Chuyên đề tốt nghiệp Trường Đại học Thương Mại
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn hai mươi năm thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được
những thành tựu to lớn và hết sức quan trọng. Nhờ đổi mới mà nước ta đã thoát khỏi
khủng hoảng kinh tế - xã hội, kinh tế tăng trưởng nhanh, cơ sở vật chất được tăng
cường, đời sống của các tầng lớp nhân dân không ngừng được cải thiện. Do đó nhu
cầu của người dân hiện nay không chỉ dừng lại ở nhu cầu thiết yếu ăn no mặc ấm, mà
đòi hỏi những nhu cầu cao hơn nhằm chứng tỏ bản thân,… Vì vậy, hiện nay nhu cầu
mua vải nội ngoại thất phục vụ mục đích trang trí cho ngôi nhà thân yêu của mỗi gia
đình ngày càng tăng cao.
Nhận thấy tiềm năng của thị trường, nhu cầu ngày càng cao của khách hàng,
trong thời gian qua công ty TNHH nội thất Phúc Duy đã bắt đầu chú trọng và đẩy
mạnh đầu tư cho khâu ước lượng và dự báo cầu về sản phẩm vải nội ngoại thất. Việc
ước lượng và dự báo cầu sẽ giúp công ty ước tính được lượng cầu hiện tại, thị hiếu sở
thích của người tiêu dùng, đưa ra các giải pháp góp phần nâng cao doanh thu, tiết kiệm
chi phí và hạn chế tối đa những rủi ro trong kinh doanh. Tuy nhiên, do chưa có bộ
phận nghiên cứu thị trường riêng mà các công việc về nghiên cứu thị trường đều do
phòng kinh doanh đảm nhận nên công tác ước lượng và dự báo cầu về sản phẩm vải
nội ngoại thất còn nhiều hạn chế, điều này thể hiện rõ qua doanh thu của công ty còn
chưa cao năm 2008 trước sự biến động mạnh mẽ của thị trường. Vì vậy, làm thế nào
để đạt được hiệu quả kinh doanh cao? Làm thế nào để hạn chế được những rủi ro trong
kinh doanh? Những giải pháp kích cầu tiêu dùng và nâng cao hiệu quả công tác phân
tích cầu đối với sản phẩm kinh doanh là vải nội ngoại thất? Để trả lời những câu hỏi
đó, ước lượng và dự báo cầu là vấn đề nổi bật cần được nghiên cứu và giải quyết sâu
sắc, triệt để.
Xuất phát từ vấn đề lý luận và nhu cầu thực tế tại đơn vị thực tập Phúc Duy
chuyên kinh doanh vải nội ngoại thất nên tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Ước
lượng và dự báo cầu về sản phẩm vải nội ngoại thất của công ty TNHH nội thất
Phúc Duy trên địa bàn Hà Nội đến năm 2015”
Ngọc – Khoa kinh tế 2008 - ĐH Kinh Tế Quốc Dân. Đề tài đã chỉ rõ được thực trạng
của công ty, thấy được các nhân tố chính ảnh hưởng tới cầu sản phẩm. Tuy nhiên tác
giả chỉ mới sử dụng các số liệu thứ cấp thu thập từ các phòng ban của công ty mà chưa
nghiên cứu, khảo sát thị trường, thu thập ý kiến của khách hàng về sản phẩm, giá cả…
Đề tài: “Xây dựng mô hình hàm cầu sản phẩm cá hồi của Nauy ở Việt Nam”
– Luận văn tốt nghiệp của Phạm Thành Thái – Khoa kinh tế 2008 - ĐH Nha Trang.
Đề tài cũng đã có nghiên cứu về vấn đề ước lượng cầu, đề tài của tác giả đã có những
kết luận sắc sảo về việc xây dựng hàm cầu tuy nhiên đề tài chưa có được định hướng
rõ ràng cho tương lai. Cần thiết phải có công tác dự báo theo chuỗi thời gian thì sẽ tạo
điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp.
Bài báo cáo: “Dự báo cầu thị trường về sản phẩm vải nội ngoại thất của công
ty TNHH nội thất Phúc Duy trên địa bàn Hà Nội năm 2009” – Tác giả Nguyễn Thị
Hường – Trưởng phòng kinh doanh của công ty TNHH nội thất Phúc Duy. Bài báo
cáo cho thấy tác giả đã có những nghiên cứu, điều tra khách hàng để dự báo cầu. Tuy
nhiên độ chính xác chưa cao do chưa có sự đầu tư thích đáng vào công tác điều tra,
Nguyễn Thị Phương Liên K43F6 Khoa kinh tế
Chuyên đề tốt nghiệp Trường Đại học Thương Mại
hơn nữa việc tổng hợp kết quả điều tra còn thiếu tính tổng hợp, điều tra mẫu khách
hàng còn chưa có tính khái quát cao.
Như vậy các đề tài đi trước còn có những hạn chế nhất định, do đó tác giả đã
lựa chọn đề tài: “Ước lượng và dự báo cầu về sản phẩm vải nội ngoại thất của công ty
TNHH nội thất Phúc Duy trên địa bàn Hà Nội đến năm 2015”. Tuy đề tài này không
hoàn toàn mới nhưng có mang tính mới về cả kết cấu và nội dung, về việc ước lượng
và dự đoán cầu của một mặt hàng.
1.4. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.4.1. Mục tiêu lý luận
Chuyên đề tập trung làm rõ một số vấn đề lý luận như: Khái niệm cầu, phân
tích cầu, phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới cầu, các phương pháp ước lượng và dự
báo cầu, từ đó vận dụng các kiến thức để phân tích cầu và đưa ra giải pháp thúc đẩy
tiêu thụ sản phẩm vải nội ngoại thất của công ty TNHH nội thất Phúc Duy trên địa bàn
1.6.1. Số liệu sơ cấp
Với đề tài này, tác giả đã tiến hành thu thập các số liệu thực tế liên quan tới cầu
về sản phẩm của công ty TNHH nội thất Phúc Duy thông qua điều tra khảo sát trắc
nghiệm trên 30 người tiêu dung ở địa bàn Hà Nội.
1.6.2. Số liệu thứ cấp
Số liệu được sử dụng trong bài được lấy từ văn bản của các phòng ban của công
ty như: Phòng kế toán, phòng hành chính, phòng kinh doanh. Ngoài ra đề tài còn sử
dụng số liệu của một số bài báo, tạp chí tài liệu trong các sách, giáo trình liên quan tới
vấn đề nghiên cứu, các tranh web.
1.7. Phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài này đòi hỏi kết hợp linh hoạt nhiều phương pháp:
Một là, phương pháp đồ thị hóa
Hai là, phương pháp tổng hợp và phân tích
Ba là, phương pháp quan sát và so sánh
Bốn là, phương pháp dự báo cầu theo dãy số thời gian
1.8. Kết cấu của chuyên đề
Ngoài phần mục lục, tóm lược, cảm ơn, danh mục bảng biểu, danh mục tài liệu
tham khảo, danh mục sơ đồ hình vẽ, danh mục từ viết tắt và phần phụ lục thì chuyên
đề được chia thành 3 chương:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài
Chương 2: Thực trạng triển khai ước lượng và dự đoán cầu sản phẩm vải nội
ngoại thất của công ty TNHH nội thất Phúc Duy trên thị trường Hà Nội giai đoạn
2009-2010
Chương 3: Một số giải pháp kích cầu và hoàn thiện công tác dự báo cầu về sản
phẩm vải nội thất của công ty TNHH nội thất Phúc Duy trên địa bàn Hà Nội đến năm
2015
1.9. Lý luận chung về cầu và phân định nội dung của vấn đề nghiên cứu
1.9.1. Lý luận chung về cầu
Nguyễn Thị Phương Liên K43F6 Khoa kinh tế
Chuyên đề tốt nghiệp Trường Đại học Thương Mại
nhiều sản phẩm hơn là trước kia anh ta đã mua. Hiệu ứng thay thế với gợi ý rằng, khi
giá tăng người tiêu dùng sẽ đến với một sản phẩm thay thế tương tự nhưng không đắt
như sản phẩm đó.
1.9.1.2. Cầu cá nhân và cầu thị trường
a. Cầu cá nhân
Nguyễn Thị Phương Liên K43F6 Khoa kinh tế
Chuyên đề tốt nghiệp Trường Đại học Thương Mại
Theo McConnell (2003, tr 63): “Cầu cá nhân là một lượng hàng hóa hoặc dịch
vụ nhất định mà cá nhân sẵn sàng mua và có khả năng mua ở các mức giá khác nhau
trong khoảng thời gian đã cho”.
Đồ thị 1.1. Đường cầu về hàng hóa X
Qua đồ thị ta
thấy đường cầu về
hàng hóa X là đường có độ dốc âm. Cầu là toàn bộ đường cầu, song lượng cầu thể hiện
thông qua các điểm trên đường cầu, tại A là Q
1
, tại B là Q
2
. Đường cầu hàng hóa X
cũng thể hiện đúng luật cầu.
b. Cầu thị trường
Theo David Begg (2007, tr62): “Cầu thị trường là tổng số lượng hàng hóa hoặc
dịch vụ mọi người sẵn sàng mua và có khả năng mua ở các mức giá khác nhau trong
khoảng thời gian đã cho. Cầu thị trường là tổng hợp các cầu cá nhân.”
