việc làm cho nông dân bị thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở thành phố đà nẵng tt - Pdf 24

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình công nghiệp hóa (CNH), đô thị hóa (ĐTH) đất nước tất yếu sẽ dẫn
đến quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng một bộ phận diện tích đất nông nghiệp
sang phục vụ quá trình phát triển đô thị và các khu - cụm công nghiệp, khu kinh tế.
Vì vậy, có hàng chục vạn hộ gia đình nông nghiệp, nông thôn phải hy sinh những
quyền lợi cơ bản của mình là nhường đất - tư liệu sản xuất quan trọng nhất của
người nông dân cho các dự án để tái định cư ở những nơi ở mới, dẫn đến sẽ có hàng
triệu lao động nông nghiệp buộc phải chuyển đổi nghề do bị mất đất sản xuất. Điều
đó đã tác động đến toàn bộ hoạt động KT - XH của đối tượng dân cư phải nhường
đất để đến các khu tái định cư. Nhưng tác động lớn nhất là người nông dân rơi vào
trạng thái bị động và thiếu các điều kiện đảm bảo cuộc sống khi họ bị mất việc làm
(VL) và buộc phải chuyển đổi nghề từ sản xuất nông nghiệp sang các ngành nghề
khác. Bên cạnh đó, việc thực hiện các dự án phục vụ sự nghiệp CNH, ĐTH thời
gian qua cũng làm nảy sinh nhiều vấn đề như: Diện tích đất sản xuất nông nghiệp bị
thu hẹp, lao động nông nghiệp mất VL truyền thống và khó chuyển đổi nghề
nghiệp, cách thức đền bù giải phóng mặt bằng, ô nhiễm môi trường….Trong đó,
vấn đề tạo VL để ổn định đời sống cho người lao động sau khi bị thu hồi đất nông
nghiệp nổi lên như một hiện tượng vừa mang tính khách quan của quá trình CNH,
ĐTH, vừa mang tính đặc thù của một nước nông nghiệp như nước ta.
Đối với thành phố Đà Nẵng, từ năm 1997 đến năm 2013, để xây dựng và phát
triển, thành phố đã triển khai hơn 3000 dự án. Đồng thời với quá trình đó có gần
100 ngàn hộ gia đình phải di dời đến các khu tái định cư, hàng chục ngàn hecta đất
nông nghiệp phải chuyển đổi mục đích sử dụng, làm cho nguồn thu nhập quan trọng
nhất của người nông dân trong nông nghiệp bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Tuy rằng,
chính quyền thành phố đã có nhiều cách thức hỗ trợ các đối tượng này có thể nhanh
chóng ổn định cuộc sống, nhưng do nhiều yếu tố khách quan, chủ quan đến nay
nhiều lao động bị mất đất vẫn chưa ổn định nơi ăn, chốn ở, chưa thể tìm ra cho
mình một cách mưu sinh ổn định lâu dài. Thực tiễn sự nghiệp CNH, ĐTH thời gian
qua cho thấy, một trong các khó khăn khi tiến hành CNH, ĐTH là việc tạo công ăn,
VL cho người lao động ở các vùng bị thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp

+ Về không gian: Nghiên cứu vấn đề tạo VL cho nông dân bị thu đất hồi trong
quá trình CNH, ĐTH ở thành phố Đà Nẵng.
2
+ Về thời gian: Nghiên cứu được xác định từ năm 2001 đến 2013, các giải
pháp đề xuất đến năm 2020.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử,
- Sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử,phương pháp trừu tượng hóa khoa học để nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về
phương pháp trừu tượng hóa khoa học để nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn vềVL cho nông dân bị thu hồi đất;
VL cho nông dân bị thu hồi đất;
phương pháp thống kê, phân tích, lôgíc kết hợp với
phương pháp thống kê, phân tích, lôgíc kết hợp vớilịch sử, tổng kết, đánh giá quá trình GQVL cho nông dân bị thu hồi đất ở thành phố
lịch sử, tổng kết, đánh giá quá trình GQVL cho nông dân bị thu hồi đất ở thành phốĐà Nẵng.
Đà Nẵng.
- Sử dụng phương pháp điều tra bằng phiếu điều tra và phỏng vấn chuyên sâu 150
- Sử dụng phương pháp điều tra bằng phiếu điều tra và phỏng vấn chuyên sâu 150
- Tác giả luận án đưa ra năm quan điểm, đề xuất ba nhóm giải pháp cơ bản nhằmnâng cao hiệu quả tạo VL cho nông dân bị thu hồi đất ở thành phố Đà Nẵng.
nâng cao hiệu quả tạo VL cho nông dân bị thu hồi đất ở thành phố Đà Nẵng.
6. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, kết cấu
nội dung luận án gồm 4 chương, 10 tiết.
3
Chương 1
TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Mục tiêu của chương 1 là nghiên cứu các công trình liên quan đến đề tài nhằm xác
định những vấn đề lý luận và thực tiễn về VL cho nông dân bị thu hồi đất trong quá trình
CNH, ĐTH, từ đó chỉ ra những vấn đề cần tiếp tục được nghiên cứu.
Để đảm bảo tính kế thừa và khẳng định những đóng góp của luận án, luận án
chia các công trình nghiên cứu liên quan thành 2 nhóm vấn đề: khái quát một số
nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài và các công trình nghiên cứu liên quan
đến miền Trung và thành phố Đà Nẵng.
Trên cơ sở kế thừa và tiếp thu kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước,
việc bổ sung vào khoảng trống các vấn đề nghiên cứu còn bỏ ngỏ để hoàn thiện thêm
những vấn đề lý luận và thực tiễn về VL cho nông dân bị thu hồi đất trong quá trình
CNH, ĐTH. Trong đó, nghiên cứu mới cần lấp được "khoảng trống” sau:
Thứ nhất, cơ sở khoa học về phương thức tạo VL cho nông dân bị thu hồi
đất trong quá trình CNH, ĐTH. Hệ thống hóa những tác động của CNH, ĐTH tới
VL của nông dân bị thu hồi đất.
Thứ hai, mô tả và phân tích các vấn đề về thực trạng VL, tạo VL của nông
dân bị thu hồi đất. Những thuận lợi, khó khăn của quá trình chuyển đổi mục đích sử
dụng đất đến phát triển KT - XH, VL, thu nhập và đời sống của nông dân ở thành
phố Đà Nẵng hiện nay.

Kế thừa có chọn lọc các lý thuyết tạo VL, luận án cho rằng: tạo việc làm không
đơn thuần là sự kết hợp giữa tư liệu sản xuất với sức lao động, mà nó còn bao gồm
cả yếu tố Nhà nước thông qua các chính sách và những yếu tố xã hội. Muốn sự kết
hợp đó diễn ra và không ngừng phát triển phải tạo ra được sự phù hợp cả về số
lượng, chất lượng sức lao động với tư liệu sản xuất, trong môi trường kinh tế, chính
trị, xã hội thuận lợi, đảm bảo cho hoạt động đó diễn ra. Nói cách khác, tạo việc làm
bao gồm những vấn đề liên quan đến việc phát triển và sử dụng có hiệu quả các
nguồn lực (lao động, vốn, khoa học công nghệ, tài nguyên thiên nhiên và quản lý).
5
Tạo việc làm chính là tạo ra các cơ hội để người lao động, trong đó có đối
tượng là nông dân bị thu hồi đất (thiếu hoặc không có tư liệu sản xuất chủ yếu - đất
đai), có việc làm và tăng thu nhập, phù hợp với lợi ích của bản thân người lao
động, gia đình, cộng đồng và xã hội.
2.1.1.3. Quan niệm của tác giả Luận án về việc làm cho nông dân bị thu hồi đất
Từ những phân tích các lý thuyết, quan niệm về VL, tạo VL, trên cơ sở thực
tiễn phát triển KT - XH của Việt Nam và thành phố Đà Nẵng thời kỳ đẩy mạnh
CNH, HĐH và tích cực, chủ động hội nhập quốc tế hiện nay, luận án cho rằng: Việc
làm cho nông dân bị thu hồi đất, là hoạt động lao động của người nông dân trong
độ tuổi lao động, là sự kết hợp giữa sức lao động với tư liệu sản xuất theo những
điều kiện phù hợp nhất định, nhằm tạo ra sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, đáp ứng
lợi ích của người nông dân, cộng đồng và xã hội. Hoạt động lao động đó không bị
luật pháp Việt Nam ngăn cấm.
