Thiết kế phân xưởng chưng cất chân không cặn dầu soviet năng suất 8 triệu tấn trên năm - Pdf 24

Đồ án công nghệ GVHD: TS. Lê Thanh Thanh
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Dầu mỏ được con người biết đến từ rất xa xưa. Ở thế kỷ XIX, dầu mỏ được coi là
nguồn nhiên liệu chính cho các phương tiện giao thông và nền công nghiệp kinh tế quốc
dân. Hiện nay, dầu mỏ đã trở thành nguồn năng lượng giữ vị trí quan trọng đối với tất cả
các cuốc gia trên toàn thế giới. Cùng với sự phát triển không ngừng của khoa học kĩthuật,
dầu mỏ được sử dụng rông rãi cho các ngành công nghiệp tổng hợp hóa dầu (sản xuất cao
Trang 1
Đồ án công nghệ GVHD: TS. Lê Thanh Thanh
su, chất dẻo, sợi tổng hợp, …), sản xuất các sản phẩm phi nhiên liệu vô cùng quan trọng
như dầu nhờn, dầu bôi trơn, nhựa đường… là một phần không thể thiếu trong sự phát
triển của nền công nghiệp hiện đại.
Cùng với sự phát triển của ngành công nghiệp dầu khí thế giới, từ những thập
niên 70, ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam đã không ngừng phát triển và lần lượt đi
vào khai thác các mỏ dầu có giá trị kinh tế lớn như : Đại Hùng, Mỏ Rồng, Rạng Đông …
Bên cạnh đó, các nhà máy phục vụ cho ngành dầu khí lần lượt được xây dựng vào đi vào
hoạt động : Nhà máy chế biến khí Dinh Cố, Nhà máy lọc dầu Dung Quất … và hàng loạt
các dự án khác được kí kết đi vào xây dựng.
Cặn dầu, hay còn gọi là mazut là nguồn nhiên liệu quan trọng của hệ thống lò đốt
trong các ngành công nghiệp xi măng, gốm sứ, đặc biệt hơn nữa nó là nguồn nguyên liệu
mang các đặc tính rất tốt để sản xuất các loại dầu nhờn đáp ứng yêu cầu bôi trơn, làm mát
hệ thống động cơ, các thiết bị máy móc trong nền công nghiệp hiện đại.
Hiểu được tầm quan trọng đó, chúng em xin giới thiệu đồ án “ Thiết kế phân xưởng
chưng cất chân không cặn dầu Soviet năng suất 8 triệu tấn/năm” thể hiện sự tìm tòi học
hỏi trong quá trình học tập và mong rằng sẽ đóng góp được một phần nhỏ vào sự phát
triển của ngành công nghiệp dầu khí.
Trang 2
Đồ án công nghệ GVHD: TS. Lê Thanh Thanh
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT
I. CÁC TÍNH CHẤT VÀ ỨNG DỤNG CỦA NGUYÊN LIỆU

d. Ảnh hưởng của thành phần nguyên tố, hàm lượng tro đến tính chất của cặn mazut
Hàm lượng cacbon trong các loại cặn mazut thương phẩm thường nằm trong phạm
vi từ 85 - 88% còn hàm lượng hydro từ 9,6 - 11%, người ta thấy rằng mật độ và độ nhớt
của cặn mazut thương phẩm thì hàm lượng cacbon trong cặn cracking cao hơn, theo quy
định hàm lượng tro trong dầu mazut không vượt quá 0,3% hàm lượng nước trong mazut
không vượt quá 2 ÷ 3%.
1.1.2. Thành hóa học
Do có phân tử lượng lớn, thành phần hóa học của phân đoạn dầu nhờn rất phức tạp:
các n- và izo-parafin ít, naphten và thơm nhiều. Dạng cấu trúc hỗn hợp tăng.