Việc xác định đường cầu thị trường về một loại hàng hóa hay dịch vụ nào đó
có thể được thực hiện theo nguyên tắc “cộng ngang” các đường cầu cá nhân. Theo
nguyên tắc này, đường cầu thị trường về một loại hàng hóa hay dịch vụ được xác định
bằng việc cộng lần lượt tất cả các số lượng hàng hóa hay dịch vụ mà các cá nhân trong
thị trường mong muốn và sắn sàng mua ở một mức giá nhất định.
Đồ thị 1.2 . Đường cầu thị trường về hàng hóa X
2
= Q
A
2
+ Q
B
2
Đường cầu thị trường D được xác định bởi hai điểm (Q
1
; P
1
) và (Q
2
; P
2
). Ta
thấy D là đường cầu có độ dốc âm và độ dốc thoải hơn so với các đường cầu cá nhân.
1.9.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến cầu
a. Giá cả bản thân hàng hóa, dịch vụ
Lượng cầu về một loại hàng hóa hay dịch vụ nào đó sẽ tuân theo luật cầu, nghĩa là khi
giá cả hàng hóa và dịch vụ tăng lên thì số lượng cầu về hàng hóa hay dịch vụ đó sẽ
giảm xuống và ngược lại (giả sử các yếu khác không đổi)
b. Thu nhập của người tiêu dùng
Đây là nhân tố rất quan trọng có ảnh hưởng quyết định đối với lượng cầu của
bất kỳ hàng hóa nào. Thu nhập ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng thanh toán và chi tiêu
của người tiêu dùng. Đối với đa số hàng hóa và dịch vụ khi thu thập tăng lên thì cầu
đối với chúng tăng lên và khi thu nhập giảm xuống thì cầu đối với hàng hóa và dịch vụ
cũng giảm xuống, các hàng hóa đó được coi là hàng hóa thông thường. Đối với một số
hàng hóa và dịch vụ, khi thu nhập tăng lên người tiêu dùng mua ít đi và ngược lại, các
hàng hóa đó gọi là hàng hóa thứ cấp. Ví dụ: Khoai, sắn, ngô.
sau:
a. Độ co giãn cầu theo giá của bản thân hàng hóa đó ( )
Độ co giãn của cầu theo giá phản ánh phần trăm thay đổi trong lượng cầu của
một mặt hàng khi giá của mặt hàng đó thay đổi 1%. Công thức tính: =
Các trường hợp co giãn của cầu theo giá:
Nguyễn Thị Phương Liên K43F6 Khoa kinh tế
Chuyên đề tốt nghiệp Trường Đại học Thương Mại
│ │ = 0 → Cầu hoàn toàn không co giãn, tức là khi giá tăng hoặc giảm bao
nhiêu phần trăm thì cầu của hàng hóa đó vẫn không thay đổi.
│ │ = 1 → Cầu co giãn đơn vị: Phần trăm thay đổi của giá bằng phần trăm
thay đổi của lượng cầu.
│ │ < 1 → Cầu ít co giãn: Khi giá tăng (giảm) thì lượng cầu giảm (tăng) với
tỷ lệ phần trăm nhỏ hơn.
│ │ > 1 → Cầu co giãn nhiều: Khi giá tăng (giảm) thì lượng cầu giảm (tăng)
với tỷ lệ phần trăm lớn hơn.
│ │ = ∞ → Cầu hoàn toàn co giãn: Khi giá tăng lượng cầu sẽ giảm tới 0.
b. Độ co giãn của cầu theo thu nhập (E
D
I
)
Độ co giãn của cầu theo thu nhập là thước đo sự nhạy cảm của lượng cầu đối
với sự thay đổi của thu nhập. Công thức tính: =
Nếu hàng hóa thiết yếu thì: 1 > > 0
Nếu hàng hóa xa xỉ thì: > 1
Nếu hàng hóa cấp thấp thì: < 0
c. Độ co giãn của cầu theo giá chéo ( )
Độ co giãn của cầu theo giá hàng hóa khác chính là thước đo sự phản ứng của
lượng cầu một hàng hóa đối với những thay đổi của giá các hàng hóa liên quan.