2.1.2. Tác động của thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị
hóa đến việc làm của nông dân
2.1.2.1. Tác động tích cực
- Tạo sức ép mạnh mẽ trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH
- Góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động, thay đổi cơ cấu việc làm
- Thúc đẩy khả năng tự tạo VL và tìm kiếm VL đối với người lao động, đặc biệt,
đối tượng là nông dân bị thu hồi đất.
- Tạo cơ hội chuyển đổi việc làm cho người lao động nông nghiệp, đặc biệt là

- Phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền địa phương với các doanh nghiệp – chủ
đầu tư sử dụng đất thu hồi trong việc đào tạo và bố trí VL cho nông dân bị thu hồi
đất vào làm việc trong các doanh nghiệp này.
- Tuyên truyền, vận động, giúp đỡ người nông dân bị thu hồi đất chủ động tìm
kiếm và lựa chọn nghề nghiệp và VL mới phù hợp với bản thân.
- Các tổ chức chính trị xã hội cũng có vai trò quan trọng trong tạo VL cho
nông dân bị thu hồi đất.
2.2. Phương thức tạo việc làm và các nhân tố ảnh hưởng đến tạo việc làm
của nông dân bị thu hồi đất
2.2.1. Phương thức tạo việc làm cho nông dân bị thu hồi đất
7
2.2.1.1. Tạo việc làm thông qua các chương trình mục tiêu quốc gia
2.2.1.2. Tạo việc làm thông qua các trung tâm giới thiệu việc làm và cơ sở
dạy nghề
2.2.1.3. Tạo việc làm thông qua phát triển làng nghề truyền thống và các
doanh nghiệp nhỏ và vừa
2.2.1.4. Tạo việc làm thông qua xuất khẩu lao động
2.2.1.5. Tạo việc làm thông qua các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội
2.2.1.6. Tự tạo việc làm thông qua thị trường sức lao động
2.2.2. Những nhân tố ảnh hưởng đến tạo việc làm của nông dân bị thu hồi đất
2.2.2.1. Vốn đầu tư và sự phát triển của khoa học - công nghệ
Tăng hay giảm vốn đầu tư vào phát triển các ngành sử dụng khoa học - công
nghệ cao, trung bình hay thấp đều có tác động đến tạo VL cho người lao động. Nếu
tăng vốn đầu tư vào phát triển các ngành sử dụng khoa học - công nghệ thấp thì cơ
hội có VL cho nông dân sau thu hồi đất sẽ tăng lên; nếu tăng vốn đầu tư phát triển các
ngành sử dụng khoa học - công nghệ cao thì cơ hội có VL cho nông dân sau thu hồi
đất gần như không có, nếu xét trong thời gian ngắn hạn.
2.2.2.2. Trình độ của người lao động
Nếu chất lượng lao động tốt thì khả năng tạo VL cho người lao động sẽ thuận
lợi; ngược lại, chất lượng lao động thấp sẽ gây khó khăn cho người lao động trong

ăn VL của người lao động, khả năng chuyển đổi nghề, tự tạo VL
2.3. Kinh nghiệm của một số địa phương về tạo việc làm cho nông dân bị
thu hồi đất
2.3.1. Kinh nghiệm của một số tỉnh trong nước
2.3.1.1. Kinh nghiệm của tỉnh Đồng Nai
Thứ nhất, tập trung các nguồn lực có thể để nhanh chóng ổn định đời sống của
người dân trong diện di dời, thu hồi đất cho phát triển công nghiệp hóa, đô thị hóa.
Thứ hai, ưu tiên giải quyết việc làm cho những lao động bị thu hồi đất.