Hàm lượng các hợp chất của S, N, O tăng mạnh: hơn 50% lượng lưu huỳnh có trong
dầu mỏ tập trung ở phân đoạn này, gồm các dạng như disunfua, thiophen, sunfua vòng…
Các chất nitơ thường gặp ở dạng đồng đẳng của pyrol, pyridin và cacbazol.Các hợp chất
oxy ở dạng axit. Các kim loại nặng như V, Ni, Pd…; các chất nhựa, asphaten điều có mặt
trong phân đoạn. Thông thường, người ta tách phân đoạn dầu nhờn bằng cách chưng cất
chân không phần cặn dầu mỏ, để tránh phân hủy ở nhiệt độ cao. [1, trang 62]
1.2. Ứng dụng của phân đoạn cặn mazut
1.2.1. Sử dụng cặn mazut để sản xuất dầu gốc.
Khi nghiên cứu các tính chất sử dụng của phân đoạn dầu nhờn, người ta thấy các
hợp chất n– parafin với phân tử lượng lớn thường là parafin rắn (còn gọi là sáp), chúng
làm giảm độ linh động của dầu nhờn nên hàm lượng của chúng cũng phải giảm tới mức
cần thiết, đặc biệt với các dầu bôi trơn làm việc ở nhiệt độ âm.
Trang 4
Đồ án công nghệ GVHD: TS. Lê Thanh Thanh
Các izo– parafin lại là thành phần rất tốt trong dầu bôi trơn vì chúng có độ nhớt
thích hợp và tính chất nhớt nhiệt tốt. Nếu mạch nhánh izo– parafin càng dài thì đặc tính
này càng thể hiện rõ ràng hơn
Các hydrocacbon naphten hay hydrocacbon thơm 1 vòng hoặc 2 vòng với mạch
nhánh parafin dài khi có cùng nhiệt độ sôi thì độ nhớt cũng xấp xỉ nhau. Tăng chiều dài
nhánh, độ nhớt tăng lên rõ rệt và chỉ số nhớt cũng tốt, đặc biệt là khi mạch nhánh alkyl lại
phân nhánh

Cặn của những dầu mỏ loại nặng chứa nhiều nhựa và asphanten dùng làm nguyên
liệu sản xuất bitum là tốt nhất.
Trang 6
Đồ án công nghệ GVHD: TS. Lê Thanh Thanh
Hàm lượng asphanten trong cặn càng cao, tỷ số asphanten càng cao, chất lượng
bitum càng tốt, công nghệ chế biến ngày càng đơn giản.
Cặn của dầu mỏ có chứa nhiều parafin rắn là loại nguyên liệu xấu nhất trong sản
xuất bitum, bitum có độ bền rất thấp và tính bám dính rất kém.
Để tăng dần hàm lượng asphanten và nhựa, thường tiến hành quá trình oxy hoá
bằng oxy không khí ở nhiệt độ 170 - 260
0
C trong quá trình oxy hoá, một bộ phận dầu sẽ
chuyển sang nhựa còn một bộ phận chuyển sang asphanten do xảy ra các sản phẩm
ngưng tụ. Do đó hàm lượng dầu sẽ giảm, hàm lượng asphanten sẽ tăng nhưng hàm lượng
nhựa ít thay đổi.
1.2.4. Ứng dụng phần cặn mazut làm nguyên liệu lò đốt
Dầu mazut được sử dụng làm nhiên liệu đốt lò nhờ nhiệt năng của chúng, nhiệt
năng của cặn dầu nằm trong khoảng 10000 Cal/kg. Những thành phần không thuộc loại
hydrocacbon trong dầu cặn cũng có ảnh hưởng rất lớn đến tính chất sử dụng của nó.
Các hợp chất của lưu huỳnh trong dầu mỏ tập trung chủ yếu vào dầu cặn. Các hợp
chất lưu huỳnh còn kết hợp với kim loại, tăng lượng cặn bám trong các thiết bị đốt và
khói thải của nó gây ô nhiễm môi trường.
