùng cho
sản xuất xi măng, không phải mua từ các công ty khác. Bên cạnh đó, do thị
trường xi măng biến động lớn, mức sản xuất trong phạm vi toàn quốc tăng lên
rất nhanh do đã có nhiều nhà máy lớn đi vào hoạt động và sản xuất ổn định. Xi
măng liên doanh có lượng tương đối lớn, là những công ty liên doanh vốn chủ
yếu của nước ngoài do đầu tư mới nên được miễn giảm thuế. Vì vậy công tác xử
lý giá cả đến từng thị trường rất linh hoạt, không bị ràng buộc bởi cơ chế quản
lý của nhà nước. Cho nên việc tăng giảm thị phần trên thị trường đối với những
công ty này hoàn toàn là do chủ quan, vì một lượng không nhỏ xi măng lò đứng
là do địa phương quản lý cho nên việc xây dựng các công trình dân dụng, cơ sở
hạ tầng trong địa phương luôn được các địa phương ưu tiên cho loại xi măng
của mình. Được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Tổng công ty xi măng Việt
Nam cũng như việc tổ chức và đề ra những biện pháp linh động, có hiệu quả của
lãnh đạo công ty như chính sách khuyến mại hoa hồng đã thực sự tạo được động
lực thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
của Công ty.
Tốc độ tăng tưởng kinh tế tăng , tỷ lệ lạm phát cũng tăng mạnh làm xáo
Năm 2003 2004 2005 2006 2007 2008
Tốc độ tăng (%) 7.34 7.79 8.44 8.17 8.5 11
trộn nền kinh tế, lãi suất tăng và sự biến động của đồng tiền trỏe nên khó lường
hơn trước. Đặc biệt trong năm 2008, cuộc khủng hoảng nền kinh tế Mỹ đã
nhanh chóng lan ra toàn cầu và nước ta cũng đã chịu ảnh hưởng rất lớn, lãi suất
ngân hàng tăng cao, biến động khôn lường, các hoạt động đầu tư, sản xuất của
Công ty trở thành hoạt động măng tính may rủi nhiều hơn, làm cho tương lai
kinh doanh trở nên khó đoán hơn.
Bảng 2.4: Tỷ lệ lạm phát của Việt Nam từ năm 2003 – 2008
( Nguồn: Tạp chí kinh tế Việt Nam 2008 - 2009)
Lạm phát tăng cao làm tăng giá nguyên vật liệu và chi phí nhân công.
Tỷ giá hối đoái là nhân tố tác động trực tiếp đến hiệu qiả sản xuất kinh
doanh của các công ty, đặc biệt là những công ty có tỷ lệ hàng hóa nhập khẩu
lớn. Trong giai đoạn này, CTCP xi măng Bỉm Sơn đang được đầu tư, nâng cấp
và xây dựng các dự án dây chuyền mới, thường xuyên phải nhập khẩu máy móc
thiết bị, nguyên vật liệu hàng hóa từ nước ngoài với giá trị lớn. Vì vậy, mọi sự
thay đổi, dù nhỏ của tỷ giá hối đoái cũng tác động không nhỏ đến hiệu quả kinh
doanh của Công ty. Nếu không dự đoán được sự thay đổi của đồng ngoại tệ thì
Công ty sẽ bị thiệt hại rất lớn. Chính vì vậy, đây là một chướng ngại lớn đối với
CTCP xi măng Bỉm Sơn.
1.2. Yếu tố chính trị - pháp luật:
Việt Nam là một trong những quốc gia có nền chính trị ổn định nhất trên
thế giới. Hiện nay, nước ta đang tạo điều kiện tốt để thu hút các nhà đầu tư
trong nước cũng như nước ngoài đầu tư và kinh doanh. Sự ổn định về chính trị
là nền tảng quan trọng để các doanh nghiệp an tâm kinh doanh, đạt được hiệu
quả tốt. Ngoài ra, để các hoạt động kinh doanh có hiệu quả và đúng hướng thì
mỗi quốc gia quản lý bằng các văn bản pháp luật, các chế tài chính sách có liên
quan. Để quản lý tốt các hoạt động của nền kinh tế, Nhà nước quy định và công
bố các chính sách cụ thể đối với từng thị trường , từng khu vực. Các quy định
hiệu quả kinh tế. Để đáp ứng kịp thời yêu cầu của thị trường cả về số lượng và chất
lượng, Công ty luôn tìm nguồn nguyên vật liệu thuận lợi, khai thác triệt để nguồn
nguyên vật liệu sản xuất trong nước đảm bảo chất lượng, giá thành hạ.
1.4. Yếu tố văn hóa, xã hội:
Các yếu tố về văn hóa - xã hội cũng tác động rất lớn tới hoạt động của
CTCP xi măng Bỉm Sơn, như thị hiếu, nhu cầu, dân số, phong tục tập quán,…
của vùng, địa phương thuộc thị phần của mình. Công ty cần phải có những tìm
hiểu, phân tích kịp thời những thay đổi của các yếu tố này để có những chiến
lược phù hợp, toàn diện hơn cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
2. Phân tích môi trường ngành:
2.1. Áp lực từ đối thủ tiềm ẩn:
Trong giai đoạn này có rất nhiều công ty sản xuất xi măng đã dần hoàn
thành và đi vào sản xuất ngay trong địa bàn hoạt động của Công ty. Bên cạnh đó
là một số các Công ty xi măng tư nhân đã được cấp phép xây dựng và hoạt động
như Công ty xi măng Duyên Hà, Công ty xi măng Tam Điệp,... đây đều là
những Công ty có địa bàn ngay cạnh Công ty cổ phần xi măng Bỉm Sơn, điều
đó đã tạo cho xi măng Bỉm Sơn một áp lực cạnh tranh rất mạnh mẽ. Hơn nữa,
việc Việt Nam gia nhập vào WTO đã tạo điều kiện cho các công ty xi măng
trong nước cũng như nước ngoài được tự do thương mại, thị trường được mở
rộng tạo nhiều cơ hội cho các công ty mở rộng thị phần của mình, điều đó cũng
có nghĩa là sẽ có rất nhiều thách thức đối với sự sống còn của CTCP xi măng
Bỉm Sơn. Mặc dù đã hoạt động lâu năm, là những Công ty đầu tiên của ngành
và rất có uy tín trên thị trường trong nước cũng như với nước bạn – Lào, nhưng
áp lực cạnh tranh từ phía đối thủ tiềm ẩn là rất cao. Chính vì vậy, Công ty cần
phải luôn nghiên cứu, tìm hiểu về các đối thủ tiềm ẩn trong thị trường, tìm biện
pháp để khống chế các đối thủ này, và nhất là không được tự hài lòng với những
kết quả đã đạt được mà phải luôn phấn đấu tìm cách tự đổi mới mình để vượt
lên trên các đối thủ cạnh tranh.
2.2. Áp lực sản phẩm thay thế:
Sự cạnh tranh của sản phẩm thay thế là nguy cơ đe dọa làm giảm lợi