Thứ ba, thường xuyên hướng dẫn các cách thức, biện pháp tạo việc làm cho người
lao động, để bản thân họ có thể tự tạo việc làm cho mình và cho người khác.
Thứ tư, kêu gọi và khuyến khích các doanh nghiệp ưu tiên tuyển dụng lao động bị
thu hồi đất cho phát triển công nghiệp, đô thị.
9
2.3.1.2. Kinh nghiệm của tỉnh Thái Bình
Thứ nhất, đẩy mạnh phát triển các ngành nghề truyền thống để thu hút lao động dôi
dư từ nông nghiệp.
Thứ hai, chủ động xây dựng các phương án đào tạo nghề để mở rộng công tác
đào tạo, chuyển đổi nghề cho người lao động, tạo điều kiện cho lao động sau khi bị
thu hồi đất có thể tiếp cận các việc làm mới.
Thứ ba, đa dạng hóa và lồng ghép các chương trình, dự án hỗ trợ GQVL.
Thứ tư, thường xuyên tổ chức, vận động người lao động chủ động tìm kiếm
các biện pháp tự tạo việc làm.
2.3.1.3. Kinh nghiệm của tỉnh Vĩnh Phúc
Thứ nhất, đào tạo nghề cho người lao động sau thu hồi đất nông nghiệp.
Thứ hai, tỉnh yêu cầu các doanh nghiệp có dự án đầu tư phải bố trí cho lao
động thuộc diện thu hồi đất nông nghiệp vào làm việc trong các doanh nghiệp.
Thứ ba, xuất khẩu lao động được xem là một trong những giải pháp quan trọng
để giải quyết việc làm cho người lao động nói chung và người lao động bị thu hồi
đất nông nghiệp nói riêng.
Thứ tư, tạo việc làm cho lao động lớn tuổi thông qua phát triển dịch vụ ngay

ngành, các cấp đã triển khai thực hiện các dự án quy hoạch sử dụng đất góp phần tích
cực vào việc phát triển KT - XH. Đặc biệt quy hoạch tổng thể phát triển KT - XH
thành phố Đà Nẵng đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại quyết
định số 1866/QĐ-TTg ngày 08/10/2010.
3.1.1.2. Tình hình thu hồi đất
Từ năm 1997 đến 2010, thành phố Đà Nẵng đã thực hiện thu hồi đất với tổng
diện tích 11.488 ha; tổng số tiền chi cho đền bù, giải tỏa các khu dân cư khoảng 5.000
tỷ đồng; tổng số hộ thuộc diện giải tỏa, đền bù hơn 82.000 hộ. Trong đó, số hộ giải
tỏa thu hồi đi khỏi nơi đang cư trú là 41.282 hộ, số hộ giải tỏa thu hồi một phần là
21.125 hộ, số hộ giải tỏa thuộc diện đất nông nghiệp, lâm nghiệp là 20.333 hộ, với số
lượng hộ giải tỏa lớn nhưng số trường hợp bị cưỡng chế rất ít (hơn 100 hộ)
Trong 3 năm (2011 - 2013) thành phố Đà Nẵng đã thu hồi 3.924,06 ha đất
nông nghiệp, dẫn đến 25.725 lao động bị mất việc làm và đã tác động đến đời sống
nhân dân trong khu vực bị thu hồi đất nông nghiệp.
11
3.1.2. Ảnh hưởng của thu hồi đất nông nghiệp trong quá trình công
nghiệp hóa, đô thị hóa ở Đà Nẵng đến việc làm của nông dân
3.1.2.1. Tình hình việc làm của nông dân bị thu hồi đất
Nghiên cứu ảnh hưởng của thu hồi đất đến VL và tạo VL ở Đà Nẵng, qua lựa
chọn ngẫu nhiên 250 hộ gia đình trong số những hộ bị thu hồi đất sản xuất nông
nghiệp tại 5 quận (Thanh Khê, Liên Chiểu, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn, Cẩm Lệ) với 5
phường tiêu biểu gồm 10 tổ dân phố, cho thấy:
Trình độ chuyên môn của những người bị thu hồi đất, kết quả điều tra thu
được với mức độ khá thấp: số người không có trình độ chuyên môn là 84,5 %, số
người có trình độ đại học, cao đẳng và trung cấp chỉ có 13,42%, trình độ khác là
2,08%. Với trình độ chuyên môn nói trên, cơ hội tự tìm VL sau khi bị thu hồi đất là
rất khó khăn và hỗ trợ nâng cao trình độ cho họ là việc làm cần thiết.