Cặn mazut thực chất là một hệ keo cân bằng mà hướng phân tán asphanten và môi
trường phân tán là dầu và nhựa. Trong đó có nhiều chất là những loại cặn có độ nhớt cao.
II. CHƯNG CẤT CHÂN KHÔNG CẶN MAZUT
2.1. Đặc điểm của quá trình chưng cất ở áp suất chân không
Chưng cất cặn dầu là một quá trình chế biến vật lý trong đó các cấu tử có trong cặn
dầu không hề bị biến đổi mà chúng chỉ được phân chia đơn thuần thành các nhóm sản
phẩm. Phương pháp này bao gồm quá trình sôi và bay hơi hỗn hợp chất lỏng sau đó
ngưng tụ hơi và làm lạnh bằng nước. Như vậy hơi nhẹ bay lên ngưng tụ thành lỏng, chất

C).
Vậy có 2 mục đích chưng cất chân không cặn mazut
- Giảm phân huỷ và phản ứng cracking, tăng hiệu suất thu các phân đoạn
dầu nhờn và cặn gudron.
- Thu được distilat dầu nhờn cho cụm sản xuất dầu nhờn, hoặc gasoil chân
không – là nguyên liệu cho cracking xúc tác.
2.3. Đặc điểm chưng cất cặn mazut trong tháp chân không
Đặc điểm chưng cất trong tháp chân không tương tự như trong tháp chưng cất khí
quyển. Tuy nhiên nó cũng có một số đặc điểm riêng liên quan với áp suất tháp, điều kiện
nung nóng nhiên liệu có thành phần phân đoạn nặng. Trong tháp chân không cần tạo điều
kiện để cất được nhiều nhất và phân hủy ít nhất. Để làm được điều này cần sử dụng thiết
bị tạo chân không để có được áp suất chân không thấp nhất trong hệ.
Để giảm thời gian lưu của mazut trong lò nung và giảm trở lực nên sử dụng lò nung
hai chiều, đưa hơi nước vào ống xoắn của lò, giảm thiểu khoảng cách giữa cửa nhập liệu
Trang 8
Đồ án công nghệ GVHD: TS. Lê Thanh Thanh
vào tháp và cửa ra khỏi lò nung, tăng đường kính ống dẫn nguyên liệu, giảm thiểu các
chỗ uốn góc, dạng chữ S.[1, trang 205]
Cấu tạo của tháp chân không khác với tháp chưng cất khí quyển nhằm giảm thời
gian lưu của cặn trong tháp để tránh phân hủy nó dưới tác dụng của nhiệt độ cao. Do lưu
lượng các dòng hơi trong tháp chân không lớn, nên đường kính của các tháp này lớn hơn
nhiều so với tháp cất khí quyển (8 ÷ 12 m). Do sự phân bố của chất lỏng và bọt sủi không
đồng nhất nên hiệu quả của mâm không cao. Để phân bố chất lỏng đồng đều trên các
mâm nên sử dụng cấu trúc mâm đặc biệt (mâm lưới, van (xupap) và sàng).
Sự phân huỷ khi chưng cất sẽ làm xấu đi các tính chất làm việc của sản phẩm, như
làm giảm độ nhớt và nhiệt độ bắt cháy cốc kín của chúng, giảm độ bền oxy hóa. Nhưng
quan trọng hơn là chúng gây nguy hiểm cho quá trình chưng cất vì chúng tạo ra các hợp
chất ăn mòn và làm tăng áp suất tháp. Để giảm mức độ phân hủy, thời gian lưu của
nguyên liệu ở nhiệt độ cao cũng cần phải hạn chế. Ví dụ như trong thực tế chưng cất, thời
gian lưu của nguyên liệu dầu (phân đoạn cặn của chưng cất khí quyển) ở tháp chưng cất

Thay thế hơi nước bằng khí trơ sẽ tiết kiệm lượng lớn nhiệt chi cho tạo hơi nước và
giảm chi phí dùng nước cho ngưng tụ. Tuy nhiên nó lại không được ứng dụng rộng rãi do
phải có thiết bị gia nhiệt và ngưng tụ lớn, khó tách triệt để sản phẩm dầu ra khỏi dòng
khí.