Công thức tính: =
Nếu hai hàng hóa là thay thế nhau thì: > 0
Ba là, phương pháp thí nghiệm trên thị trường: Lựa chọn một số thị trường có
những đặc điểm kinh tế xã hội giống nhau. Sau đó tiến hành thay đổi giá ở một số thị
trường, thay đổi bao bì ở một số thì trường khác và thay đổi các hình thức xúc tiến bán
hàng ở một số thị trường và ghi chép lại các phản ứng của người tiêu dùng ở các thị
trường khác nhau. Dựa vào số liệu thu thập được, có thể xác định được ảnh hưởng của
các nhân tố khác nhau như tuổi tác, giới tính, mức thu nhập và giáo dục, quy mô gia
đình tới cầu đối với hàng hóa.
Bốn là, phương pháp phân tích hổi quy: Là phương pháp cơ bản để ước lượng
hàm cầu. Để ước lượng hàm cầu chúng ta cần sử dụng một hàm cầu đặc trưng, có thể
là hàm tuyến tính hoặc phi tuyến. Vì cầu là hàm số phụ thuộc vào nhiều biến số, trong
đó có những biến số rất khó quan sát và lượng hóa như thị hiếu. Do đó, khi ước lượng
Nguyễn Thị Phương Liên K43F6 Khoa kinh tế
Chuyên đề tốt nghiệp Trường Đại học Thương Mại
hàm cầu chúng ta phải xác định được biến độc lập, căn cứ vào tình hình cụ thể để sử
dụng phép hồi quy cho phù hợp.
b. Các phương pháp dự báo cầu
Có nhiều phương pháp dự báo cầu thị trường, tuy nhiên mỗi doanh nghiệp phải
lựa chọn cho mình những phương pháp sao cho phù hợp và hiệu quả với doanh nghiệp
mình. Sau đây là một số phương pháp cơ bản như:
Một là, phương pháp dự báo theo chuỗi thời gian: Là xác định hàm hồi quy của
cầu theo thời gian (Q = c + aT), căn cứ vào hàm hồi qua của cầu theo thời gian để tính
giá trị tương lai của cầu ở giai đoạn tiếp theo.
Hai là, phương pháp dự báo theo chu kỳ: Được xác định bằng kiểm định t hoặc
sử dụng Pvalue cho tham số ước lượng đối với biến giả. Nếu có n giai đoạn mùa vụ thì
sử dụng n biến giả, mỗi biến giả được tính trong một giai đoạn mùa vụ nhận giá trị
bằng 1 nếu quan sát rơi vào giai đoạn đó còn bằng 0 nếu rơi vào giai đoạn khác.
Dạng hàm: Q = a + bt + c
1
b
1
mình nhằm thu được hiệu quả sản xuất kinh doanh cao nhất.
1.9.2. Phân định nội dung nghiên cứu của đề tài
Nguyễn Thị Phương Liên K43F6 Khoa kinh tế
Chuyên đề tốt nghiệp Trường Đại học Thương Mại
Nội dung nghiên cứu của đề tài: Là phân tích cầu để ước lượng và dự đoán cầu
thị trường về sản phẩm vải nội ngoại thất của công ty TNHH nội thất Phúc Duy trên
thị trường Hà Nội. Đề tài cũng chỉ rõ vai trò của phân tích, ước lượng và dự báo cầu
thị trường về các mặt hàng đối với doanh nghiệp nói chung và công ty TNHH nội thất
Phúc Duy nói riêng.
Về phần lý luận: Tìm hiểu về các khái niệm liên quan đến cầu và các yếu tố tác
động đến cầu như: Giá của bản thân hàng hóa, chất lượng của sản phẩm, việc bố trí và
sử dụng nhân công trong công ty, cơ sở vật chất kỹ thuật, chính sách và chiến lược
kinh doanh của công ty, tình hình kinh tế vĩ mô, nhà cung cấp, đối thủ cạnh tranh, thị
hiếu sở thích của người tiêu dùng.
Về phần thực trạng: Tiến hành tìm hiểu tình hình nghiên cứu thị trường của
công ty TNHH nội thất Phúc Duy, thực trạng hoạt động kinh doanh của công ty để rút
ra những mặt mạnh, mặt hạn chế cần giải quyết và những điểm cần phải khắc phục
nhằm hoàn thiện hơn công tác phân tích thị trường để có thể ước lượng và dự báo cầu
một cách tốt hơn. Đề tài được áp dụng linh hoạt các phương pháp thu thập, xử lý và
phân tích số liệu thứ cấp và sơ cấp thông qua việc điều tra chọn mẫu của công ty, bên
cạnh đó còn sử dụng phương pháp định lượng dựa trên các phần mền Eview, SPSS để
ước lượng và dự báo cầu sản phẩm vải nội ngoại thất của công ty TNHH nội thất Phúc
Duy trên địa bàn Hà Nội, cụ thể như:
Phần phân tích cầu thì tác giả đã sử dụng phần mền Eviews để ước lượng cầu
dựa vào mô hình hàm cầu có dạng Q = a + bM + cP + dPr, từ đó đưa ra được hàm cầu
về vải nội ngoại thất Phúc Duy ở Hà Nội. Rồi từ hàm cầu đó đi phân tích mức độ ảnh
hưởng của từng yếu tố đến cầu vải nội ngoại Phúc Duy.