Tình trạng VL của những người trước khi bị thu hồi, kết quả điều tra cho thấy:
21,6% số người trong độ tuổi lao động, không đi học và không có VL; 52,1% số
người lao động có VL bấp bênh và 26,2% có VL ổn định. Như vậy, số người trong độ

GQVL thành phố đang quản lý, điều hành là 79,508 tỷ đồng, trong đó có 30,400 tỷ
đồng từ ngân sách thành phố uỷ thác Ngân hàng Chính sách Xã hội cho vay đối với
đối tượng thuộc diện thu hồi đất sản xuất, di dời, giải toả.
Sở LĐTBXH phối hợp với UBND các quận, huyện tổ chức điều tra, khảo sát
nhu cầu học nghề của lao động các hộ gia đình thuộc diện di dời, giải tỏa, thu hồi đất
sản xuất, với tổng số phiếu điều tra là 10.000 phiếu. Kết quả khảo sát: Số người trong
độ tuổi lao động, có khả năng lao động: 26.147 người, số người có nhu cầu học nghề:
6.090 người (trong đó, dạy nghề dưới 3 tháng: 1.733 người, sơ cấp nghề: 2.899 người,
trung cấp nghề: 754 người, cao đẳng nghề: 704 người).
3.2.2. Tạo việc làm thông qua các trung tâm giới thiệu việc làm và cơ sở
dạy nghề
Qua 04 năm 2010-2013, đã tuyển sinh đào tạo nghề cho 7.764 lao động nông
thôn, lao động di dời, giải tỏa, thu hồi đất sản xuất và lao động đặc thù khác, trong đó
có 1.396 lao động thuộc diện di dời, giải tỏa, thu hồi đất sản xuất, với tổng kinh phí
đào tạo là 9,535 tỷ đồng, trong đó kinh phí đào tạo cho lao động bị thu hồi đất sản
xuất là 1,773 tỷ đồng. Trong tổng số 1.396 lao động đào tạo nghề, thì tỷ lệ lao động
13
nữ tham gia học nghề chiếm 67,19%, lao động dưới 40 tuổi chiếm 71,06%. Các
ngành nghề đào tạo, gồm có 20 ngành nghề, nhưng chủ yếu tập trung các ngành nghề
phục vụ cho phát triển du lịch của thành phố như nấu ăn, buồng - bàn - bar, lễ tân,
điện dân dụng, trồng và chế biến nấm ăn, Với trình độ và tay nghề của người lao
động, sau khi kết thúc khóa đào tạo, số lao động được GQVL trung bình qua các năm
chiếm tỷ lệ trên 80% (trong đó, tỷ lệ lao động tự tạo VL chiếm 81,50% và 18,50% là
lao động được các DN tuyển dụng).
3.2.3. Tạo việc làm thông qua phát triển làng nghề truyền thống và các
doanh nghiệp
Việc khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống, không chỉ làm sống lại
một số ngành nghề đã có từ lâu đời ở các địa phương, khai thác được tay nghề của
các nghệ nhân, mà còn tạo điều kiện để sử dụng có hiệu quả lao động, nguyên vật liệu
sẵn có ở nông thôn để tạo ra các sản phẩm cho tiêu dùng và xuất khẩu. Đây là hướng

đó có 17 phiên tổ chức tại các vùng nông thôn; vùng di dời, giải toả; các trường Đại
học, Cao đẳng trên địa bàn. Tổng lượt đơn vị đăng ký tuyển dụng qua Chợ việc làm
gần 8.446 lượt, trong đó trực tiếp phỏng vấn, sơ tuyển tại các phiên giao dịch việc
làm 3.235 đơn vị, có gần 164.846 lao động tham gia.