Các phân đoạn ligroin – kerosene – gasoil cũng được làm tác nhân bay hơi nhưng
hơi nước được sử dụng phổ biến nhất.
2.4. Sản phẩm của quá trình chưng cất cặn mazut
Chế biến mazut trong chân không thu được các distilat dầu nhờn có nhiệt độ sôi và
độ nhớt khác nhau, cặn của quá trình là semiguron hoặc gudron. Các sơ đồ công nghệ
chưng cất chân không được chia thành nhóm nhiên liệu và dầu nhờn. Trong sơ đồ nhiên
liệu từ mazut thu phân đoạn rộng có nhiệt độ sôi đến 550
0
C là gasoil chân không, là
nguyên liệu cho quá trình cracking xúc tác hoặc hydrocracking. Trong nhóm công nghệ
thứ hai thu được phân đoạn dầu nhờn, sau khi chế biến (xử lý bằng hydro, làm sạch lựa
chọn, loại parafin bằng xúc tác hoặc loại parafin ở nhiệt độ thấp trong dung môi, làm
sạch tiếp xúc ) có thể thu được các dầu nhờn gốc khác nhau.
Chưng cất chân không tạo ra các sản phẩm dầu bôi trơn có độ nhớt khác nhau và
tất cả các dầu bôi trơn chưng cất phản ánh thành phần hoá học tổng quát của loại dầu mỏ
Trang 10
Đồ án công nghệ GVHD: TS. Lê Thanh Thanh
đem sử dụng. Và sản phẩm thu được từ quá trình chưng cất chân không cặn mazut là các
phân đoạn dầu nhờn và cặn gudron.
Sơ đồ mô tả chưng chân không cặn mazut:
Hình 2.4 Các phân đoạn sản phẩm từ quá trình chưng cất chân không
Bảng 2.4 Chất lượng sản phẩm dầu thu được trong tháp chưng cất chân không như sau:
Trang 11
Phân đoạn 350 – 500
o
C

chế biến vật lý, do đó thành phần hoá học của phân đoạn dầu nhờn giống như thành phần
hoá học của phân đoạn cặn mazut. Tuy nhiên do tính chất sử dụng của dầu nhờn mà một
số hợp chất trong cặn mazut không có lợi cần phải loại ra.
Các loại dầu thô khác nhau sẽ cho thành phần phân đoạn dầu nhờn khác nhau và chỉ
những phân đoạn đầu nhờn của dầu mỏ họ naphteno – parafinic, parafino – naphtenic hay
parafinic có khả năng sản xuất được dầu gốc có chất lượng cao. Ngược lại, từ dầu mỏ họ
naphten hay aromatic khó có khả năng chế tạo dầu nhớt có chỉ số độ nhớt cao.
Trong trường hợp muốn sản xuất dầu nhờn có chỉ số độ nhớt cao thì dầu mỏ họ
naphten hay aromatic thì người ta phải thêm một lượng lớn các phụ gia để làm tăng chỉ
số nhớt như vậy giá thành sẽ cao hơn. Những phụ gia này thường là các polyme như
polyizobutylen, polymetacrylat và polyme của este vinylic, polyalkylstyren.
Như vậy, việc tách các thành phần không mong muốn nhờ quá trình lọc dầu cho
phép có thể sản xuất dầu gốc chất lượng cao từ các dầu thô mà có nguồn gốc không phù
hợp cho mục đích này.