Phần dự báo cầu thì tác giả đã sử dụng phương pháp dự báo cầu theo chuỗi thời
gian có dạng Q = c + aT. Tác giả đã đi thu thập thông tin về lượng cầu sản phẩm vải
nội ngoại thất của công ty Phúc Duy trên địa bàn Hà Nội từ năm 2002 đến năm 2010,
Duy?
Quy mô chọn mẫu: Phát ra 30 phiếu, phiếu thu về 30.
2.1.2. Phương pháp tổng hợp, phân tích dữ liệu
Sau khi thu về 30 phiếu điều tra, tác giả đã tiến hành tổng hợp, phân tích phiếu
điều tra thông qua việc sử dụng phần mềm SPSS.
Từ các số liệu thu thập được ở các phòng ban trong công ty, đề tài đã thống kê
thành các bảng biểu phản ánh tình hình kinh doanh chung, doanh thu bán hàng của
công ty, cơ cấu thị trường theo doanh thu, cơ cấu khách hàng giai đoạn từ 2009 -2010.
Để đánh giá, nhận xét về hoạt động của công ty trong thời kỳ này bài viết đã đi lập
bảng so sánh kết quả hoạt động kinh doanh qua các năm. Từ các bảng biểu đó phân
tích và đưa ra những đánh giá về các kết quả mà công ty đã đạt được, đánh giá về hoạt
động ước lượng và dự báo cầu mà công ty đã thực hiện. Nhờ đó người đọc có được cái
Nguyễn Thị Phương Liên K43F6 Khoa kinh tế
Chuyên đề tốt nghiệp Trường Đại học Thương Mại
nhìn tổng quát về những thành công, những hạn chế còn tồn tại trong hoạt động chung
cũng như trong công tác kích cầu đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm.
2.1.3. Phương pháp xử lý số liệu
Phiếu điều tra nhu cầu sử dụng sản phẩm của công ty TNHH nội thất Phúc Duy
được tổng hợp bằng phần mềm SPSS và Eviews.
Sau khi mã hóa các câu hỏi trong phiếu điều tra và nhập giá trị các câu trả lời
bằng cách đưa ra các bảng phân bố tần suất các nhân tố, các bảng so sánh chéo, kiểm
định mối tương quan giữa hai nhân tố. Từ kết quả đó, đề tài có những phân tích về các
nhân tố ảnh hưởng tới cầu sản phẩm vải nội ngoại thất của công ty TNHH nội thất
Phúc Duy, về địa điểm và hình thức mua hàng của đối tượng được điều tra, về sự trung
thành của người tiêu dùng với sản phẩm đó cũng như có được các thống kê về sự đánh
giá chất lượng, giá cả của người được điều tra đối sản phẩm vải nội ngoại thất của
công ty.
Mô hình được lựa chọn nhằm ước lượng cầu là mô hình hàm cầu tuyến tính,
phương pháp ước lượng là phương pháp bình phương nhỏ nhất OLS.
Bước 1: Xác định hàm cầu thực nghiệm sản phẩm vải nội ngoại thất của công ty
r
: Là giá của vải nội ngoại thất Sliving (sản phẩm thay thế đối với vải nội
ngoại thất Phúc Duy)
Dấu của các hệ số b, c, d là :
- b: mang dấu dương vì vải nội ngoại thất là hàng hóa thông thường
- c: mang dấu âm vì theo luật cầu
Nguyễn Thị Phương Liên K43F6 Khoa kinh tế
Chuyên đề tốt nghiệp Trường Đại học Thương Mại
- d: mang dấu dương vì trong đề tài nghiên cứu hàng hóa thay thế cho
vải nội ngoại thất Phúc Duy là vải nội ngoại thất Sliving.
Bước 2 : Ước lượng hàm cầu vải nội ngoại thất Phúc Duy, tiến hành theo cách
thức ước lượng cầu của hãng định giá. Với những số liệu thu thập được, ước lượng
được mô hình hồi quy cầu theo phương pháp OLS. Phương pháp này được thực hiện
dựa trên phần mềm Eviews.
Bước 3 : Kiểm định và kết luận về tính chính xác của mô hình hồi quy, kiểm
định ý nghĩa thống kê của các tham số ước lượng cũng như mức độ phản ánh sự biến
động của biến phụ thuộc vào các biến độc lập.
