Website: Email : Tel (: 0918.775.368
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cùng với sự phát triển của quá trình toàn cầu hóa, nền kinh tế thế giới đã
có bước chuyển biến mạnh mẽ, đời sống của người dân hầu khắp các quốc gia
đã được nâng lên rõ rệt. Nhưng bên cạnh đó đói nghèo vẫn là vấn đề xã hội
bức xúc của các quốc gia trên thế giới. Số liệu điều tra cho thấy mỗi ngày trên
thế giới có đến 35000 trẻ em phải chết vì những căn bệnh có thể chữa khỏi
bằng các phương pháp dinh dưỡng và sự chăm sóc y tế sơ đẳng nhất. Các
quốc gia phát triển, giàu có cũng không tránh khỏi điều đó. Liên minh châu âu
(EU) có 12% số hộ sống dưới mức nghèo. Tại Hợp chủng quốc Hoa Kỳ những
năm 80 của thế kỷ 20 đã có thêm 4 triệu trẻ em rơi vào cảnh bần hàn. Nhưng
nạn nghèo đói đặc biệt nghiêm trọng ở các quốc gia đang phát triển. Việt Nam
cũng nằm trong bối cảnh như vậy. Trên thực tế, từ sau đại hội đại biểu lần thứ
VI (T12/1986) toàn Đảng, toàn dân tiến hành công cuộc đổi mới và đã đạt
được thành tựu đáng kể. Cũng chính sự thay đổi đó đã khiến nhiều người Việt
Nam có thể cải thiện được cuộc sống của mình hay bắt đầu sự cải thiện đó.
Các cá nhân, hộ gia đình và các tổ chức kinh tế, xã hội cũng như các công ty
ngày càng kiểm soát được nguồn lực phát triển. Song song với điều đó là sự
có mặt ngày càng tăng của các loại hàng hóa dịch vụ. Tuy vậy ở nước ta vẫn
tồn tại những yếu kém nhất định về kinh tế xã hội: một số nhóm lại không ở vị
thế tốt để có thể tận dụng được các thị trường và kiểm soát nguồn lực. Sự thay
đổi của nền kinh tế đã gây nên sự chênh lệch ngày càng lớn giữa các giai tầng
xã hội. Vì vậy trong xã hội xuất hiện sự chênh lệch giữa nhóm giàu và nhóm
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nghèo. Nhóm giàu tập chung chủ yếu ở đô thị. Nhóm nghèo tập chung chủ yếu
ở nông thôn, trung du, miền núi. Hiện nay ở Việt Nam mức nghèo vẫn chiếm
tỷ lệ cao. Theo báo cáo về tình hình phát triển quốc tế của ngân hàng thế giới
(WB), Việt Nam vẫn đứng thứ 19 kể từ nước nghèo nhất (1999). Qua nguồn
số liệu điều tra mức sống dân cư ở Việt Nam các năm 1993 và 1998, WB đã
hội và các chuyên ngành xã hội học: Xã hội học kinh tế như lý thuyết tăng
trưởng kinh tế, lý thuyết về phân hóa giàu nghèo.