Bảng 2.5 Thành phần các hydrocacbon có mặt trong dầu nhờn
Loại hydrocacbon % thể tích
n– Parafin
izo– Parafin
Naphten 1 vòng
Naphten 2 vòng
Naphten 3 vòng
Hydrocacbon thơm 1 vòng + naphten
Hydrocacbon thơm 2 vòng + naphten
Hydlocacbon thơm 3 vòng + naphten
Hydrocacbon hơn nhiều vòng ngưng tụ
và các hợp chất phi hydrocacbon
13.4
8.3
18.4
9.9

0
C, tỷ
trọng lớn hơn 1, dễ dàng hoà tan trong xăng, naphta. Chất trung tính tạo cho nhựa có tính
dẻo dai và tính kết dính. Hàm lượng của nó ảnh hưởng trực tiếp đến độ kéo dài của nhựa,
chiếm khoảng 10 đến 15% khối lượng của cặn gudron.
Các chất axit là chất có nhóm – COOH, màu nâu sẫm, tỷ trọng lớn hơn 1 dễ hoà tan
trong cloroform và rượu etylic. Chấl axit tạo cho nhựa tính hoạt động bề mặt. Khả năng
kết dính của bitum phụ thuộc vào hàm lượng chất axit có trong nhựa, nó chỉ chiếm
khoảng 1% trong cặn dầu mỏ.
c) Nhóm asphanten:
Nhóm asphaten là nhóm chất rắn màu đen, cấu tạo tinh thể, tỷ trọng lớn hơn 1, chứa
phần lớn các hợp chất dị vòng, có khả năng hoà tan mạnh trong cacbon disunfua (CS
2
).
Đun ở 300
0
C không bị nóng chảy mà bị cháy thành tro.
Ngoài ba nhóm chất chính nói trên, trong cặn gudron còn có các hợp chất cơ kim
của kim loại nặng, các chất cacben, cacboit rắn giống như cốc, màu sẫm, không tan trong
các dung môi thông thường chỉ tan trong pyridin.
Trang 13
Đồ án công nghệ GVHD: TS. Lê Thanh Thanh
Phân đoạn cặn gudron được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau như sản xuất
bitum, than cốc, nhiên liệu đốt lò. Trong các ứng dụng trên thì sản xuất bitum là ứng
dụng quan trọng nhất.
2.7. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình chưng cất chân không
2.7.1. Các khí không ngưng
Các chất khí không ngưng là hỗn hợp của không khí và các hydrocarbon nhẹ (C
1
,

Nhiệt độ là thông số quan trọng nhất của tháp chưng cất. Thay đổi nhiệt độ của tháp
thì nhiệt độ và hiệu suất của sản phẩm thay đổi. Chế độ nhiệt của tháp gồm: nhiệt độ của
nguyên liệu vào tháp, nhiệt độ đỉnh tháp, nhiệt độ trong tháp và nhiệt độ đáy tháp.
Nhiệt độ của nguyên liệu vào tháp chưng phụ thuộc vào bản chất của nguyên liệu,
mức độ phân tách của sản phẩm, áp suất trong tháp và lượng hơi nước đưa vào đáy tháp,
nhưng chủ yếu phải tránh sự phân huỷ nhiệt ở nhiệt độ cao. Nếu nguyên liệu thuộc loại
dầu nặng mức độ phân chia lấy sản phẩm ít thì nhiệt độ vào tháp chưng luyện sẽ không
cần cao. Trong thực tế sản phẩm khi chưng cất ở áp suất khí quyển, nhiệt độ nguyên liệu
vào tháp chưng luyện thường trong giới hạn 320 ÷ 360ºC còn nhiệt độ nguyên liệu mazut
vào tháp chưng ở áp suất chân không thường khoảng 400 ÷ 440ºC.
Nhiệt độ đáy tháp phụ thuộc vào phương pháp bay hơi và hồi lưu đáy. Nếu bay hơi
phần hồi lưu đáy bằng thiết bị đốt nóng riêng biệt thì nhiệt độ đáy tháp sẽ ứng với nhiệt
độ bốc hơi cân bằng ở áp suất tại đáy tháp, nếu bốc hơi bằng cách dùng hơi nước quá
nhiệt thì nhiệt độ đáy tháp sẽ thấp hơn vùng nạp liệu. Nhiệt độ đáy tháp phải chọn tối ưu,
vừa tránh sự phân huỷ các cấu tử nặng, vừa phải đủ để tách hết hơi nhẹ ra khỏi phần
nặng.