2.2. Đánh giá tổng quan tình hình và ảnh hưởng nhân tố môi trường đến
công tác ước lượng và dự báo cầu của công ty TNHH nội thất Phúc Duy
trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 2009 -2010
2.2.1. Giới thiệu khái quát về công ty TNHH nội thất Phúc Duy
2.2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty TNHH nội thất Phúc Duy
Tên công ty : CÔNG TY TNHH NỘI THẤT PHÚC DUY
Ngày thành lập : Từ năm 2003
Địa chỉ : Tầng 1, số 35, đường số 3, Nguyễn Phong Sắc kéo dài, Cầu Giấy, Hà Nội
Điện thoại : 043. 7676975/ 042.2423708
Công ty được thành lập từ năm 2003, đến nay đã trở thành một thương hiệu vải
nội thất được nhiều người biết đến tại Việt Nam. Sản phẩm của công ty được biết trên
thị trường với thương hiệu PHUCDUYFABRIC. Là nhà nhập khẩu và phân phối vải
nội ngoại thất Thái Lan cao cấp, đồng thời tự thiết kế và sản xuất vải tại Việt Nam nên
Từ Đại học Thương Mại có: 3 người.
2.2.2. Tình hình tiêu thụ sản phẩm của công ty TNHH nội thất Phúc Duy giai đoạn
2009 -2010
a. Về sản lượng tiêu thụ
Bảng 2.1. Sản lượng tiêu thụ sản phẩm vải nội ngoại thất của công ty Phúc Duy
trên địa bàn Hà Nội 2008 - 2010
Năm 2008 2009 2010
Sản lượng (m) 52703,04 59422,57 61131,06
(Nguồn: Phòng kinh doanh)
Qua bảng số liệu nhận thấy khối lượng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp trên
địa bàn Hà Nội tăng dần qua các năm, cụ thể sản lượng tiêu thụ năm 2009 tăng 12,75%
so với sản lượng tiêu thụ năm 2008 và sản lượng tiêu thụ năm 2010 tăng 2,88% so với
sản lượng tiêu thụ năm 2010.
Nguyễn Thị Phương Liên K43F6 Khoa kinh tế
Chuyên đề tốt nghiệp Trường Đại học Thương Mại
b. Về thị phần tiêu thụ sản phẩm của công ty
Biểu đồ 2.1. Thị phần tiêu thụ sản phẩm của công ty
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh hàng năm của công ty)
Nhìn vào biểu đồ ta thấy thị phần tiêu thụ sản phẩm của công ty cũng tăng dần
theo từng năm. Cụ thể thị phần tiêu thụ năm 2008 là 14%, năm 2009 là 14,2% và năm đã
tăng lên đến 14,5%.
Qua đó ta thấy được sản phẩm của công ty ngày càng được nhiều khách hàng
biết đến và đang dần dần tìm được chỗ đứng cho thương hiệu của mình.
2.2.3. Những nhân tố tác động đến tình hình tiêu thụ sản phẩm của công ty TNHH
nội thất Phúc Duy giai đoạn 2009 – 2010
2.2.3.1. Nhân tố chủ quan
a. Giá của bản thân hàng hóa
Giá là một trong những nhân tố tác động lớn đến cầu sản phẩm vải nội ngoại
thất của công ty. Trong giai đoạn 2009 – 2010 do giá nhập khẩu sản phẩm của công ty
giảm đồng thời chi phí một số công đoạn cũng giảm nên giá bán sản phẩm cũng giảm
2008 tỷ lệ lạm phát tăng cao Nhà nước thực hiện các biện pháp kiềm chế lạm phát
như: Tăng lãi suất huy động nhằm rút bớt tiền khỏi lưu thông và các doanh nghiệp
phải vay vốn với lãi suất cao nên ảnh hưởng không nhỏ tới việc đầu tư để kinh doanh,
chính vì thế làm cho sản lượng tiêu thụ năm 2008 là rất thấp chỉ 52703,04m vải giảm
hơn 15% so với mức sản lượng tiêu thụ năm 2007. Nhưng đến năm 2009 khi nền kinh
tế dần được phục hồi thì sản lượng tiêu thụ sản phẩm của công ty lại tăng 12,75% so
với mức sản lượng tiêu thụ năm 2008.