3.3. Đánh giá chung về tạo việc làm cho nông dân bị thu hồi đất trong quá
trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở thành phố Đà Nẵng thời gian qua
3.3.1. Thành tựu và nguyên nhân
3.3.1.1. Thành tựu về tạo việc làm cho nông dân bị thu hồi đất
3.3.1.1. Thành tựu về tạo việc làm cho nông dân bị thu hồi đất
Kinh tế thành phố liên tục đạt tốc độ tăng trưởng khá, GDP bình quân trong giai
đoạn 2003-2013 đạt 11,5%/năm. Năm 2013, có 10.507 DN, hợp tác xã thuộc các thành
phần kinh tế đang hoạt động tại thành phố thu hút 301.711 lao động làm việc. Qua 3 năm
(2011 - 6/2013) đã GQVL cho 74.550 lao động, bình quân hàng năm GQVL cho gần
30.000 lao động. Tỷ lệ thất nghiệp có xu hướng giảm, năm 2011 tỉ lệ thất nghiệp khu vực
thành thị 4,67%, đến 6/2013 còn 4,5%, giảm so với năm 2011 là 0,17%. Cơ cấu lao động
chuyển dịch theo hướng tăng lao động trong các ngành thương mại, dịch vụ từ 57,6%
năm 2011 lên 57,71% năm 2013, giảm lao động các ngành công nghiệp, xây dựng từ
33% năm 2011 xuống 32,80% và ngành nông, lâm, ngư nghiệp từ 9,6% năm 2011
xuống còn 9,47% tháng 6 năm 2013.
15
3.3.1.2. Nguyên nhân từ ban hành và thực hiện chủ trương, chính sách
3.3.1.2. Nguyên nhân từ ban hành và thực hiện chủ trương, chính sách
Trên cơ sở Quy hoạch tổng thể phát triển KT - XH thành phố Đà Nẵng đến
năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, thành phố đã có nỗ lực lớn trong
việc quy hoạch đô thị, phát triển kết cấu hạ tầng theo hướng công nghiệp, văn minh,
hiện đại. Trong giai đoạn 2003-2012, đã rà soát, điều chỉnh, phê duyệt hơn 3.373 đồ
án quy hoạch; hoàn thành điều chỉnh Quy hoạch chung (kể cả phát triển không gian
đô thị thành phố) đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Quy hoạch chi tiết 1/500
được phủ kín tại hầu hết các khu vực trọng điểm.
Thành phố đã ban hành rất nhiều chính sách liên quan đến VL và tạo VL cho

- Sự chuẩn bị của các quận, huyện trong thành phố và người dân trong tạo VL
sau thu hồi đất chưa thực sự thống nhất, gây khó khăn cho người dân, nhất là người
dân nông thôn trong việc ổn định cuộc sống.
3.3.2.2. Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém
- Bất cập trong ban hành, thực hiện chủ trương, chính sách của nhà nước trong
giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất
- Bất cập trong công tác đào tạo, chuyển đổi nghề cho nông dân bị thu hồi đất
(chương trình đào tạo, đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất)
- Những vấn đề vướng mắc của địa phương
- Những vấn đề của chính bản thân người dân bị thu hồi đất
- Những vấn đề của các doanh nghiệp đối với tạo việc làm cho nông dân bị thu
hồi đất còn hạn chế
17
Chương 4
GIẢI PHÁP VỀ TẠO VIỆC LÀM CHO NÔNG DÂN BỊ THU HỒI ĐẤT
TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, ĐÔ THỊ HÓA
Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Mục tiêu của chương 4 là trên cơ sở những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân
mà luận án nêu ra, dựa vào dự báo nhu cầu thu hồi đất và tạo VL của nông dân có
đất bị thu hồi. Luận án đã nêu ra các quan điểm, đề xuất các giải pháp chủ yếu
nhằm nâng cao hiệu quả tạo VL cho nông dân bị thu hồi đất.
4.1. Dự báo nhu cầu thu hồi đất và quan điểm về tạo việc làm cho nông
dân bị thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa
4.1.1. Dự báo nhu cầu thu hồi đất và yêu cầu tạo việc làm của nông dân
có đất bị thu hồi tại thành phố Đà Nẵng đến năm 2020
4.1.1.1. Dự báo nhu cầu thu hồi đất
Thực hiện Nghị quyết 105/NQ-CP ngày 12 tháng 9 năm 2013 của Chính phủ
về quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu
(2011-2015) của thành phố Đà Nẵng. Diện tích đất nông nghiệp trong giai đoạn
2011- 2020 của thành phố Đà Nẵng cần phải chuyển mục đích sử dụng là 6.502 ha,

Thứ năm, trong điều kiện hội nhập kinh tế hiện nay, phải phát huy mọi tiềm
năng có được, khai thác tối đa các tiềm năng về vốn, kỹ thuật và kinh nghiệm làm ăn
của dân, đồng thời tranh thủ và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư trong và
ngoài nước vào các chương trình, dự án có mục tiêu
4.2. Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả tạo việc làm cho
nông dân bị thu hồi đất
4.2.1. Nhóm giải pháp về ban hành, thực hiện chủ trương, chính sách
của Nhà nước
4.2.1.1. Tiến hành rà soát, điều chỉnh, hoàn thiện hệ thống quy hoạch, kế
hoạch vùng đất nông nghiệp, đất đô thị cần thiết phải giải tỏa, thu hồi
Chính quyền thành phố Đà Nẵng cần tiến hành rà soát lại các quy hoạch đã
và đang thực hiện, để xác định lại việc quy hoạch giải tỏa đó đã phù hợp với yêu
19
cầu phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong giai đoạn hiện nay chưa, nhằm
khắc phục tình trạng quy hoạch treo. Điều này, đòi hỏi phải lựa chọn các phương án
quy hoạch tối ưu trong quy hoạch sử dụng đất.
4.2.1.2. Thực hiện chính sách việc làm của người có đất thu hồi và giải quyết tốt
công tác tái định cư nhằm “an cư lạc nghiệp” cho nông dân bị thu hồi đất
Cần xem chính sách VL cho lao động bị thu hồi đất là một chính sách xã hội
quan trọng nhất trong quá trình giải tỏa, đền bù đất nông nghiệp để phục vụ các
công trình công nghiệp và đô thị. Chính sách đó phải được tập trung vào việc tiến
hành những biện pháp có thể tạo ra những điều kiện để sử dụng đầy đủ nhất tiềm
năng hoạt động lao động và khả năng hoạt động sản xuất kinh doanh của dân cư,
khắc phục sự giảm sút về mức sống của một bộ phận dân cư thiếu may mắn, khuyến
khích hành vi sản xuất của cá nhân trong môi trường cạnh tranh trên thị trường.
4.2.1.3. Hoàn thiện cơ chế giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất
- Chính quyền địa phương thực hiện cơ chế giám sát các DN, các KCN đã sử
dụng đất của nông dân trên địa bàn trên cơ sở thực hiện cam kết của các đối tác nói
trên trong việc giải quyết việc làm cho người lao động.
- Cần có cơ chế hỗ trợ nông dân tận dụng quỹ đất nông nghiệp còn lại chuyển

cao đẳng nghề chiếm khoảng 50%, phấn đấu 95% số người qua đào tạo nghề có
việc làm sau tốt nghiệp.
4.2.2.2. Không ngừng nâng cao chất lượng và đa dạng hóa các hình thức,
cách thức đào tạo nghề cho nông dân bị thu hồi đất
Cần có nhận thức đúng về vị trí, tầm quan trọng của đào tạo nghề đối với lao
động bị thu hồi đất, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của đối tượng này là một
trong những nhân tố quyết định đối với sự nghiệp phát triển KT - XH, hội nhập kinh
tế quốc tế và lập thân, lập nghiệp đối với người lao động.