Nhiệt độ đỉnh tháp được khống chế nhằm đảm bảo sự bay hơi. Để tách xăng ra khỏi
mazut đối với tháp chưng cất chân không áp suất chưng là 10 ÷ 70 mmHg thường nhiệt
độ không quá 120ºC với mục đích để giảm bớt mất mát gasoil chân không hay mất mát
các cấu tử trong phân đoạn dầu nhờn.
Để bảm bảo chế độ nhiệt của tháp, cũng như để phân chia các quá trình hoàn thiện
thì phải có hồi lưu.
Hồi lưu nóng: Quá trình hồi lưu nóng được thực hiện bằng cách ngưng tụ một phần
hơi sản phẩm đỉnh ở nhiệt độ sôi của nó. Khi tưới trở lại tháp, chúng chỉ cần thu nhiệt để
bốc hơi. Tác nhân lạnh có thể dùng là nước hay chính sản phẩm lạnh. Xác định lượng hồi
lưu nóng theo công thức:
Trong đó: Rn: lượng hồi lưu nóng, kg/h
Q: Nhiệt hồi lưu cần lấy để bốc hơi, kcal/h
i: Nhiệt ngưng tụ của sản phẩm lỏng, kcal/kg.
Trang 15

.
Trong đó : Q là lượng hồi lưu lấy đi, kcal
, : Hàm nhiệt của hồi lưu ở pha lỏng với nhiệt độ t
2
và t
0
, kcal/kg.
Hồi lưu trung gian có nhiều ưu điểm: Giảm lượng hơi đi ra ở đỉnh tháp, tận dụng
được một lượng nhiệt thừa rất lớn của tháp chưng để đun nóng nguyên liệu ban đầu, tăng
công suất làm việc của tháp, tăng cường chất lượng của các sản phẩm cạnh sườn và điều
chỉnh nhiệt độ trong tháp. Người ta thường kết hợp hồi lưu trung gian với hồi lưu lạnh
cho phép điều chỉnh chính xác nhiệt độ chưng do đó đảm bảo được hiệu suất và chất
lượng sản phẩm của quá trình
2.7.5. Áp suất của tháp
Trang 16
Đồ án công nghệ GVHD: TS. Lê Thanh Thanh
Khi tháp chưng cất mazut trong tháp chưng chân không thì thường tiến hành áp suất
từ 10 ÷ 70 mmHg
Áp suất trong mỗi tiết diện của tháp chưng luyện phụ thuộc vào trở lực thuỷ tĩnh khi
hơi qua các đĩa, nghĩa là phụ thuộc vào số đĩa và cấu trúc đĩa, lưu lượng riêng của chất
lỏng và hơi. Thông thường từ đĩa này sang đĩa khác, áp suất giảm từ 5 ÷ 10 mmHg từ
dưới lên khi chưng cất, ở áp suất chân không qua mỗi đĩa áp suất giảm từ 1 ÷ 3 mmHg.
Áp suất làm việc của tháp phụ thuộc vào nhiệt độ, bản chất của nguyên liệu và áp
suất riêng phần của từng cấu tử trong tháp. Nếu tháp chưng luyện mà dùng hơi nước trực
tiếp cho vào đáy tháp thì hơi nước làm giảm áp suất riêng phần của hơi sản phẩm đầu,
cho phép chất lỏng bay hơi ở nhiệt độ thấp hơn. Lượng hơi nước tiêu hao phụ thuộc vào
áp suất chung của tháp và áp suất riêng phần của các sản phẩm đầu.
Lượng hơi nước tiêu hao cho tháp chưng ở áp suất chân không khoảng 5÷8% trọng
lượng so với nguyên liệu.