2.2. Ý nghĩa thực tiễn:
Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp ta hiểu rõ thực trạng nghèo của một
xã trung du miền núi. Từ đó có cái nhìn toàn diện hơn về thực trạng nghèo
chung của cả nước. Đề tài cũng góp phần nhỏ bé trong việc giúp nhà nước đưa
ra những chính sách đưa đến những người dân ở vùng trung du miền núi. Từ
đó chính quyền địa phương thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo của tốt
hơn. Đề tài cũng giúp người dân hiểu rõ hơn về thực trạng của mình để họ có
thể phát triển kinh tế gia đình, thoát khỏi cảnh nghèo
3. Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu thực trạng nghèo đói nghèo của xã Thái Ninh huyện thanh ba
tỉnh Phú Thọ
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Phân tích những nguyên nhân ảnh hưởng đến tình hình nghèo đói của xã
Thái Ninh huyện Thanh Ba tỉnh Phú Thọ
Xu hướng đề xuất và đề xuất những khuyến nghị mang tính khả thi
4. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Thực trạng nghèo đói của người dân xã Thái Ninh huyện Thanh Ba tỉnh
Phú Thọ
4.2. Khách thể nghiên cứu:
Hộ gia đình xã Thái Ninh huyện Thanh Ba tỉnh Phú Thọ
4.3. Phạm vi nghiên cứu:
Xã Thái Ninh huyện Thanh Ba tỉnh Phú Thọ
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi
Tổng số bảng hỏi được phát ra là 100 bản và thu về đủ 100 bản. Bảng hỏi
đề cập đến vấn đề thu nhập, chi tiêu của các hộ gia đình, các ngành nghề, trình
49 49
THCS
41 41
THPT
9 9
Nghề nghiệp
Trng trt 94 94
Chn nuụi 2 2
Cụng chc
1 1
Th cụng nghip 1 1
Khỏc 2 2
5.1 Phng phỏp phng vn sõu:
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Là phương pháp thu thập thông tin bằng tác động tâm lý xã hội trực tiếp
giưa người đi hỏi và người trả lời. Phỏng vấn hoàn toàn tự do trong cách dẫn
dắt nhằm thu thập được thông tin mong muốn nhằm để hiểu sâu, hiểu kỹ hơn
vấn đề nghiên cứu. Từ đề tài này có thể tìm hiểu nguyên nhân thực trạng
nghèo của người dân địa phương.
5.2. Phương pháp phân tích bảng hỏi:
Dựa trên số liệu đã xử lý, tiến hành phân tích số liệu để từ đó thấy được
số liệu định lượng cho đề tài nghiên cứu. Đồng thời đọc qua sách báo, internet
nhằm làm phong phú vấn đề nghiên cứu
5.3. Phương pháp quan sát
Phương pháp quan sát là tất cả cách thức, quy tắc để tiếp cận và thu nhận
được các thông tin thực nghiệm từ thực tế xã hội. Trong đề tài là quan sát hình
thức nhà ở, các phương tiện, đồ dùng sinh hoạt trong gia đình có trong gia
đình được phỏng vấn, quan sát toàn xã nghiên cứu
nghĩa Mác -Lê nin mà cốt lõi là học thuyết về sự phát triển xã hội, là lý luận
chung nhất để nhận thức thế giới khách quan dựa trên chủ nghĩa duy vật lịch
sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng
Với đề tài này người viết lấy chủ nghĩa duy vật lịch sử làm phương pháp
luận nhận thức vấn đề nghiên cứu. Như vậy theo phương pháp này khi tiếp
cận đề tài nghiên cứu cần tuân thủ những yêu cầu sau:
+ Nhận thức không chỉ bên ngoài sự vật hiện tượng mà phải nhận thức
được bản chất bên trong cũng như vận động và kết quả của nó.
+ Khi xem xét các hiện tượng cần đặt chúng trong mối liên hệ biện chứng
với nhau. Bởi vì mọi sự vật hiện tượng nảy sinh không do một nguyên nhân
xảy ra.
+ Cần phải nhìn nhận xem xét đối tượng nghiên cứu trong điều kiện lịch
sử riêng biệt của nó chứ không nhìn nhận một cách siêu hình.
Các lý luận và phương pháp này đòi hỏi khi nghiên cứu các sự kiện, các
quá trình xã hội phải đặt trong hoàn cảnh, điều kiện lịch sự cụ thể hay các sự
kiện, hiện tượng, quá trình đó phải đặt trong một phạm vi không gian nhất
định, khoảng thời gian cụ thể và trong một mạng lưới các quan hệ xã hội xác
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
định. Lý luận và phương pháp luận Mác xít ngoài yêu cầu nghiên cứu các sự
vật hiện tượng trong mối liên hệ biện chứng, còn đòi hỏi xem xét chúng trong
sự vận động biến đổi. Có nghĩa là chúng ta phải nghiên cứu vấn đề từ trong
mối liên hệ qua lại đến những biểu hiện đang diễn ra và xu thế vận động biến
đổi của chúng trong tương lai.
Áp dụng vào đề tài ta thấy để hiểu rõ được thực trạng nghèo đói thì
không thể xem xét bên ngoài thực trạng mà phải xem xét được bản chất bên
trong của hành động đó, tức là tìm hiểu nguyên nhân. Đó là quy luật của cuộc
sống. Và khi xem xét thực trạng đó ta phải đặt chúng trong mối liên hệ biện
chứng bởi vì tìm hiểu một vấn đề nhất là thực trạng nghèo đói không chỉ do
một nguyên nhân. Xem xét vấn đề nghèo đói trong quá trình thay đổi của thời
triển đến một mức độ nào đó, tầng lớp nghèo có thể sẽ thay đổi. Họ sẽ không
còn ở vị trí nghèo nữa mà có thể di chuyển đến tầng lớp giàu. Đó là sự thay
đổi về thời gian. Sự biến đổi giàu nghèo cũng thể hiện ngay trong chính không
gian vùng địa lý nào đó, vùng này với vùng khác. Hay sự biến đổi đó diễn ra
ngay trong lòng vùng nghèo. Có thể nói phân tầng xã hội dựa vào sự biến đổi,
sự vận động của xã hội.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Nhìn chung nói đến phân tầng xã hội, một số tác giả đề cập đến bất bình
đẳng xã hội. Bất bình đẳng là sự không bình đẳng (không bằng nhau) về cơ
hội hoặc lợi ích đối với những cá nhân khác nhau nằm trong một nhóm hoặc
nhiều nhóm xã hội. Phân hóa giàu nghèo gắn liền với sự phân hóa xã hội,
phân tầng xã hội và bất bình đẳng xã hội. Tất cả các hiện tượng này với các
nguyên nhân, hình thức biểu hiện, hậu quả và xu hướng biến đổi của chúng
đều là những chủ đề trọng tâm của nghiên cứu xã hội nói chung và xã hội học
kinh tế nói riêng. Học thuyết Marx nhấn mạnh các nguyên nhân kinh tế của sự
phân chia giai cấp và sự phân tầng xã hội. Lý thuyết của Weber vạch ra các
nhân tố kinh tế, phi kinh tế và tình huống thị trường của sự phân tầng xã hội.
Thuyết chức năng của Davis và Moore và thuyết hệ thống xã hội của Parsons
nhấn mạnh các yếu tố chức năng của sự phân tầng xã hội và bất bình đẳng xã
hội. Thuyết mâu thuẫn của Dahrendorf và Collins tập trung làm rõ vai trò của
mầu thuẫn quyền lực đối với bất bình đẳng xã hội.
Bất bình đẳng xã hội là sự phân hóa xã hội đến mức làm tăng lợi ích của
tầng lớp xã hội này với cái giá của sự phương hại lợi ích của nhóm xã hội
khác trong cấu trúc phân tầng xã hội nhất định. Sự phân hóa xã hội luôn dẫn
đến sự khác nhau thậm chí sự phân tầng xã hội nhưng không phải là phân tầng
xã hội nào cũng là bất bình đẳng xã hội. Ví dụ sự khác nhau về năng lực và
trình độ học vấn và tay nghề có thể dẫn đến sự khác nhau về thu nhập giữa các
nhóm người. Nhưng ở đây chưa chắc đã là sự bất bình đẳng xã hội bởi vấn đề
còn nằm ở chỗ xã hội học tập và cơ hội việc làm cũng như nhiều yếu tố khác.
hay nói cách khác là “ Chia đều sự nghèo đói”.Từ ngày đổi mới, kinh tế đất
nước phát triển nhưng kéo theo đó là hàng loạt vấn đề xã hội nảy sinh, trong
đó sự phân hóa giàu nghèo. Trên thực tế, chỉ đầu thập niên 90 của thế kỷ 20
vấn đề nghèo đói mới được nghiên cứu 1 cách khoa học. Hiện nay vấn đề xóa
đói giảm nghèo ở Việt Nam đang được quan tâm chú ý.