4.2.2.3. Tăng cường giáo dục tính chủ động về tự tạo và tìm kiếm việc làm,
tránh tư tưởng ỷ lại của nông dân vào các cấp chính quyền
Các cấp chính quyền, các tổ chức đoàn thể thường xuyên vận động, giáo dục
nông dân bị thu hồi đất thấy được sự đúng đắn trong các chủ trương, chính sách
phát triển công nghiệp, đô thị là đem lại sự ấm no, hạnh phúc và phát triển cho đất
21
nước nói chung, trong đó có bản thân người lao động. Phải làm sao để: “Đảng nói -
dân tin; Mặt trận, đoàn thể vận động - dân theo; Chính quyền làm - dân ủng hộ”.
4.2.3. Nhóm giải pháp đối với doanh nghiệp sử dụng đất thu hồi
4.2.3.1. Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển nhanh, bền vững,
nhằm tạo nguồn cầu về việc làm cho nông dân bị thu hồi đất
Thứ nhất, khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển sản xuất.
Thứ hai, đẩy mạnh việc cải cách các thủ tục hành chính.
Thứ ba, hoàn thiện các chính sách kinh tế.
Thứ tư, tăng cường công tác quản lý các doanh nghiệp sau khi cấp giấy phép
đăng ký kinh doanh.
Thứ năm, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp.
Thứ sáu, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
4.2.3.2. Tăng cường trách nhiệm của các doanh nghiệp hoạt động sản xuất,
kinh doanh sử dụng đất thu hồi trong việc giải quyết việc làm cho nông dân bị
thu hồi đất
- Trách nhiệm trong thu hút lao động tại địa phương - nơi doanh nghiệp sử

xã hội. Muốn sự kết hợp đó diễn ra và không ngừng phát triển phải tạo ra được sự
phù hợp cả về số lượng, chất lượng sức lao động với tư liệu sản xuất, trong môi
trường kinh tế, chính trị, xã hội thuận lợi, đảm bảo cho hoạt động đó diễn ra. Nói
cách khác, tạo VL bao gồm những vấn đề liên quan đến việc phát triển và sử dụng
có hiệu quả các nguồn lực (lao động, vốn, khoa học công nghệ, tài nguyên thiên
nhiên và quản lý). Tạo VL chính là tạo ra các cơ hội để người lao động, trong đó có
23
đối tượng là nông dân bị thu hồi đất (thiếu hoặc không có tư liệu sản xuất chủ yếu -
đất đai) có VL và tăng thu nhập, phù hợp với lợi ích của bản thân người lao động,
gia đình, cộng đồng và xã hội.
Dựa trên những vấn đề lý luận và thực tiễn về VL cho nông dân bị thu hồi đất
ở Đà Nẵng, luận án đã đi sâu phân tích các khía cạnh ảnh hưởng đến hiện trạng việc
làm của nông dân bị thu hồi đất, qua đó, để tạo VL cho họ đòi hỏi phải thực hiện
nhiều phương thức, biện pháp và phải có sự linh hoạt trong phối hợp, đan xen các
phương thức, biện pháp đó một cách nhuần nhuyễn. Những kết quả đạt được về tạo
VL trong thời gian qua chưa đáp ứng nhu cầu thực tế của người nông dân bị thu hồi
đất, tính thiếu bền vững trong các biện pháp tạo VL đang là một khó khăn có thể
cản trở quá trình phát triển CNH, ĐTH thành phố.
Những thành công và hạn chế, tồn tại được luận án rút ra tuy chưa phản ánh
một cách đầy đủ nhất tình trạng VL của nông dân bị thu hồi đất ở thành phố Đà
Nẵng, nhưng nó cũng đã phân tích được một cách khái quát và tương đối toàn diện
bức tranh VL và tình hình tạo VL cho họ. Trên cơ sở đó, luận án luận giải, minh
chứng và đề xuất thực hiện đồng bộ ba nhóm giải pháp tạo VL cho nông dân bị thu
hồi đất trong quá trình CNH, ĐTH của thành phố Đà Nẵng.
Với những gì luận án đã thể hiện, mặc dù đã có rất nhiều cố gắng, nhưng
chắc rằng, sẽ khó tránh khỏi những thiếu sót, tác giả rất mong có được sự góp ý của
các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học, để công trình được hoàn thiện hơn.
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status