Trang 17

Đồ án công nghệ GVHD: TS. Lê Thanh Thanh
1.2. Chế độ công nghệ của tháp chưng cất chân không
Nhiệt độ:
0
C
Đỉnh 80 – 100
Đáy 340 – 365
Áp suất ở đỉnh:
Kpa 5,3 – 8,0
mm Hg 40 – 60
Tiêu tốn hơi nước:
% Khối lượng: 0,85 – 0,9
II. SƠ ĐỒ CÔNG NGHỆ VÀ THIẾT BỊ CHÍNH
2.1. Sơ đồ cụm chưng cất chân không cặn dầu mazut
Trang 21
Đồ án công nghệ GVHD: TS. Lê Thanh Thanh
2.2. Thuyết minh sơ đồ
Cặn mazut từ bể chứa nguyên liệu số (12) được bơm ly tâm bơm lên, chia làm 2
dòng, một dòng vào bể trao đổi nhiệt ống chùm số (3) trao đổi nhiệt với dòng tuần hoàn
của tháp chưng cất sau đó được đưa vào thiết bị lò đốt số (1). Dòng thứ 2 được đưa qua
các thiết bị trao đổi nhiệt ống chùm của các sản phẩm trích ngang và tiếp tục đưa qua
thiết bị làm lạnh ống lồng ống số (6), sau đó được bơm ly tâm đưa vào thiết bị lò đốt. Sau
khi ra khỏi lò nhiệt độ dòng nguyên liệu là khoảng 400 – 420 0C được đi vào vùng nhập
liệu của tháp. Tại đỉnh tháp thu được khí nhẹ, sau đó dòng khí đi qua thiết bị làm lạnh
ngung tụ (9) rồi xuống bể chứa chân không số (8) tại đây chất lỏng được tách ra, sau đó
được đưa vào bể chứa khí áp kế số (11) tại đây thu được cặn gasoil và nước ngưng. Khí
không ngưng sẽ được hệ thống tạo chân không hút ra thu được khí không ngừng và tạo
được áp suất chân không cho tháp.
Ở phân giữa tháp thu hồi được sản phẩm trích ngang thứ nhất qua thiết bị bay hơi
số(7), tại đây phân nhẹ được hoàn lưu lại tháp, phần lỏng được bơm số (17) bơm vào

Hiệu suất
(%) phân
đoạn
Tỷ trọng
< 350
o
C 4.5 10.40 0.8773
350 – 420
o
C 12.8 29.56 0.8955
420 – 500
o
C 12 27.71 0.9258
> 500
o
C 14 32.33 1.0021
Kí hiệu các phân đoạn:
+ Dầu nhờn trung 350 – 420
o
C: DN
1
+ Dầu nhờn tối màu 420 – 500
o
C: DN
2
Trang 23
Đồ án công nghệ GVHD: TS. Lê Thanh Thanh
+ Phân đoạn gasoil nhẹ < 350
o
C: gas

Năng suất của phân xưởng 8 triệu tấn/năm.
Trang 24
Phân đoạn M
Gas 0.8773 0.8807 261
DN
1
0.8955 0.8988 303
DN
2
0.9258 0.9289 407
Gudron 1.0021 1.0021 1591
Đồ án công nghệ GVHD: TS. Lê Thanh Thanh
Do đầu vào của dầu mazut đã bị lấy đi 1% cho nhiên liệu đốt lao nên công
suất chỉ còn lại: 8000000 – 0.01 * 8000000 = 792000 (tấn/năm)
Lượng sản phẩm gasoil sản xuất được trong một giờ là:
G
gas
= 990 * 10.40% = 103 (tấn/giờ)
Lượng dầu nhờn trung sản xuất được trong một giờ là:
G
DN1
= 990 * 29.56% = 293 (tấn/giờ)
Lượng dầu nhờn tối màu thu được trong một giờ là:
G
DN2
= 990 * 27.71% = 274 (tấn/giờ)
Lượng gudron thu được trong một giờ là:
G
gud
= 990 * 32.33% = 320 (tấn/giờ)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status