Khoa quản trị kinh doanh Chuyên đề thực tập tốt
nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, chất lượng đã trở thành công cụ cạnh tranh chủ yếu của các
doanh nghiệp trên thế giới. Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế ấy. Không
ngừng nõng cao chất lượng toàn diện của sản phẩm không những đem lại lợi ích
cho xã hội và doanh nghiệp kinh doanh, mà nó còn tăng khả năng hoà nhập và
tăng sức cạnh tranh của sản phẩm Việt Nam trên thị trường khu vực và thế giới.
Việc đảm bảo, cải tiến chất lượng và tăng cường đổi mới quản lý chất lượng
ngày càng chiếm được sự quan tõm và được thực hiện rộng rói trong các doanh
nghiệp ở mọi lĩnh vực sản xuất, dịch vụ. Vấn đề đảm bảo và cải tiến chất lượng
đã trở thành vấn đề sống cũn của mỗi doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh
gay gắt hiện nay. Đó cũng là vấn đề đặt ra cho Công ty cổ phần bánh kẹo Hải
Chõu.
Công ty CP bánh kẹo Hải Châu-DNNN thuộc Tổng công ty Mớa đường I-
Bộ NN&PTNT- là một trong những công ty sản xuất bánh kẹo lõu năm và có uy
tín trên thị trường, song hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty hiện nay
đang gặp một số khó khăn, một trong những nguyên nhõn là do hoạt động kiểm
soát và cải tiến chất lượng sản phẩm của Công ty chưa thực sự hữu hiệu.
Các công cụ thống kê được coi là những phương tiện sắc bén nhất nhằm
kiểm soát và cải tiến chất lượng một cách khoa học và hiệu quả. Vì vậy, để nõng
cao hiệu quả hoạt động kiểm soát và cải tiến chất lượng sản phẩm của Công ty,
tôi xin đề xuất sử dụng một số công cụ thống kê chất lượng trong chuyên đề
thực tập với đề tài “Áp dụng công cụ thống kê nhằm kiểm soát và cải tiến chất
lượng tại công ty CP bánh kẹo Hải Châu”.
Nội dung chuyên đề gồm các phần:
Phần I-Giới thiệu tổng quan về công ty CP bánh kẹo Hải Châu
Phần II-Thực trạng hoạt động kiểm soát và cải tiến chất lượng tại công ty.
Phần III-Áp dụng công cụ thống kê nhằm kiểm soát và cải tiến chất lượng
tại công ty.
Lê Phương Anh – Lớp Quản trị chất lượng 44
viên hạch toán độc lập của Tổng công ty Mớa đường I-Bộ NN&PTNT. Công ty
được thành lập ngày 2/9/1965 theo quyết định số 1335 NN-TCCB/QĐ ngày
29/4/1994 của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT về việc đổi tên và bổ sung nhiệm vụ
cho công ty.
Căn cứ quyết định số 3656/QĐ-BNN-TCBB ngày 22/10/2004 của Bộ
trưởng Bộ NN&PTNT về việc chuyển doanh nghiệp thành Công ty cổ phần,
ngày 30/12/2004, Công ty tổ chức Đại hội đồng cổ đông sáng lập, thống nhất
đổi tên Công ty bánh kẹo Hải Chõu thành Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Chõu.
Lĩnh vực hoạt động chính của Công ty là sản xuất, kinh doanh, xuất nhập
khẩu các ngành hàng thuộc lĩnh vực thực phẩm như bánh, kẹo, bột canh
Các sản phẩm chủ yếu gồm: Bánh quy, bánh kem xốp, kẹo, bột canh, bánh
mềm, sụcụla.
1.1.2- Quá trình hình thành và phát triển của Công ty:
Lê Phương Anh – Lớp Quản trị chất lượng 44
Khoa quản trị kinh doanh Chuyên đề thực tập tốt
nghiệp
1.1.2.1-Thời kỳ đầu thành lập công ty (1965-1975):
Nhà máy Hải Chõu ra đời khởi đầu bằng sự kiện ngày 16/11/1964, Bộ
trưởng Bộ Công nghiệp nhẹ ra quyết định số 305/QĐBT, tách Ban kiến thiết cơ
bản ra khỏi Công ty Miến Hoàng Mai, thành lập Ban kiến thiết và chuẩn bị sản
xuất. Dưới sự hướng dẫn của các chuyên gia Trung Quốc từ Thượng Hải và
Quảng Chõu sang, bộ phận kiến thiết và chuẩn bị sản xuất khẩn trương vừa xõy
dựng, vừa lắp đặt thiết bị cho một phõn xưởng mỳ sợi.
Tháng 3/1965, ngay đợt đầu tiên nhà máy đã tuyển 116 công nhõn cho
phõn xưởng mỳ sợi, 95 công nhõn cho phõn xưởng kẹo. Cũng tháng 3/1965, Bộ
đã cử 17 cán bộ trung cấp sang Trung Quốc để học quy trình công nghệ sản xuất
mỳ sợi, bánh kẹo và chế biến thực phẩm.
Ngày 2/9/1965, xưởng kẹo đã có sản phẩm xuất xưởng bán ra thị trường.
Bộ công nghiệp nhẹ thay mặt Nhà nước chớnh thức cắt băng khánh thành nhà
máy Hải Chõu.
Công ty đẩy mạnh sản xuất đi sâu vào các mặt hàng truyền thống (bánh
,kẹo, bột canh ), mua sắm thêm thiết bị mới, thay đổi mẫu mã mặt hàng, nâng
cao chất lượng sản phẩm cho phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng
Năm 1993 công ty đầu tư một dây chuyền sản xuất bánh kem xốp của
CHLB Đức với công suất 1 tấn / ca. Đây là dây chuyền sản xuất bánh kẹo có thể
nói là hiện đại nhất ở Việt Nam trong thời kỳ này.
Năm 1994 công ty đầu tư dây chuyền phủ sụcụla của CHLB Đức với công
suất 500kg/ca.
Dây chuyền có thể phủ sụcụla cho các sản phẩm bánh như bánh kem xốp,
bánh quy.
Năm 1996 công ty mở rộng liên doanh với Bỉ thành lập một công ty liên
doanh sản xuất sụcụla. Sản phẩm này chủ yếu để xuất khẩu(70%).
Năm 1996 công ty lắp đặt thêm 2 dây chuyền sản xuất kẹo của CHLB Đức:
Dây chuyền sản xuất kẹo cứng công suất 2400kg/1ca và dõy chuyền sản xuất
kẹo mềm công suất 1200kg/1 ca.
Lê Phương Anh – Lớp Quản trị chất lượng 44
Khoa quản trị kinh doanh Chuyên đề thực tập tốt
nghiệp
Năm 1998 công ty đầu tư mở rộng dây chuyền sản xuất bánh quy Hải Châu
công suất thiết kế 4 tấn/1 ca.
Năm 2001 công ty tiếp tục đầu tư mở rộng dây chuyền sản xuất bánh kem
xốp (CHLB Đức) với công suất thiết kế 1,6 tấn/1 ca và một dây chuyền sản xuất
sụcụla cú năng suất rút khuụn 200kg/giờ
Năm 2003 công ty đầu tư mới dây chuyền sản xuất bánh mềm(Hà Lan),
công suất thiết kế 375kg/giờ. Đây là dây chuyền hiện đại tự động hoá hoàn toàn.
Từ ngày1/1/2005, công ty bánh kẹo Hải Châu đã chính thức cổ phần hóa,
chuyển từ doanh nghiệp nhà nước sang công ty cổ phần, thực hiên chế độ hạch
toán kinh tế độc lập, tự chủ về tài chính , có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài
khoản riêng tại ngân hàng công thương Việt Nam, ngân hàng đầu tư và phát
triển Việt Nam.
+ Cấp phân xưởng: Quản đốc.
Mô hình tổ chức mà công ty đang áp dụng vừa đảm bảo tính tập trung, vừa
đảm bảo tính dân chủ. Nó tận dụng được ưu điểm và khắc phục những nhược
điểm của cơ cấu trực tuyến và cơ cấu chức năng. Theo đó, mỗi phòng, ban chức
năng tập trung chuyờn sõu vào một lĩnh vực hoạt động của công ty, giúp giải
quyết các vấn đề chuyên môn thành thạo hơn, đồng thời giúp thủ trưởng có thể
có thể nắm bắt kịp thời và chính xác tình hình hoạt động của công ty, từ đó đưa
ra những quyết định nhanh chóng và đúng đắn nhằm đem lại lợi ích cho công ty.
Nhờ có mô hình tổ chức bộ máy quản trị hợp lý, các hoạt động quản lý của công
ty luôn nhịp nhàng, ăn khớp với nhau, khụng gõy chồng chéo, lãng phí, đồng
thời đem lại hiệu quả cao.
Bộ phận sản xuất của công ty gồm 4 xí nghiệp, mỗi xí nghiệp gồm một số
dõy chuyền sản xuất,chịu sự quản lý của giám đốc và phó giám đốc xí nghiệp.
Bốn xí nghiệp này gồm 6 phân xưởng sản xuất chính: PX bánh I, PX bánh II,
PX bánh III, PX bánh mềm, PX kẹo, PX bột canh và PX phục vụ, thuộc sự quản
lý của mỗi xí nghiệp và một phân xưởng phục vụ sản xuất.
Mô hình cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty Hải Châu được trình
bày trong hình 1.1.
Lê Phương Anh – Lớp Quản trị chất lượng 44
Khoa quản trị kinh doanh Chuyên đề thực tập tốt
nghiệp
Hình 1.1 – Sơ đồ bộ máy quản lý Công ty cổ phần Bánh kẹo Hải Châu.
1.2.1.2 – Chức năng, nhiệm vụ cỏc phũng ban:
Hội đồng quản trị:
Điều hành mọi hoạt động của công ty, ra các quyết định quản trị, thống
nhất hoạch định các chiến lược kinh doanh cũng như chiến lược phát triển của
công ty.
Tổng giám đốc:
Tổng Giám đốc Công ty do Hội đồng quản trị bổ nhiệm, chịu trách nhiệm
trước Hội đồng Quản trị về hoạt động của Công ty.
nghiệp
Tổng giám đốc có quyền quyết định cao nhất về mọi mặt hoạt động của
Công ty, có quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức. Riêng đối với các chức
danh quản lý là cấp trưởng phải thông qua và được sự nhất trí của Hội đồng
Quản trị.
Phó tổng giám đốc kinh doanh:
Quản lý, chỉ đạo điều hành hoạt động tiêu thụ sản phẩm, xây dựng và phát
triển thị trường của Công ty trên địa bàn cả nước.
Phó Tổng giám đốc Kỹ thuật- Sản xuất:
Chỉ đạo, điều hành các công tác kỹ thuật, công tác công nghệ sản xuất,
công tác quản lý thiết bị, công tác ATVS thực phẩm, vệ sinh môi trường, phòng
chống cháy nổ và ATVS lao động, công tác quản lý chất lượng sản phẩm,
nghiên cứu khoa học phát triển sản phẩm mới, công tác xây dựng, ứng dụng
chương trình quản lý chất lượng ISO 9001-2000 trong Công ty.
Chỉ đạo công tác sáng kiến, cải tiến kỹ thuật & công tác quản lý thương
hiệu. bản quyền, kiểu dáng công nghiệp.
Là người thay mặt tổng giám đốc điều hành công tác về kế hoạch sản xuất
đảm bảo đúng, đủ sản phẩm mà thị trường có nhu cầu.
Phòng kỹ thuật:
Quản lý về quy trình công nghệ, nghiên cứu sản phẩm mới. thiết kế hoặc
cải tiến mẫu mã bao bì. Đồng thời quản lý toàn bộ máy móc thiết bị của Công
ty, quản lý hồ sơ, lí lịch máy móc thiết bị, liên hệ với phòng KHVT để có những
phụ tùng, vật tư dùng cho hoạt động sửa chữa, trình ban giám đốc và phòng
KHVT chuẩn bị những phụ tùng thay thế, theo dõi việc sử dụng máy móc thiết
bị cũng như việc cung cấp điện cho toàn công ty trong quá trình sản xuất. Xây
dựng nội quy-quy trỡnh-quy phạm sản xuất.Giải quyết các sự cố trong sản xuất.
Quản lý và kiểm tra chất lượng sản phẩm.
Phòng kế hoạch vật tư:
Quản lý và chịu trách nhiệm cung cấp các loại vật tư, máy móc, phụ tùng
thay thế cho quá trình sửa chữa máy móc thiết bị. Xây dựng kế hoạch tổng hợp
Lê Phương Anh – Lớp Quản trị chất lượng 44
Khoa quản trị kinh doanh Chuyên đề thực tập tốt
nghiệp
Các xí nghiệp, phân xưởng:
Giám đốc, quản đốc các xí nghiệp, phân xưởng là người chịu trách nhiệm
trước Ban Tổng giám đốc về toàn bộ các hoạt động trong lĩnh vực sản xuất của
đơn vị theo quy định của công ty.
Trong phạm vi quản lý của mình, giám đốc, quản đốc xí nghiệp, phân
xưởng phải chịu trách nhiệm quản lý về công nghệ; về chất lượng sản phẩm
trong xí nghiệp, phân xưởng; quản lý thiết bị; công tác nghiên cứu sản phẩm;
công tác đào tạo; cụng tác đảm bảo an toàn lao động, phũng chỏy nổ
1.2.2 – Cơ cấu tổ chức sản xuất của công ty:
Hình thức tổ chức sản xuất của công ty là chuyên môn hoá theo loại sản
phẩm, sản xuất theo quy trình khép kín. Hình thức này phù hợp với đặc điểm của
sản phẩm của công ty, đó là những sản phẩm có công nghệ sản xuất độc lập, với
các quy trình, công đoạn khác nhau ( ví dụ như bánh, kẹo và gia vị là những loại
sản phẩm có quy trình sản xuất hoàn toàn khác nhau). Tuy nhiên, hình thức này
lại kém linh hoạt, khó thích ứng khi có sự thay đổi về nhu cầu người tiêu dùng.
Khu vực sản xuất của Công ty được chia thành 4 xí nghiệp, với 6 phân
xưởng sản xuất chính và một phân xưởng phục vụ.
Xí nghiệp Bánh quy, kem xốp: gồm 2 phân xưởng
+ Phân xưởng Bánh I sản xuất bánh Hương Thảo, lương khô, bánh quy hoa
quả trên dây chuyền của Trung Quốc.
+ Phân xưởng Bánh II sản xuất bánh kem xốp các loại, kem xốp phủ sụcụla
trờn dây chuyền của CHLB Đức.
Xí nghiệp Bánh cao cấp: gồm 2 phân xưởng:
+ Phân xưởng Bánh III sản xuất bánh quy hộp, bánh Hải Chõu, bỏnh
Marie, Petit, trên dây chuyền Đài Loan .
+ Phân xưởng bánh mềm sản xuất bán mềm cao cấp trên dây chuyền bánh
mềm của Hà Lan.
B¸nh I
B¸nh
quy
L ¬ng
kh«
L ¬ng
kh«
B¸nh
custard
KÑo
cøng
KÑo
mÒm
KÑo
xèp
B¸nh
quy
Kem
xèp
S«c«la
BC
ièt
BC th
êng
Khoa quản trị kinh doanh Chuyên đề thực tập tốt
nghiệp
Bộ phận quản lý trong mỗi xí nghiệp chịu trách nhiệm về các hoạt động
trong phạm vi xí nghiệp của mình, gồm có:
+ Giám đốc xí nghiệp phụ trách hoạt động chung của xí nghiệp.
+ Phó giám đốc phụ trách về an toàn lao động, vật tư thiết bị.
(TCYC <1,5%).
Sản phẩm kẹo: sản lượng kẹo hàng năm của công ty khoảng trên 1200
tấn/năm, với nhiều chủng loại như kẹo mềm: xốp dâu, cam, chanh, dứa và kẹo
cứng: khụng nhõn và có nhân, sụcụla Nguyờn liệu để sản xuất gồm đường,
nha và các nguyờn liệu khác. Sản phẩm kẹo cứng đảm bảo các yêu cầu chất
lượng như độ ẩm <2%, hàm lượng đường toàn phần 78%, hàm lượng axit <
0,5% Đối với kẹo mềm, độ ẩm tiêu chuẩn là 5 - 7%, hàm lượng đường toàn
phần là 65%, hàm lượng lipit khoảng 2% Sản phẩm kẹo cứng luôn chiếm tỷ
trọng sản xuất và tiêu thụ cao nhất trong chủng loại kẹo ( khoảng 54,73% tổng
sản lượng kẹo tiêu thụ).
Sản phẩm bột canh (gia vị): Bột canh có sản lượng hàng năm trên 6000
tấn/năm, trong đó bột canh iốt có mức tiêu thụ cao hơn so với bột canh thông
thường. Thành phần gồm có muối i-ốt, bột ngọt, đường, bột tỏi, bột tiêu Sản
phẩm bột canh đạt các chỉ tiêu chất lượng chủ yếu:hàm lượng NaCl chiếm
khoảng 7%, hàm lượng mononatri-glutamat 13%, hàm lượng đường 6%, hàm
lượng KlO3 là 200-400 g/10g muối
1.2.3.2 - Đặc điểm về thị trường, khách hàng:
Thị trường bánh kẹo Việt Nam là một thị trường đầy sức hấp dẫn nhưng
tính cạnh tranh rất cao và đầy biến động. Đây được đánh giá là thị trường có
tiềm năng lớn. Trước sự tăng lên của cầu bánh kẹo, các nguồn cung cấp đã có
những phản ứng mạnh mẽ, tạo nên sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường. Hiện
nay trên cả nước cú trờn 30 nhà máy sản xuất bánh kẹo quy mô vừa và lớn với
sự góp mặt của hàng trăm cơ sở sản xuất nhỏ. Có thể kể đến những doanh
nghiệp sản xuất bánh kẹo lớn như Công ty bánh kẹo Hải Hà, Công ty TNHH
Kinh Đô, Công ty đường Biờn Hoà, Công ty đường Quảng Ngãi, Vinabico, ở
Lê Phương Anh – Lớp Quản trị chất lượng 44
Khoa quản trị kinh doanh Chuyên đề thực tập tốt
nghiệp
quy mô nhỏ cú cỏc làng nghề truyền thống như kẹo dừa Bến tre, bánh đậu xanh
Rồng Vàng, Ngoài ra không thể không kể đến các sản phẩm bánh kẹo ngoại
yếu là các loại sản phẩm của ngành thực phẩm như đường, sữa, bơ, trứng Một
số nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng lớn như đường, bột mỳ, nha, gluco, sữa, váng
sữa, bơ, hương liệu và chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản phẩm: kẹo cứng
73,4%, kẹo mềm 71,2%, bánh 65%.
Một số các nguyên liệu chính:
Chất ngọt: Đây là nguyên liệu chính để sản xuất các sản phẩm của công ty,
đặc biệt là với sản phẩm kẹo (kẹo chứa 60 – 90% chất ngọt). Có hai loại: đường
kính và tinh bột. Công ty chỉ dùng loại 1 để đưa vào sản xuất. Loại nguyên liệu
này được Công ty mua hầu hết ở trong nước, riêng mật tinh bột có một số loại
đặc chủng được công ty nhập ở nước ngoài.
Chất béo: bơ nhạt, dầu bơ được công ty nhập ở nước ngoài.
Sữa: sữa đặc, sữa bột và váng sữa. Sữa đặc có đường được công ty mua từ
công ty sữa Vinamilk, còn sữa bộ và váng sữa được công ty nhập ở nước ngoài.
Bột mỳ: là nguyên liệu chính để sản xuất bánh. Nguyên liệu này được mua
hoàn toàn trong nước với chất lượng tốt.
Các phụ gia thực phẩm: chất tạo xốp, chất màu, chất tạo hương và chất bảo
quản được công ty nhập từ các công ty lớn có uy tín trên thế giới, được đảm bảo
chất lượng và an toàn thực phẩm cao. Đặc biệt với chất tạo màu và chất bảo
quản nếu dùng nhiều có hại cho sức khoẻ con người thì công ty dùng rất hạn
chế.
Những nguyên liệu này rất dễ bị vi sinh vật phá huỷ nên yêu cầu bảo quản
phải hết sức cẩn thận, đồng thời yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm cao.
Từ đó có thể thấy các nguyên liệu chủ yếu của công ty hầu như được nhập
từ nước ngoài với yêu cầu về chất lượng cao, tuy nhiên do qua khâu trung gian
nên giá mua đắt và làm tăng giá thành của sản phẩm, giảm hiệu quả kinh doanh,
đồng thời cũng chịu nhiều biến động.
Lê Phương Anh – Lớp Quản trị chất lượng 44
Khoa quản trị kinh doanh Chuyên đề thực tập tốt
nghiệp
Đối với những nguyên liệu mua trong nước, Công ty đã ký hợp đồng dài
Stt Tên dây chuyền
Số lượng
(chiếc)
Nước SX
Công suất
(tấn/ca)
Năm đưa
vào SD
Công dụng
1
Dây chuyền bánh
Hương Thảo
01 Trung Quốc 9 1965
Bán cơ khí nướng
bằng lò
2 Dây chuyền bột canh 01 Việt Nam 20 1978 Bán tự động
3
Dây chuyền bánh Hải
Châu
01 Đài Loan 3,2 1991
Tự động, bao
gói bán tự động
4
Dây chuyền bánh kem
xốp
01 CHLB Đức 1 1993
Tự động, bao
gói bán tự động
5 Dây chuyền phủ Sụcụla 01 CHLB Đức 2 – 4 1995 Tự động
6
đó khi gặp sự cố thù sản xuất bị gián đoạn, gây thiệt hại lớn cho Công ty.
1.2.7 - Đặc điểm về lao động:
Tính đến cuối năm 2005, tổng số cán bộ công nhân viên của công ty CP
bánh kẹo Hải Châu là 802 người.
1.2.7.1 – Cơ cấu lao động:
* Cơ cấu lao động theo tính chất công việc:
Số liệu về cơ cấu lao động theo tính chất công việc được cho trong bảng 1.7.
Bảng 1.7 – Cơ cấu lao động theo tính chất công việc
Bộphận Số lượng(người) Tỷ lệ (%)
- Bộ phận lao động trực tiếp 646 80.5
- Bộ phận lao động gián tiếp 156 19.5
+ Bộ phận quản lý 100 64.1
+Bộ phận phục vụ 56 35.9
Tổng số 802 100
( Nguồn : Phòng Tổ chức)
Lê Phương Anh – Lớp Quản trị chất lượng 44
Khoa quản trị kinh doanh Chuyên đề thực tập tốt
nghiệp
Qua số liệu về tình hình lao động theo tớnh chất công việc, ta thấy lực
lượng lao động của công ty chia thành 2 bộ phận:
Lao động gián tiếp: 156 người, chiếm khoảng 19.5%, trong đó khối hành chính
sự nghiệp là 100 người, chiếm 64.1% so với tổng số lao động gián tiếp và xấp xỉ
12.4% lao động toàn công ty. Lực lượng này có trình độ từ cao đẳng trở nên, cú
phũng 100% số nhân viên trình độ đại học. Tỷ lệ lao động gián tiếp như vậy là tương
đối hợp lý. Công ty đã tinh giảm đội ngũ lao động gián tiếp nhằm đảm bảo cơ cấu
lao động hợp lý, đồng thời vẫn đảm bảo và nâng cao hiệu quả công việc.
Lao động trực tiếp: 646 người, chiếm khoảng 80.5% tổng số lao động toàn công
ty. Tỷ lệ lao động nữ chiếm khoảng 70%, phù hợp với công việc sản xuất bánh kẹo ở
cỏc khõu bao gói thủ công vì lao động nữ có tính bền bỉ, chịu khó và khéo tay. Tuy
nhiên lao động nữ nhiều như vậy cũng có mặt hạn chế do ảnh hưởng về chế độ nghỉ thai
Thu nhập bình quân
+ Gián tiếp
+ Trực tiếp
đồng 1.205.000
1.549.000
1.102.000
1.315.000
1.650.000
1.200.000
(nguồn: Phòng TC)
Từ số liệu trong bảng ta có thể thấy tổng quỹ lương thực hiện của công ty
năm 2005 giảm xuống khoảng 7.2% so với năm 2004, năm 2004 tăng so với kế
hoạch là 18.48%, năm 2005 tăng so với kế hoạch là 13.5%. Thu nhập bình quân
của CBCNV trong công ty tăng đều trong các năm qua, cụ thể năm 2001:
1.100.000đ; năm 2002: 1.200.000đ, tăng 9% so với 2001; năm 2003:
1.200.000đ; năm 2004: 1.205.000đ; năm 2005 là 1.315.000, tăng 9.12%.
1.2.8 - Đặc điểm tài chính của công ty:
Vốn là một trong những yếu tố quyết định năng lực sản xuất kinh doanh
của Công ty. Vốn của Công ty đã tăng lên rất nhanh trong thời gian vừa qua.
Vốn điều lệ của Công ty tại thời điểm thành lập là 30.000.000.000 đồng
(Ba mươi tỷ đồng Việt Nam).
Theo Quyết định số 3656/QĐ/BNN-TCCB ngày 22 tháng 10 năm 2004 của
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tỷ lệ vốn Điều lệ của Công ty cổ phần
Bánh kẹo Hải Châu như sau:
Tỷ lệ cổ phần Nhà nước:=58,00%VĐL=17.400.000.000đ = 174.000 cổ phần
Tỷ lệ CP bán cho người LĐ=38,70%VĐL=11.605.000.000 đ= 116.050 cổ phần
Tỷ lệ CP bán cho đối tượng ngoài DN=3,3%VĐL=995.000.000đ =9.950 cổ phần
Một số chỉ tiêu tài chính của Công ty trong thời gian gần đõy được cho
trong bảng 1.10.
Lê Phương Anh – Lớp Quản trị chất lượng 44
đầu tư thêm bởi cả nguồn vốn chủ sở hữu và vay Ngân hàng. Tuy nhiên vốn
kinh doanh của công ty lại giảm, năm 2003 giảm 7,2% so với năm 2002, năm
2004 giảm 9,5% so với năm 2003. Vốn chủ sở hữu không được bổ sung, hầu hết
dự án đầu tư và vốn sản xuất vay ngân hàng. Vốn ít lại bị các đại lý, người mua
trả chậm nên Công ty thiếu vốn lại càng thiếu hơn. Vì vậy rất khó khăn trong
việc nắm bắt các cơ hội xuất hiện trên thị trường và làm giảm khả năng cạnh
tranh. So với các đối thủ cạnh tranh đặc biệt là các đối thủ liên doanh nước
ngoài thì năng lực vốn của Công ty còn rất nhiều hạn chế.
Lê Phương Anh – Lớp Quản trị chất lượng 44
Khoa quản trị kinh doanh Chuyên đề thực tập tốt
nghiệp
Do phát sinh chi phí lãi vay, khấu hao, quảng bá tiếp thị sản phẩm mới
chưa xâm nhập thị trường , sản phẩm chưa đạt công suất thiết kế khiến cho chi
phí cao, doanh thu thấp , hiệu quả thấp nờn cỏc chỉ tiêu có sự biến động:
* Khả năng thanh toán: chỉ số này của Công ty là không an toàn, khả năng
trả các khoản nợ đến hạn của Công ty không cao. Hơn nữa chỉ số này lại có xu
hướng giảm so với các năm. Cụ thể năm 2002 giảm 40,3% so với năm 2001,
năm 2003 giảm 22,29% so với năm 2002, năm 2004 giảm 14,65% so với năm
2003.
* Hệ số nợ: hệ số nợ của Công ty là rất cao và tăng dần qua các năm. Năm
2004 có giảm so với năm 2003 nhưng không đáng kể và còn rất cao. Điều này
chứng tỏ Công ty vay nợ nhiều, chi phí vốn cao. Đây là một khó khăn khi muốn
hạ giá thành sản phẩm.
* Số vòng quay tài sản : năm 2001 là 1,801; năm 2002 là 1,665; năm 2003
là 1,258; năm 2004 là 1,159. Con số này liên tục giảm cho thấy hiệu quả sử
dụng tài sản của Công ty có xu hướng giảm.
* Lợi nhuận trên tài sản (ROA) của Công ty là thấp. Năm 2002 là 0,0034
giảm 46,87% so với năm 2001, năm 2003 giảm xuống còn 0,0015 giảm 55,88%
so với năm 2002, sang đến năm 2004 lại giảm xuống còn 0,0008 giảm 46,67%
so với năm 2003. Ta thấy chỉ tiêu ROA của Công ty hiện giờ thấp hơn lãi suất
Khoa quản trị kinh doanh Chuyên đề thực tập tốt
nghiệp
Bánh kem xốp và bột canh là hai sản phẩm có lợi thế cạnh tranh của Công
ty trên thị trường. Hai sản phẩm này luôn hoàn thành kế hoạch đề ra. Dõy
chuyền sản xuất hai sản phẩm này luôn hoạt động với công suất tối đa. Cụ thể
năm 2004, sản phẩm bánh kem xốp đạt 105,2% so với kế hoạch, năm 2005 là
100%, cũn sản phẩm bột canh lần lượt là 101%, 101.5% trong năm 2004 và
2005. Tình hình sản xuất và tiêu thụ ổn định của hai loại sản phẩm này đóng vai
trò quan trong trong kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty.
Ngược lại với sản phẩm bánh kem xốp và bột canh, trong hai năm 2004 và
2005, các sản phẩm bánh mềm và sôcôla đều không hoàn thành kế hoạch, lần
lượt là 56,83%, 74,8% trong năm 2004 và 68,12%, 59,41% trong năm 2005.
Nguyên nhõn do các sản phẩm này là các sản phẩm mới, dõy chuyền cũn chưa
được sử dụng hết công suất.
Bảng 2.1 – Tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất năm 2004-2005
Đơn vị: tấn
TT Sản phẩm
2004 2005
KH TH TH/KH KH TH TH/KH
I Bánh quy 2994 3265 109.1 3542 3798 107.2
1 Vani 1183 1298 109.7 1376 1402 101.9
2 Hương cam 297 330 111.1 346 412 119.1
3 Hương thảo 764 854 111.8 971 986 101.5
4 Hướng dương 350 365 104.3 397 437 110.1
5 Quy canxi 200 200 100 203 239 117.7
6 Quy dinh dưỡng 200 218 109 249 322 129.3
II Kem xốp 1426 1500 105.2 1500 1500 100
1 Kem xốp 579 629 108.6 629 614 97.6
2 Kem xốp SCL 414 438 105.8 438 452 103.1
3 Kem xốp chay 187 187 100 187 187 100