b. Nhà cung cấp
Công ty TNHH nội thất Phúc Duy chuyên kinh doanh các sản phẩm vải nội
ngoại thất phục vụ cho việc tranh trí nhà. Công ty không phải là doanh nghiệp sản xuất
Nguyễn Thị Phương Liên K43F6 Khoa kinh tế
Chuyên đề tốt nghiệp Trường Đại học Thương Mại
ra các sản phẩm đó mà là nhập khẩu từ Thái Lan, chính vì vậy mà giá các sản phẩm
của công ty cũng ảnh hưởng lớn từ các nhà cung cấp. Từ đó mà mức tiêu thụ sản phẩm
của công ty luôn chịu ảnh hưởng từ các nhà cung cấp.
c. Đối thủ cạnh tranh
Hiện nay trên thị trường có rất nhiều đối thủ cạnh tranh với vải nội ngoại thất
Phúc Duy như: Vải nội thất Sliving, Hoàng Tuấn VINA, Cỏ May… với sự cạnh tranh
rất mạnh mẽ trên thị trường. Các hãng này cũng đã và đang có những chiến lược cạnh
tranh hết sức khôn khéo về giá và sản phẩm làm gây ra rất nhiều khó khăn trong hoạt
động kinh doanh của công ty.
d. Thị hiếu, sở thích của người tiêu dùng
Thị hiếu và sở thích của người tiêu dùng là một trong những nhân tố quan trọng
quyết định khách hàng có đến với sản phẩm của công ty hay không. Một sản phẩn khi
đưa ra thị trường phải làm sao gây được ấn tượng tốt đẹp, tạo lòng tin với khách hàng
và kích cầu cho sản phẩm của mình. Đặc biệt đối với sản phẩm vải nội ngoại thất của
công ty, nó là một sản phẩm mang tính chất thời trang nên công ty cần có chiến lược
và chính sách thay đổi kiểu dáng, mẫu mã để phù hợp với nhu cầu của người tiêu
dùng.
2.3. Kết quả phân tích các dữ liệu thu thập
dân và thỏa mãn được nhu cầu sử dụng sản phẩm của khách hàng. Với những ý kiến
của khách hàng được phỏng vấn đánh giá uy tín của công ty là khá cao, tuy nhiên bên
cạnh đó vẫn có những khách hàng không đến với sản phẩm của công ty, điều đó có
nghĩa là hoạt động kinh doanh của công ty vẫn còn có những hạn chế nhất định, đó là
chất lượng phục vụ của đội ngũ nhân viên chưa thực sự tốt, địa điểm mua sản phẩm
chưa thuận tiện nhiều khách hàng.
2.3.2. Kết quả phân tích, ước lượng số liệu thứ cấp
Thông qua số liệu đã thu thập được ta tiến hành ước lượng mô hình về hàm cầu
vải nội ngoại thất của công ty TNHH nội thất Phúc Duy thông qua việc sử dụng phần
mềm Eviws theo các yếu tố đã điều tra (phụ lục 6).
Mô hình hàm cầu có dạng (như đã phân tích ở phần 2.1.3):
Q = a + bM + cP + dP
r
Nguyễn Thị Phương Liên K43F6 Khoa kinh tế
Chuyên đề tốt nghiệp Trường Đại học Thương Mại
Bảng 2.2. Ước lượng cầu về sản phẩm vải nội ngoại thất của công ty TNHH
nội thất Phúc Duy trên địa bàn Hà Nội
Các biến trong mô hình bao gồm: Lượng vải nội ngoại thất của Phúc Duy tiêu
thụ (Q), thu nhập bình quân của một hộ gia đình ở Hà Nội/tháng (M), giá của vải nội
ngoại thất Phúc Duy (P), giá của hàng hóa thay thế là vải nội ngoại thất Sliving (P
r
).
Qua bảng ước lượng ta có hàm cầu về vải nội ngoại thất của Phúc Duy ở Hà Nội như
sau:
= 1867,563 + 0,349667 - 20,10416 +32,77772
Làm tròn các hệ số ước lượng ta được hàm cầu:
= 1867,563 + 0,35 - 20,104 +32,778
Từ bảng ước lượng trên ta thấy R
2
= 0.978048 như vậy hàm cầu đã ước lượng
vải nội ngoại thất Sliving tăng 1VND, lượng cầu về sản phẩm vải nội ngoại thất Phúc
Duy sẽ tăng 32,778m vải và ngược lại.
Như vậy ta có thể thấy rằng cầu sản phẩm vải nội ngoại thất của công ty TNHH
nội thất Phúc Duy chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố trong đó yếu tố giá của đối thủ cạnh
tranh có tác động mạnh nhất tới cầu sản phẩm của công ty. Thông qua tất cả những đánh
giá, phân tích nhận xét về các nhân tố tác động đến cầu, trong chương 3 tác giả sẽ đề cập
tới một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác phân tích cầu và thúc
đẩy tiêu thụ sản phẩm tại công ty cổ phần dịch vụ thương mại và phát triển đô thị trong
giai đoạn tới.
Nguyễn Thị Phương Liên K43F6 Khoa kinh tế
Chuyên đề tốt nghiệp Trường Đại học Thương Mại
CHƯƠNG 3
MỘT SỐ GIẢI PHÁP KÍCH CẦU VÀ HOÀN THIỆN CÔNG TÁC DỰ BÁO
CẦU VỀ SẢN PHẨM VẢI NỘI NGOẠI THẤT CỦA CÔNG TY TNHH NỘI
THẤT PHÚC DUY -+TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI ĐẾN NĂM 2015
3.1. Các kết luận và phát hiện qua nghiên cứu
3.1.1. Đánh giá công tác ước lượng và dự báo cầu thị trường về sản phẩm vải nội
ngoại thất của công ty TNHH nội thất Phúc Duy tại Hà Nội giai đoạn 2009-2010
Ước lượng về cầu thị trường để có được những dự báo về cầu thị trường, từ đó
đưa ra các chiến lược chính sách phù hợp nhằm kích cầu, quan tâm hơn đến các nhu
cầu thực tế, đánh giá được mức độ phụ thuộc của cầu thị trường các nhóm sản phẩm
của công ty bao gồm những nhân tố nào. Hoạt động ước lượng và dự báo cầu thị
trường của công ty TNHH nội thất Phúc Duy thực tế đã góp phần vào sự phát triển của
công ty, tuy nhiên vẫn còn những vấn đề tồn tại đã và đang đặt ra cần phải giải quyết.
3.1.1.1. Những kết quả đạt được
Mạng lưới phân bổ các đại lý trên địa bàn Hà Nội của công ty tương đối rộng vì
vậy công ty có thể thu thập được những thông tin chính xác về ý kiến của khách hàng
đối với sản phẩm của công ty và nắm bắt được các nhu cầu, thị hiếu, tâm lý của người
tiêu dùng. Đây chính là nguồn thông tin thứ cấp, phản ánh nhanh nhạy phục vụ tốt cho
công tác nghiên cứu, ước lượng và dự báo cầu của công ty giúp công ty phân tích và
3.1.1.3. Nguyên nhân của những hạn chế
a. Nguyên nhân chủ quan
Do vốn đầu tư cho công tác ước lượng và dự báo cầu còn thiếu, cơ sở vật chất
kỹ thuật chưa thật sự đáp ứng được yêu cầu công việc nên hiệu quả chưa cao.
Trình độ nhân lực còn yếu và thiếu, chưa có chuyên môn về công tác phân tích
cầu. Công ty chưa có bộ phận nghiên cứu thị trường riêng, các công việc về nghiên
cứu thị trường đều do phòng kinh doanh đảm nhận, công việc kiêm nhiệm, chồng chéo
do đó chất lượng công việc chưa được tốt.
Công ty có rất ít hoạt động quảng cáo sản phẩm, chỉ quảng cáo vài lần trên báo
để cung cấp thông tin tới khách hàng, trong khi khách hàng biết đến sản phẩm của
công ty chủ yếu là thông qua người quen giới thiệu. Do đó lượng khách hàng mới của
công ty không nhiều, mà chủ yếu là khách hàng truyền thống đã từng mua sản phẩm
của công ty quay lại mua sản phẩm.
b. Nguyên nhân khách quan
Sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường, xuất hiện nhiều đối thủ cạnh tranh với
công ty cũng làm số lượng tiêu thụ sản phẩm của công ty không được như mong
muốn.
Các chính sách điều hành kinh tế vĩ mô của chính phủ tác động đến hoạt động
kinh doanh của công ty. Trong năm 2008, dưới áp lực của lạm phát chính phủ đã đưa
ra biện pháp thắt chặt tiền tệ làm cho chi phí trả lãi vay của công ty tăng lên, làm công
Nguyễn Thị Phương Liên K43F6 Khoa kinh tế
Chuyên đề tốt nghiệp Trường Đại học Thương Mại
ty cũng hạn chế một số chi phí dành cho công tác ước lượng và dự báo cầu của công
ty.
Hệ thống pháp luật và quy định hành chính của nước ta chưa đồng bộ cũng gây
không ít khó khăn cho công ty trong việc tiến hành các hoạt động kinh doanh.
3.1.2. Thời cơ và thách thức của công ty trong thời gian tới
3.1.2.1. Thời cơ
Sự kiện Việt Nam trở thành thành viên chính thức thứ 150 của WTO là một dấu
mốc vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam. Đây được xem là một cơ hội