Thực trạng nghèo đói của người raglay xã khánh nam khánh vĩnh khánh hòa hiện nay - Pdf 94

1
BÁO CÁO KHOA HỌC GVHD: PGS.TS.TRẦN THỊ KIM XUYẾN
PHẦN I. LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay trong xu thế phát triển của quá trình toàn cầu hóa, nền kinh tế thế giới đã
có bước chuyển biến mạnh mẽ, đời sống của người dân hầu khắp các quốc gia đã được
nâng lên rõ rệt. Nhưng bên cạnh đó đói nghèo vẫn là vấn đề xã hội bức xúc của các quốc
gia trên thế giới hiện nay.
Theo số liệu của Ngân hàng Thế Giới thì trong năm 2001 trên toàn thế giới có 1,1 tỉ
người (tương ứng với 21% dân số thế giới) được xem là rất nghèo. Theo thống kê, trong
năm 2005, toàn nước Mỹ có khoảng 35 triệu người thường xuyên không đủ ăn, phải sống
dựa vào các nguồn từ thiện. Trong 90 tỉ USD chi cho người nghèo hàng năm, tới 66,7 tỉ
USD dành cho y tế và chữa bệnh; 14,5 tỉ USD chi dưới các dạng tem phiếu hoặc các suất
ăn từ thiện hàng ngày; 9,2 tỉ USD bị thiệt hại do năng suất lao động giảm.
Nghèo đói đe dọa đến sự sống của loài người bởi "đói nghèo đã trở thành một vấn
đề toàn cầu có ý nghĩa chính trị đặc biệt quan trọng, nó là nhân tố có khả năng gây bùng nổ
những bất ổn chính trị, xã hội và nếu trầm trọng hơn có thể dẫn tới bạo động và chiến
tranh" không chỉ trong phạm vi một quốc gia mà là cả thế giới.
Việt Nam là một đất nước đang phát triển, tình trạng nghèo đói hiện nay vẫn đang
diễn ra khá cao ở các tỉnh thành trong cả nước. Theo số liệu của Chương trình Phát triển
Liên Hiệp Quốc ở Việt Nam, vào năm 2004 chỉ số nghèo tổng hợp (tiếng Anh: Human
Poverty Index-HPI) xếp hạng 41 trên 95 nước. Cũng theo số liệu của Chương trình Phát
triển Liên Hiệp Quốc, vào năm 2002 tỷ lệ nghèo theo chuẩn quốc gia của Việt Nam là
12.9%, theo chuẩn thế giới là 29% và tỷ lệ nghèo lương thực là 10.87%. Cho đến năm
2009, theo chuẩn nghèo trên, cả nước Việt Nam hiện có khoảng 2 triệu hộ nghèo, đạt tỷ lệ
11% dân số.
Hiện nay ở Việt Nam mức nghèo vẫn chiếm tỷ lệ cao. Theo báo cáo về tình hình
phát triển quốc tế của ngân hàng thế giới (WB), Việt Nam vẫn đứng thứ 19 kể từ nước
SVTT: TRỊNH THỊ KIM OANH MSSV:08100109
2
BÁO CÁO KHOA HỌC GVHD: PGS.TS.TRẦN THỊ KIM XUYẾN

2.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ làm sáng tỏ và phong phú thêm một số luận điểm
của lý thuyết xã hội học nói chung và của các lý thuyêt được áp dụng trong đề tài nay nói
riêng. Như lý thuyết về sự phân tầng xã hội, lý thuyết tương tác xã hội…cho tới thực trạng
và giải pháp xóa đói giảm nghèo nói riêng.
2.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp ta hiểu rõ thực trạng nghèo đói của một xã thuộc
khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ. Từ đó có cái nhìn toàn diện hơn về thực trạng nghèo
đói chung của cả nước. Đề tài cũng góp phần nhỏ bé trong việc giúp nhà nước ta đưa ra
những chính sách giúp người dân thoát nghèo . Từ đó chính quyền địa phương thực hiện
chính sách xóa đói giảm nghèo của tốt hơn. Đề tài cũng giúp người dân hiểu rõ hơn về
thực trạng của mình để họ có thể phát triển kinh tế gia đình, thoát khỏi cảnh nghèo đói như
ở một số xã thuộc khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ hiện nay.
3. Sơ lược về tình hình nghiên cứu
Vấn đề nghèo đói trước thời kỳ đổi mới không được quan tâm nhiều. Theo cơ chế
tập chung bao cấp, mọi người cùng làm cùng hưởng theo cách “ Bình quân chủ nghĩa” hầu
như các hộ gia đình có điều kiện kinh tế đều như nhau hay nói cách khác là “ Chia đều sự
nghèo đói”. Nhưng từ ngày đổi mới, kinh tế đất nước phát triển nhưng kéo theo đó là hàng
loạt vấn đề xã hội nảy sinh, trong đó sự phân hóa giàu nghèo. Trên thực tế, chỉ đầu thập
niên 90 của thế kỷ 20 vấn đề nghèo đói mới được nghiên cứu 1 cách khoa học. Hiện nay
vấn đề xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam đang được quan tâm chú ý và nghiên cứu nhiều.
Đã có rất nhiều tác giả có những công trình nghiên cứu về vấn đề nghèo đói, trên
thực tế tôi có thể liệt kê một số đề tài và các chương trình xóa đói giảm nghèo, cũng như
các báo cáo đề cập tới vấn đề nghèo đói hiện nay. Đề tài KX 07-05 do PGS. PTS Đỗ
Nguyên Phương làm chủ nhiệm; “Khảo sát XHH về nhà ở của người nghèo ở Hà Nội”
SVTT: TRỊNH THỊ KIM OANH MSSV:08100109
4
BÁO CÁO KHOA HỌC GVHD: PGS.TS.TRẦN THỊ KIM XUYẾN
Viện Xã Hội Học, tháng 12 -1994; “Chương trình xóa đói giảm nghèo ở Hà Nội” Viện Xã
Hội Học, tháng 12 -1994; trên trang web có rất nhiều luận văn

BÁO CÁO KHOA HỌC GVHD: PGS.TS.TRẦN THỊ KIM XUYẾN
• Về điều kiện sinh hoạt trong gia đình như:
 Điều kiện nhà ở và trang thiết bị trong gia đình
 Thành phần bữa ăn và vệ sinh môi trường.
Qua đó cũng tìm hiểu và phân tích các yếu tố tác động ảnh hưởng tới thực trạng đói
nghèo của Raglay xã Khánh Nam, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa về các yếu tố như:
• Yếu tố giáo dục: xem xét trình độ học vấn (nhận thức) ảnh hưởng như thế
nào tới thực trạng nghèo đói của người Raglay.
• Yếu tố kinh tế: xem xét về lao động việc làm, vốn và đất sản xuất ảnh hưởng
như thế nào tới thực trạng nghèo đói của người Raglay.
Từ đó đưa ra những giải pháp nhằm đẩy lùi và hạn chế tối đa thực trạng đói nghèo
của người Raglay xã Khánh Nam nói riêng và của đồng bào trong cả nước nói chung.
5. Nội dung nghiên cứu
Đề tài này tôi tiến hành nghiên cứu với những nội dung sau:
Tìm hiểu về thực trạng nghèo đói của người dân Raglay xã Khánh Nam huyện
Khánh Vĩnh tỉnh Khánh Hòa về các mặt thu nhập, chi tiêu và điều kiện sinh hoạt của
người dân.
Phân tích các yếu tố tác động đến nghèo đói: đó là yếu tố giáo dục (trình độ học
vấn) và yếu tố kinh tế ( nghề nghiệp, vốn và đất sản xuất).
Đưa ra những giải pháp cụ thể nhằm đẩy lùi thực trạng nghèo đói ở xã Khánh Nam
huyện Khánh Vĩnh tỉnh Khánh Hòa.
6. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
6.1. Đối tượng
Thực trạng nghèo đói của người Raglay xã Khánh Nam huyện Khánh Vĩnh tỉnh
Khánh Hòa.
6.2. Khách thể
Các hộ gia đình ở xã Khánh Nam, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa.
6.3. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài này được nghiên cứu ở phạm vi xã Khánh Nam, huyên Khánh Vĩnh, tỉnh
Khánh Hòa.

7.2.1. Phương pháp thu thập thông tin sẵn có
Bằng phương pháp này, tôi sẽ thu thập những thông tin sẵn có thông qua các báo
cáo, các dự án Nông Thôn Mới, các nguồn dữ liệu của xã Khánh Nam, của huyện Khánh
Vĩnh tỉnh Khánh Hòa. Đồng thời tôi có sử dụng một số tài liệu trên internet và các đề tài
luận văn liên quan quan đến vấn đề nghèo đói để làm tiền đề cho tôi trong việc thực hiện
đề tài này.
7.2.2. Phương pháp quan sát
Đề tài này tôi sử dụng phương pháp quan sát với các hình thức quan sát như: quan
sát tham dự đầy đủ và quan sát tham dự công khai. Nhằm mục đích thấy rõ diễn biến của
SVTT: TRỊNH THỊ KIM OANH MSSV:08100109
7
BÁO CÁO KHOA HỌC GVHD: PGS.TS.TRẦN THỊ KIM XUYẾN
tình trạng nghèo đói của người dân. Thông qua cách sống, mức sống của mọi đối tượng
trong đời sống xã hội. Biểu hiện thông qua ăn, mặc, ở, lối sống, phong tục tập quán, thái độ
lao động. Bên cạnh đó thấy được những hành vi của người nghèo, việc làm của những
người tham gia thực hiện các giải pháp về xóa đói giảm nghèo trên địa bàn. Tất cả những
thông tin trên rất có ý nghĩa cho đề tài nghiên cứu.
7.2.3. Phương pháp phỏng vấn sâu định tính
Phỏng vấn sâu là một phương pháp thu thập thông tin định tính cho ta hiểu được
thái đô, kinh nghiệm và nhận thức của người được hỏi đối với vấn đề được nghiên cứu.
Qua đó phương pháp này giúp cho nhà nghiên cứu phát hiện ra nhiều vấn đề mới mẽ trong
quá trình nghiên cứu.
7.2.4. Phương pháp thu thập thông tin định lượng
Là việc thu thập thông tin bằng bảng hỏi, dựa trên những câu hỏi đóng với các
phương án trả lời hoặc những câu hỏi mở (không có đáp án). Qua đó cho thấy được những
con số về thực trạng nghèo đói của xã Khánh Nam huyện Khánh Vĩnh tỉnh Khánh Hòa.
8. Giả thuyết nghiên cứu
Đề tài này tôi đưa ra 3 giả thuyết cho vấn đề nghèo đói:
Người dân Raglay ở xã Khánh Nam có thu nhập rất thấp, chi tiêu không đủ ăn và có
điều kiện sinh hoạt rất khó khăn.

(nghề nghiệp,
vốn đất, đất
sản xuất…)
Thực trạng nghèo đói
(thu nhập, chi tiêu, điều kiện sinh hoạt)
Giải pháp
9
BÁO CÁO KHOA HỌC GVHD: PGS.TS.TRẦN THỊ KIM XUYẾN
2.3. Những yếu tố tác động đến vấn đề đói nghèo của người Raglay xã Khánh Nam
huyện Khánh Vĩnh tỉnh Khánh Hòa.
2.3.1. Yếu tố giáo dục
2.3.2. Yếu tố văn hóa
2.4. Những giải pháp đẩy lùi thực trạng nghèo đói.
PHẦN II. THỰC TRẠNG NGHÈO ĐÓI CỦA NGƯỜI RAGLAY XÃ KHÁNH
NAM - KHÁNH VĨNH - KHÁNH HÒA HIỆN NAY
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Phương pháp luận
Đề tài được thực hiện trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác
-Lê nin mà cốt lõi là học thuyết về sự phát triển xã hội, là lý luận chung nhất để nhận thức
thế giới khách quan dựa trên chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng
Đề tài này sