thực trạng rào cản phi thuế quan trong chính sách thương mại quốc tế của việt nam - Pdf 24

LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, xu thế toàn cầu hóa và quốc tế hóa đang diễn ra một cách hết
sức mạnh mẽ. Nó tạo ra cho Việt Nam những cơ hội cũng như những thách
thức lớn chưa từng có trong lịch sử. Việt Nam với phương châm: “Muốn làm
bạn với tất cả các quốc gia trên thế giới”, do vậy xu thế liên minh, liên kết là
một việc làm cần thiết và tất yếu. Việc Việt Nam liên tục và nỗ lực không
ngừng từng bước tham gia đàm phán để trở thành viên của Tổ chức Thương
mại thế giới (WTO) là một bằng chứng minh họa xác thực cho điều này. Tự
do hóa thương mại và hội nhập kinh tế quốc tế là vấn đề không chỉ đặt ra đối
với Việt Nam mà với tất cả các quốc gia trên thế giới, không phân biệt là
quốc gia phát triển hay đang phát triển, thể chế chính trị là tư bản chủ nghĩa
hay xã hội chủ nghĩa, không phân biệt sắc tộc, tôn giáo hay màu da… Tổng
giám đốc WTO, Supachai Panitchpakdi, đã nhiều lần nói: “Thương mại là
công cụ tốt nhất để chống lại đói nghèo”. Thật vậy, từ khi đất nước ta tiến
hành mở cửa thị trường thì xuất nhập khẩu là một hoạt động quan trọng và có
những đóng góp to lớn cho sự tăng trưởng kinh tế của đất nước cũng như cho
ngân sách Nhà nước.
Tuy nhiên, tự do hóa thương mại là một quá trình lâu dài gắn chặt với
quá trình đàm phán để cắt giảm thuế quan và hàng rào phi thuế quan. Đối với
các nước công nghiệp phát triển, một mặt, họ luôn đi đầu trong đàm phán để
mở cửa thị trường, mặt khác, họ lại luôn đưa ra các biện pháp tinh vi hơn
nhằm bảo hộ sản xuất trong nước, nhằm đạt được các mục tiêu xác định của
họ.
Vậy bài toán đặt ra cho các nước đang phát triển là gì? Làm thế nào để
vừa hội nhập kinh tế, vừa đảm bảo cho ngành công nghiệp non trẻ trong nước
không đứng trước bờ vực của sự phá sản. Giải đáp sẽ nằm trong chính chiến
1
lược và mục tiêu phát triển của mỗi quốc gia. Hay nói cách khác là không có
một lời giải cụ thể nào cho bài toán hóc búa này. Chính mỗi quốc gia sẽ phải
đi tìm cho mình một đáp án riêng dựa trên những điều kiện, lợi thế của quốc
gia mình và Việt Nam cũng đang trên con đường đi tìm lời giải riêng đó.

Trong thời gian vừa qua, Việt Nam đã gặp phải rất nhiều khó khăn trong
việc đàm phán để gia nhập WTO. Vậy câu hỏi đặt ra là: Tại sao Việt Nam lại
nỗ lực nhiều đến vậy để gia nhập WTO? Để tham gia được vào WTO, Việt
Nam phải làm gì? Và lợi ích mà WTO có thể mang lại cho Việt Nam là gì?
Câu trả lời nằm trong chính các rào cản trong thương mại quốc tế. Để
xuất khẩu được hàng hóa, tất cả các quốc gia đều phải vượt qua hàng rào do
các nước nhập khẩu dựng lên và để làm được điều này thật không đơn giản
chút nào.
Rào cản trong thương mại quốc tế vô cùng đa dạng, phức tạp và được
quy định bởi cả hệ thống pháp luật quốc tế cũng như pháp luật của từng quốc
gia, được sử dụng không giống nhau ở các nước và vùng lãnh thổ. Trong
khuôn khổ của WTO, rào cản phi thuế quan trong thương mại quốc tế được
thể hiện ở: Hiệp định về các rào cản kĩ thuật đối với thương mại, Hiệp định
về kiểm dịch động thực vật, Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng,
Hiệp định nông nghiệp, Hiệp định về dệt may và các qui định quản lí thương
mại liên quan đến môi trường, lao động… Các nước hoặc các vùng lãnh thổ
còn có qui định về tiêu chuẩn kĩ thuật cho các mặt hàng cụ thể cũng như các
qui định về thủ tục hải quan và nhiều qui định quản lý khác.
4
Trong thương mại quốc tế, chính sách thương mại quốc tế được hiểu là
hệ thống các quan điểm, nguyên tắc, mục tiêu, biện pháp và các công cụ mà
các quốc gia sử dụng nhằm điều chỉnh các hoạt động thương mại quốc tế
phù hợp với các lợi thế quốc gia trong từng thời kì nhằm đem lại lợi ích lớn
nhất cho quốc gia từ thương mại quốc tế .
Khi tham gia vào thương mại quốc tế, các quốc gia sẽ phát huy được
nhiều thế mạnh của mình: Lợi thế so sánh, lợi thế cạnh tranh, tận dụng được
những lợi thế từ thị trường thế giới. Nhưng mặt khác cũng sẽ bộc lộ những
mặt yếu kém và bất lợi của chính quốc gia đó. Do vậy các quốc gia thường
phải sử dụng một hệ thống các công cụ điều chỉnh hoạt động thương mại
quốc tế. Trong đó phải kể đến sử dụng hàng rào phi thuế quan - một công cụ

phương pháp phân tích duy nhất cho việc giải quyết thoả đáng toàn bộ phạm
vi hàng rào phi thuế quan”.
Trong thực tế có rất nhiều người đồng nghĩa các hàng rào phi thuế quan
với các biện pháp phi thuế quan. Tất cả các hàng rào phi thuế quan đều là các
biện pháp phi thuế quan, song không phải các biện pháp phi thuế quan đều là
hàng rào phi thuế quan. Các biện pháp phi thuế quan có thể bao gồm các biện
pháp thúc đẩy xuất khẩu, chúng không phải là những “rào cản” đối với
thương mại. Thuật ngữ có vẻ trung lập hơn này được các chính phủ thường
dùng để mô tả những biện pháp được sử dụng để quản lý nhập khẩu với mục
đích hợp pháp như: Thủ tục đảm bảo thực vật, bảo vệ người tiêu dùng trong
nước. Vì vậy khó có thể quy cho chúng là những rào cản. Việc xác định
những biện pháp phi thuế quan nào là rào cản phi thuế quan khá khó khăn.
Bên cạnh các định nghĩa trên, chúng ta đề cập tới định nghĩa về các biện
pháp phi thuế quan và các hàng rào phi thuế quan của WTO: “Biện pháp phi
thuế quan là những biện pháp ngoài thuế quan, liên quan hoặc ảnh hưởng
đến sự luân chuyển hàng hóa giữa các nước”. Còn: “Rào cản phi thuế quan
7
là những biện pháp phi thuế quan mang tính cản trở thương mại mà không
dựa trên cơ sở pháp lý, khoa học hoặc bình đẳng”.
Mục đích của việc nghiên cứu và phân tích các biện pháp phi thuế quan
là đưa ra một nghiên cứu mô tả cơ bản của thể chế thương mại hiện hành.
Đây là cơ sở quan trọng thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt
Nam. Khi Việt Nam gia nhập WTO, thì chắc chắn việc sử dụng hàng rào phi
thuế sẽ cần được bàn đến và cắt giảm tương đối nhiều. Nhưng trên thực tế,
chính những quốc gia đề xướng ra lại là những nước sử dụng nhiều, mạnh và
có vẻ có hiệu quả bảo hộ nhất những hàng rào phi thuế quan.
3. Phân loại hàng rào phi thuế quan
Rào cản phi thuế quan bao gồm nhiều loại khác nhau, có thể được áp
dụng ở biên giới hay nội địa, có thể là biện pháp hành chính hoặc biện pháp
kĩ thuật, có những biện pháp bắt buộc phải thực hiện và có những biện pháp

phòng thí nghiệm và tiêu chuẩn quốc tế mà các nước đều công nhận hợp
chuẩn. Do còn có sự khác biệt như vậy nên nó đã trở thành rào cản kĩ thuật
trong thương mại quốc tế. WTO đã phải thống nhất các nguyên tắc chung và
được cam kết tại hiệp định về hàng rào kĩ thuật trong thương mại nhưng cách
thức mà các nước đang áp dụng thường tạo sự phân biệt đối xử hay hạn chế
vô lý đối với thương mại.
- Các biện pháp vệ sinh động, thực vật: Theo Hiệp định về các biện
pháp kiểm dịch động thực vật của WTO thì các biện pháp vệ sinh động, thực
vật bao gồm tất cả luật, nghị định, quy định, yêu cầu và thủ tục, kể cả các tiêu
chí sản phẩm cuối cùng; các quá trình và phương pháp sản xuất, thử nghiệm,
thanh tra, chứng nhận và làm thủ tục chấp thuận; xử lý kiểm dịch gắn với
việc vận chuyển động vật hay thực vật, hay gắn với các nguyên liệu cần thiết
9
cho sự tồn tại của chúng trong khi vận chuyển; thủ tục lấy mẫu và đánh giá
nguy cơ… Vì định nghĩa của WTO rất chung chung nên các nước công
nghiệp phát triển thường đưa ra các mức quá cao khiến cho hàng hóa của các
nước đang phát triển khó thâm nhập. Đây là một trong những rào cản phổ
biến nhất hiện nay và mức độ của nó ngày càng tinh vi.
- Các quy định về thương mại dịch vụ: Như quy định về lập công ty,
chi nhánh và văn phòng của nước ngoài tại nước sở tại, quy định về xây dựng
và phát triển hệ thống phân phối hàng hóa, quy định về quyền được tiếp cận
các dịch vụ công một cách bình đẳng, quy định về thanh toán và kiểm soát
ngoại tệ, quy định về quảng cáo và xúc tiến thương mại… đều trở thành các
rào cản trong thương mại quốc tế nếu các quy định này không minh bạch và
có sự phân biệt đối xử.
- Các quy định về đầu tư có liên quan đến thương mại: Như lĩnh vực
không hoặc chưa cho phép đầu tư nước ngoài, tỉ lệ góp vốn tối thiểu hoặc tối
đa cho các lĩnh vực hoặc sản phẩm xác định, tỉ lệ xuất khẩu tối thiểu của
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, quy định bắt buộc về phát triển vùng
nguyên liệu… Các quy định trên nếu có sự phân biệt đối xử giữa các doanh

tiêu tốn nhiều thời gian, thể thức và phải trả giá không rẻ thì mới có thể vượt
qua.
- Các rào cản địa phương: Ở một số nước, luật lệ của chính phủ trung
ương cũng có sự khác biệt so với các quy định mang tính địa phương. Ví dụ
như quy định về xuất nhập khẩu tiểu ngạch, quy định về phân luồng đường
cho các phương tiện vận chuyển hành hóa, quy định về khoản phí và phụ
phí… Đây là những rào cản địa phương mà thực tế đã gặp phải.
11
II. Tổng quan về sự hình thành và sử dụng rào cản phi thuế quan
trong chính sách thương mại quốc tế
1. Vị trí vai trò của rào cản phi thuế quan trong chính sách thương
mại quốc tế
Rào cản trong thương mại quốc tế là công cụ bảo hộ phổ biến được
chính phủ các nước sử dụng để nâng đỡ các doanh nghiệp nội địa gặp khó
khăn. Đặc biệt là các doanh nghiệp ảnh hưởng đến nền kinh tế quốc dân hoặc
các doanh nghiệp tập trung nguồn nhân lực và tài chính lớn. Thực tế rõ ràng
nhất có thể nhận thấy ở các nước đang phát triển như ở các nước châu Mĩ
Latinh, các nước Đông Nam Á, nơi có số lượng lớn các doanh nghiệp nhà
nước. Hầu hết các doanh nghiệp nhà nước ở các quốc gia này đều là các
doanh nghiệp gặp khó khăn trong vấn đề cạnh tranh trên thị trường nội địa
cũng như quốc tế mà nguyên nhân sâu xa có thể là thiếu vốn, hạn chế trong
vấn đề đào tạo nhân lực, thậm chí là yếu kém trong khâu quản lí… Mặc dù
vậy việc giải thể các doanh nghiệp này là vấn đề rất nan giải bởi hầu hết các
doanh nghiệp này thu hút một lượng lao động lớn hoặc được đầu tư bằng
những nguồn tài chính không nhỏ. Hậu quả của việc giải thể có thể là những
cú sốc lớn về kinh tế và chính trị. Hơn nữa, chính phủ vẫn còn đặt niềm tin
vào khả năng biến chuyển tình thế của đội ngũ lãnh đạo. Hoặc đây là những
doanh nghiệp hoạt động trong những lĩnh vực được ưu tiên phát triển theo
chiến lược lâu dài. Xuất phát từ nguyên nhân này, bảo hộ còn giúp các quốc
gia trên thế giới duy trì việc làm cho những nhóm, tổ chức nhất định và giảm

luật pháp quốc tế nhưng lại được nhà nước hoặc chính phủ vận dụng các quy
định trong nhiều Hiệp định và Công ước quốc tế để ban hành hệ thống pháp
luật quốc gia. Và ngay cả trong hệ thống pháp luật của các quốc gia cũng
13
không có quy định chính thức dưới tên gọi rào cản hoặc một hệ thống pháp
luật riêng mà nó nằm trong nhiều hệ thống pháp luật khác nhau.
2. Sự hình thành của rào cản phi thuế quan
Sự hình thành rào cản phi thuế quan trong thương mại quốc tế nói chung
và trong thương mại nói riêng đều được hình thành liên quan tới lợi ích của
một nhóm người nhất định và nhóm người này có khả năng tác động tới
chính sách của Nhà nước. Xét trên khía cạnh này nó có thể xuất phát từ một
trong ba chủ thể sau :
- Từ phía doanh nghiệp:
Điều đầu tiên là hầu hết các doanh nghiệp của bất kì một ngành sản xuất
kinh doanh nào cũng muốn được bảo hộ. Một mặt để tránh với sự cạnh tranh
của nước ngoài. Mặt khác, rào cản thương mại của nhà nước còn giúp cho họ
có thêm vị trí trên thị trường và có khả năng thu được lợi nhuận cao hơn, để
tạo ra áp lực tác động tới các chính sách của chính phủ, các doanh nghiệp sẽ
tập hợp lại dưới danh nghĩa: Hiệp hội ngành nghề để tiến hành vận động hành
lang đối với chính phủ. Sự tác động của các doanh nghiệp là hết sức mạnh mẽ
và có tổ chức với rất nhiều hình thức khác nhau. Các doanh nghiệp sẽ đưa ra
các lý do có vẻ như rất chính đáng như: ngành công nghiệp non trẻ cần bảo
hộ, ngành sản xuất liên quan đến việc làm của nhiều người lao động, ngành
xản xuất liên quan đến an ninh quốc gia (an ninh về lương thực). Như vậy
dưới sự tác động của các doanh nghiệp, chính phủ có thể sẽ phải đưa ra các
rào cản thuế quan hoặc phi thuế quan để bảo hộ sản xuất trong nước.
- Từ phía người lao động và người tiêu dùng:
Đây là một lý do khác dẫn tới việc hình thành rào cản. Trước hết là để
bảo vệ cho người lao động (thuộc ngành được bảo hộ) có công ăn việc làm,
sau đó là để bảo hộ họ có thu nhập ổn định. Người lao động tác động tới

ngạch, giấy phép) thì ngày nay có nhiều biện pháp đa dạng, tinh vi và phức
tạp hơn nhiều. Sở dĩ có tình trạng này vì mục đích sử dụng rào cản trong
thương mại quốc tế đó là về: Chính trị, kinh tế và văn hóa.
- Vì mục đích chính trị:
Như đã nói ở trên, một số nước có tiềm lực về kinh tế thường sử dụng
các biện pháp kinh tế để đạt được mục tiêu về chính trị. Họ có thể cấm vận
toàn diện hoặc cấm vận từng phần đối với hoạt động thương mại quốc tế của
nước khác, ngược lại họ cũng có thể dành các ưu đãi đặc biệt cho một quốc
gia nào đó vì mục đích chính trị. Thể hiện rõ nhất là Mỹ dành cho Isarel chế
độ thuế suất bằng 0 đối với hàng nông sản và nhiều hàng hóa của Isarel kể từ
năm 1985. Xuất phát từ động cơ chính trị thì các biện pháp mạnh thường
được sử dụng như cấm vận, cấm nhập khẩu hoặc xuất khẩu một loại hàng hóa
nào đó hoặc áp dụng mức thuế và riêng biệt rất cao.
Nguyên tắc dành cho sự ưu đãi cho những nước kém phát triển và đang
phát triển cũng được các quốc gia áp dụng khác nhau. Thực tiễn là chính phủ
các quốc gia lớn trên thể giới có thể đưa ra các ưu đãi thương mại để giành
ảnh hưởng tới các quốc gia nhỏ. Ví dụ như Nhật Bản có ảnh hưởng lớn ở
Châu Á, chiếm một phần lớn nhập và xuất khẩu ở nhiều nước Châu Á và cho
khu vực này vay một lượng tiền để giúp các nước này khôi phục kinh tế sau
cuộc khủng hoảng vừa qua. Không nghi ngờ gì việc chính phủ Nhật trông đợi
tạo ra một triển vọng tốt đối với các nước láng giềng, qua các hành động như
vậy. Tương tự, Hoa Kì đã đi những bước đi dài để giành và duy trì kiểm soát
các sự kiện ở Trung, Bắc và Nam Mỹ. Đây là lý do tại sao tự do thương mại
ở Châu Mỹ được sự ủng hộ mạnh mẽ từ Hoa Kì nhằm đẩy mạnh ảnh hưởng
đến chính trị nội bộ cũng là lý do quan trọng vì sao Hoa Kì cứ tiếp tục cấm
16
vận Cu Ba và dỡ bỏ cấm vận một số nước khác ở Ảrập một cách nhanh
chóng.
- Bảo vệ việc làm:
Để ổn định tình hình xã hội đặc biệt là nhằm mục tiêu giảm tỷ lệ thất

nhằm tạo dựng thị trường và đối tác thương mại có tính chất chiến lược. Các
khoản ưu đãi có thể giành cho một nước nào đó nhưng lại trở thành rào cản
đối với các nước khác nhau bất chấp nguyên tắc. Đãi ngộ quốc gia trong
khuôn khổ WTO.
Thứ tư là, vì các lợi ích quốc gia liên quan, do vậy việc duy trì văn hóa
và bản sắc dân tộc, qua đó các sản phẩm văn hóa như sách báo, phim, nhạc là
rất quan trọng. Sự phát triển của Internet và viễn thông toàn cầu đe doạ bản
sắc văn hóa, dân tộc, buộc các chính phủ hạn chế nội dung nước ngoài và sở
hữu nước ngoài trong các lĩnh vực này.
- Đáp lại các hành động thương mại không bình đằng:
Hầu hết mọi người đều cho rằng sẽ chẳng có ý nghĩa gì đối với một quốc
gia cho phép tự do thương mại nếu các quốc gia khác bảo vệ một cách tích
cực ngành công nghiệp của chính họ. Các chính phủ thường đe dọa đóng cửa
cảng đối với các tàu thuyền của các quốc gia khác hoặc áp đặt mức thuế rất
cao đối với hàng hóa của các quốc gia này nếu họ có những bằng chứng thể
hiện các hoạt động thương mại không bình đẳng. Nói cách khác, nếu một
chính phủ cho rằng một quốc gia khác là “đang chơi không bình đẳng” họ sẽ
đe dọa “trả đũa” trừ khi đạt được những nhân nhượng nhất định.
- An ninh quốc gia:
18
Vấn đề an ninh quốc gia luôn đòi hỏi phải sử dụng các biện pháp cấm
nhập khẩu đối với một số hàng hóa liên quan như: Vũ khí, chất nổ (các hàng
hóa liên quan đến quốc phòng). Ngành công nghiệp, máy móc thiết bị chuyên
dùng cho in tiền, cho thu và phát các tín hiệu vệ tinh và một số ngành sản
xuất khác cũng phải sử dụng các biện pháp kiểm soát rất nghiêm ngặt.
- Để bảo vệ môi trường:
Hiện nay môi trường là một vấn đề được tất cả các quốc gia trên thế giới
quan tâm. Tuy rằng mức độ quan tâm và biện pháp được đưa ra để bảo vệ
môi trường cũng có sự khác nhau. Chính vì vậy mà các quy định về môi
trường cũng có thể trở thành rào cản thương mại quốc tế, người ta chia thành

Hoa Kì nhập khẩu mặt hàng cá ngừ từ một số nớc (Panama, Honduras và Belize)
là những nớc có đội tàu đánh cá ở vùng biển Đông Thái Bình Dơng với mục đích
bảo vệ loài cá voi. Các biện pháp quản lý nhập khẩu của Hoa Kỳ đợc thông qua
một hệ thống giấy phép. Báo cáo mới nhất của Hoa Kỳ với WTO về việc cấp
giấyphép mô tả quá trình phải tuân theo để có thể nhập khẩu những sản phẩm sau:
thực vật, động vật và các sản phẩm của chúng, cá và các sinh vật hoang dã, thuốc
lá, rợu Nhập khẩu khí đốt tự nhiên hoặc các khí đốt hoá lỏng chỉ đợc phép nếu
nó gắn liền với lợi ích của dân chúng. Phần lớn hạn ngạch nhập khẩu của Hoa Kỳ
do Cục Hải quan của nớc này quản lý.
Hạn ngạch nhập khẩu đợc chia làm hai loại:
- Hạn ngạch thuế quan (tarriff-rate quota): Quy định số lợng của một mặt
hàng nào đó đợc nhập vào với mức thuế giảm trong một thời gian nhất định.
20
Trong đa số các trờng hợp thì các hàng hóa xuất khẩu của khối các nớc XHCN
(trớc đây) không đợc hởng u đãi của hạn ngạch theo mức thuế.
- Hạn ngạch tuyệt đối (absolute quota): Đây là loại hạn ngạch giới hạn về số
lợng. Một số quota là áp dụng chung còn một số thì chỉ áp dụng riêng đối với một
số nớc. Các mặt hàng chịu hạn ngạch tuyệt đối nh: thức ăn gia súc, có thành phần
hoặc các sản phẩm sữa, bơ pha trộn, sữa khô, thịt từ Australia và New Zealand
Mức thuế hạn ngạch thờng đợc tính trên số lợng hàng hóa đợc nhập từ đầu kỳ áp
dụng hạn ngạch cho đến khi ngời ta thấy là lợng hàng nhập đã chiếm gần hết hạn
ngạch.
1.2. Các quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật và vệ sinh dịch tễ
- Các quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật: Các quy định này nhằm mục đích an
toàn hoặc sức khoẻ đối với những sản phẩm nhập khẩu với số lợng lớn. Những sản
phẩm này bao gồm: thực phẩm, đồ uống, thuốc lá, mỹ phẩm, thuốc Nhà sản
xuất nhất thiết phải chịu trách nhiệm đối với việc đáp ứng các yêu cầu khi đa sản
phẩm ra thị trờng. Các cơ quan chức năng sẽ tiến hành những biện pháp cỡng bức
nếu những quy định trên bị vi phạm.
- Các quy định về vệ sinh dịch tễ: Hoa Kỳ đã gửi lên WTO nhiều thông báo

ng thnh hỡnh v dn dn hỡnh thnh. Vic xõy dng hỡnh thnh v hon
thin chớnh sỏch thng mi Trung Quc cng tuõn th theo l trỡnh gm
bn giai on sau :
- Giai on 1 (1979-1985): Phỏt trin thng mi theo nh hng thay
th nhp khu.
- Giai on 2 (1986-1992): Tng cng thu hỳt vn u t nc ngoi
v phỏt trin cỏc doanh nghip cú vn u t nc ngoi.
- Giai on 3 (1992-2000): Thc hin nh hng xut khu bng cỏc k
hoch c bit cho tng ngnh, ỏp dng cụng ngh tiờn tin nõng cao t
trng sn phm xut khu t cụng ngh cao.
22
- Giai đoạn 4 (từ 2001 đến nay): Thực hiện phát triển nền kinh tể mở
theo các yêu cầu và cam kết khi gia nhập WTO.
Với lộ trình đã được xác định, Trung Quốc đã xây dựng hàng loạt các
biện pháp và chính sách phi thuế quan sau :
2.1. Quyền kinh doanh xuất nhập khẩu
Trước khi tiến hành mở cửa, chính phủ kiểm soát tất cả các hoạt động
ngoại thương. Đầu những năm 80, chỉ có các công ty được chỉ định mới có
quyền tiến hành các hoạt động ngoại thương. Từ ngày 1/1/1999, Trung Quốc
cho phép các công ty quy mô lớn hơn thực hiện theo hệ thống: “Đăng ký kinh
doanh xuất nhập khẩu”.
Đến ngày 11/12/2001, Trung Quốc vẫn quy định 5 nhóm mặt hàng: Cao
su thiên nhiên, gỗ dán, lông cừu, sợi dệt chứa hợp chất hữu cơ và thép. Ngoài
ra còn có 16 mặt hàng nhập khẩu do doanh nghiệp chỉ định làm đầu mối (dầu
thô, xăng dầu, than đá, gạo, ngô, bông, tơ tằm và một số loại quặng).
2.2. Hạn ngạch và giấy phép nhập khẩu
Trong vài năm trước đây, biện pháp phi thuế quan ngày càng dần, và
trở nên chuẩn tắc ở Trung Quốc. Những mặt hàng phải xin phép nhập khẩu
giảm từ 53 loại 1992 xuống còn 12 loại năm 2004. Những mặt hàng phải xin
phép xuất khẩu cũng giảm từ 138 loại năm 1992 xuống 54 loại năm 2002.

giữ lại ngoại tệ, giải quyết được vấn đề hệ thống hai tỷ giá mà còn được các
tổ chức quốc tế đánh giá tốt về việc tiếp tục dỡ bỏ các hàng rào phi thuế quan.
2.6. Các biện pháp kĩ thuật
Các biện pháp kĩ thuật được áp dụng gồm 4 nội dung đáng lưu ý sau:
24
- Hàng miễn kiểm nghiệm, kiểm dịch phải đạt ba tiêu chuẩn theo quy
định:
(i) Doanh nghiệp sản xuất phải có hệ thống chất lượng hoàn thiện và nó
phải có sự giám sát, đồng ý của cục kiểm nghiệm Nhà nước và được cấp
chứng nhận do cơ quan kiểm tra chất lượng cấp.
(ii) Doanh nghiệp sản xuất phải có sự chấp thuận của ủy ban về tiêu
chuẩn theo ISO 9000.
(iii) Chất lượng hàng miễn kiểm dịch phải ổn định lâu dài. Tỷ lệ hợp
cách xuất khẩu phải đạt 100% liên tục trong 3 năm.
- Hàng liên quan đến an toàn vệ sinh và có yêu cầu đặc biệt bắt buộc
phải kiểm nghiệm, kiểm dịch:
(i) Lương thực, dầu ăn, thực phẩm, đồ chơi, mỹ phẩm, đồ điện.
(ii) Những mặt hàng được xếp vào quản lý giấy phép an toàn chất lượng
nhập khẩu.
(iii) Hàng dễ chế biến hoặc hàng hóa rời.
(iv) Hàng mà hợp đồng quy định tỷ lệ, thành phần, hàm lượng trong
giấy chứng nhận hàng hóa cấp.
(v) Đồ đựng, đóng gói hàng nguy hiểm trong xuất nhập khẩu.
- Quy định về cấp giấy phép an toàn chất lượng hàng nhập khẩu:
(i) Hàng liên quan đến vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường,
bảo vệ lao động.
(ii) Hàng nhập khẩu nằm trong danh mục bắt buộc phải có giấy phép.
(iii) Hàng chỉ được cấp giấy phép an toàn chất lượng khi đạt các yêu
cầu phù hợp với pháp luật và quy định tiêu chuẩn của Trung Quốc.
- Các quy định về vệ sinh y tế tại cảng, cửa khẩu Trung quốc.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status