Chúng ta có thể kể ra rất nhiều chương trình tiêu biểu được thực hiện bởi
các nhà khoa học thuộc các cơ quan, đơn vị có uy tín như: Trung tâm khoa
học xã hội và nhân văn quốc gia, Bộ lao động, thương binh xã hội, tổng cục
thống kê… Đó là “khảo sát Xã Hội Học về phân tầng xã hội” đề tài KX 04-02
do PGS Tương lai làm chủ nhiệm; “ Về phân tầng xã hội ở nước ta giai đoạn
hiện nay” đề tài KX 07-05 do PGS. PTS Đỗ Nguyên Phương làm chủ nhiệm;
“Khảo sát XHH về nhà ở của người nghèo ở Hà Nội” Viện Xã Hội Học, tháng
12 -1994; “Chương trình xóa đói giảm nghèo ở Hà Nội” Viện Xã Hội Học,
tháng 12 -1994; “ Chương trình xóa đói giảm nghèo” của Bộ lao động thương
binh xã hội (1992); Điều tra tình trạng nghèo ở Việt Nam, tổng cục thống kê,
1993; Ngân hàng thế giới (WB). 1998, “Việt Nam: Proverty Assessment” an
Stategye”; Save the children UK ( 1999); Chương trình phát triển nông thôn
miền núi Lào Cai (MRDP): “ Báo cáo đánh giá về nghèo khổ với sự tham gia
của cộng đồng ( 1999); Nhóm nghiên cứu Trịnh Duy Luân, Vũ Tuấn Anh,
Nguyễn Xuân Mai: “ Nghèo khổ và các vấn đề xã hội ở Hải Phòng”.
Những công trình tiêu biểu kể trên đã đặt nền móng , là cơ sở cho các
nghiên cứu tiếp theo. Trên tinh thần đó đề tài này chỉ là một nghiên cứu bổ
xung với hy vọng góp phần bé nhỏ làm cho việc nghiên cứu vấn đề nghèo đói
được nhìn nhận hoàn chỉnh hơn, mới mẻ hơn.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1.3. Một số khái niệm liên quan
1.3.1. Nghèo đói
Một số học giả người nước ngoài cho rằng: nghèo đói là tình cảnh mà
trong đó sự tăng lên chậm chạp của thu nhập đẩy các cá nhân hoặc gia đình tới
* Nghèo tương đối:
Giáo sư Tương Lai: “ Nói chung những người được coi là nghèo tương
đối là những người trong số 40% dân số xã hội có mức thu nhập thấp nhất”
Ngân hàng Châu Á lại cho rằng: nghèo tương đối là tình trạng dân cư có
mức sống dưới trung bình của một cộng đồng trên một địa bàn và trong thời
điểm đang xem xét.
Nhà kinh tế học người Mỹ Galbraith cho rằng: “Con người bị nghèo khó
khi mà thu nhập của họ ngay dù thích đáng để họ có thể tồn tại rơi xuống rõ
rệt dưới mức thu nhập của cộng đồng. Khi đó họ không thể có những gì mà đa
số trong cộng đồng coi như cái cần thiết tối thiểu để sống một cách đúng mực”
Đề tài về cơ bản thống nhất với cách xác định của Giáo sư Tương Lai.
Nghèo tương đối là nhóm người trong con số những chục, phần trăm dân số
xã hội có mức thu nhập thấp nhất. Tuy nhiên, không nên quy định một con số
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
chính xác là phải “40%” mà tùy thuộc vào mục đích và hoạt động thực tiễn, ta
có thể nâng những chục đó lên hoặc đẩy xuống miễn sao đạt hiệu quả cao nhất
cho việc giải quyết các vấn đề xã hội đang đặt ra.
* Nghèo tuyệt đối: Theo ngân hàng Châu Á thì nghèo tuyệt đối là tình
trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn nhu cầu tối thiểu nhằm
duy trì cuộc sống. Nhu cầu tối thiểu là những đảm bảo ở mức tối thiểu nhu cầu
thiết yếu về ăn, mặc ở và nhu cầu sinh hoạt hàng ngày gồm văn hóa, y tế, giáo
dục, đi lại và giao tiếp.
1.3.3. Hộ, gia đình , hộ gia đình
* Hộ theo Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa Liên hiệp quốc
(UNESCO): “Là những người sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung
và có chung một ngân quỹ”.
Hội thảo quốc tế về quản lý nông thôn tại Hà Lan (1980) đã đưa ra định
nghĩa Hộ như sau: “Hộ là đơn vị cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất,
tái sản xuất đến tiêu dùng và các hoạt động xã hội khác”.
trong một xã hội nhất định (Xã hội học kinh tế).
1.3.4. Các chỉ tiêu xác định tiêu chuẩn nghèo đói
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Nghiên cứu về nghèo, xóa đói giảm nghèo như chúng ta đã trình bày
đang là một trào lưu lớn. Tuy nhiên lại khó sử dụng kết quả để so sánh cũng
như theo dõi những biến động về tỉ lệ và khoảng cách các nhóm mức sống. Có
một số lý do nhưng trước hết cần phải nói là sự không thống nhất về chỉ tiêu
(tiêu chuẩn) xác định giàu nghèo. Các cuộc khảo sát về giàu nghèo ở Việt
Nam thường sử dụng những chỉ tiêu sau:
* Tiêu chuẩn nghèo đói tính bằng tiền gạo: Nguyễn Văn Tiêm (chủ biên)
1993; Tổng cục thống kê, 1993; Viện xã hội học, 1992-1994.
* Tiêu chuẩn tương đối 20% thu nhập hoặc chỉ tiêu được áp dụng rộng rãi
, ủy ban kế hoạch nhà nước và tổng cục thống kê, 1999-2000.
* Tiêu chuẩn đánh giá tổng hợp mức sống: Trịnh duy Luận, 1992;Đỗ
thiên kính (chủ biên 1994).
- Bộ lao động thương binh và xã hội ( Molis đã 4 lần điều chỉnh tiêu
chuẩn nghèo đói, 2 lần gần đây nhất.
* Năm 1997 theo Molis, hộ đói là hộ có thu nhập bình quân dưới 13 kg
gạo /người/ tháng tương đương với 45 ngàn VNĐ. Còn nghèo lại chia các
vùng với các tiêu chuẩn khác nhau. Nông thôn, hải đảo, miền núi: Dưới 15kg
gạo/ người/ tháng( 55ngàn VNĐ); Nông thôn đồng bằng trung du: Dưới 20 kg
gạo/ người / tháng( 70 ngàn VNĐ) ; Thành thị: <25 kg gạo/ người/ tháng( 90
ngàn VNĐ).
* Giai đoạn 2001-2005 Molis cho rằng Việt Nam không còn hộ đói, do
vậy đưa ra chỉ tiêu cho hộ nghèo theo 3 vùng này: Nông thôn, miền núi, hải
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
đảo: 80 ngàn VNĐ/ người/ tháng; Nông thôn đồng bằng: < 100 ngàn VNĐ/
người/ tháng; Thành thị: 150 ngàn VNĐ/ người/ tháng.
Hồng, cách thủ đô Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh - Những trung tâm công
nghiệp, thương mại hàng đầu của cả nước khoảng 100km nằm trong hành lang
kinh tế Côn Minh - Hải Phòng. Đồng thời Phú Thọ có vị trí tiếp giáp với các
tỉnh miền núi nhiều tiềm năng phát triển kinh tế như Tuyên Quang, Hà Giang,
Lào Cai, Yên Bái, lại có hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy
rất thuận lợi nối với các vùng này nên Phú Thọ có nhiều cơ hội để phát triển
kinh tế và giao lưu văn hóa.
Phú Thọ sau gần 20 năm đổi mới và hơn 7 năm tái lập vẫn là một tỉnh
còn nhiều khó khăn nhưng một diện mạo mới thì đã được định hình với 2 tiểu
vùng kinh tế rõ rệt: Tiểu vùng thuộc các huyện Thanh Sơn, Yên lập và phía
tây huyện Cẩm Khê là vùng có cơ sở hạ tầng còn kém phát triển. Tuy nhiên , ở
vùng này có tiềm năng về lâm nghiệp và khoáng sản. Còn tiểu vùng đồi gò,
bát úp xen kẽ đồng ruộng, dải đồng bằng ven các triền sông Hồng, hữu ngạn
sông Lô, tả ngạn sông đà và đồng bằng tương đối tập chung ở huyện Lâm
Thao là vùng được khai thác từ lâu đời, có khả năng phát triển thành nguồn
nguyên liệu giấy, cây công nghiệp và chăn nuôi.
Mặc dù mới tái lập, song kinh tế Phú Thọ thời gian qua đã có mức tăng
trưởng khá. Thu nhập quốc nội tăng bình quân giai đoạn 2000-2004 đạt 9,5%.
Giá trị nông nghiệp có nhịp độ tăng trưởng khoảng 4,2%/ năm. An ninh lương
thực được đảm bảo. Diện tích cây ăn quả, trồng rừng, chăn nuôi gia súc, gia
cầm đều có bước phát triển. Các ngành dịch vụ luôn vượt kế hoạch đề ra so
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
với mức tăng trưởng bình quân giai đoạn khoảng 12,5%. Hoạt động thương
mại, tài chính, ngân hàng và các ngành dịch vụ khác đều đảm bảo và có bước
nhảy vọt nhanh chóng. Cơ cấu kinh tế của Phú Thọ đang chuyển dịch đúng
hướng, tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế phát triển. Sản xuất công nghiệp - tiểu
thủ công nghiệp vượt qua giai đoạn khó khăn để đạt tốc độ tăng trưởng bình
quân giai đoạn 2000-2004 là 20%/ năm. . Các thành phần kinh tế được khuyến
khích, tạo điều kiện để sản xuất kinh doanh. Đặc biệt sau hơn 7 năm tái lập,
dân. Về giao thông: Có trạm đường tỉnh lộ 2 với thị trấn của huyện, tuyến
đường này mới được nâng cấp 2004, sự thay đổi về chất lượng của tuyến quốc
lộ này tạo điều kiện phát triển kinh tế của toàn huyện nói chung và xã Thái
Ninh nói chung. Các ngành dịch vụ buôn bán phát triển, các ngành công
nghiệp nặng và công nghiệp có điều kiện lưu thông thuận lợi sản phẩm hàng
hóa. Nhìn chung, ở huyện Thanh Ba dân cư của 12/26 xã, thị trấn sống nhờ
cây chè, với tổng diện tích 2000 ha và sản lượng hàng năm có thể lên tới hàng
triệu tấn. Xã Thái Ninh là nơi có diện tích trồng chè và sản lượng thu hoạch
sản phẩm chè lớn cho toàn huyện.
Diện tích tự nhiên của xã có 737 ha. Trong đó đất để sản xuất nông
nghiệp là 308 ha. Diện tích đất lúa: 88ha. Dân số : 2.451 khẩu có 630 hộ.
Người dân ở đây sống chủ yếu bằng nông nghiệp chiếm 96%. Các ngành nghề
chậm phát triển, xã Thái Ninh không có nơi trao đổi buôn bán ( chợ) , ở xã
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
không có nghề truyền thống, mức sống bình quan thấp so với huyện, bình
quân thu nhập năm 2005 là 4,21 triệu đồng/ năm.
Đời sống người dân còn gặp nhiều khó khăn, theo tiêu chuẩn xác định
nghèo mới nhất ( 2004) là dưới 200 ngàn đồng/ tháng thì vẫn còn 157 hộ
chiếm 26,5 %.
2.2. Thực trạng nghèo đói
Phú Thọ vẫn là một tỉnh nghèo so với cả nước. Tỉ lệ hộ nghèo năm 2005
là 5%. Trong đó xã Thái Ninh có tỷ lệ hộ nghèo là 26,5%. Sau đây chúng ta đi
vào nghiên cứu tình hình nghèo đói của các hộ gia đình trên cơ sở thu nhập,
chi tiêu, điều kiện sinh hoạt để thấy rõ hơn mức độ nghèo đói của các hộ gia
đình.
2.2.1. Thu nhập
Các số liệu đo lường nghèo đói ở Việt Nam cho thấy một xu hướng tích
cực là tỉ lệ số hộ sống dưới mức nghèo liên tục giảm trong suốt thời gian qua,
kể từ khi chính sách của Đảng và Nhà nước đi vào cuộc sống. Tỷ lệ nghèo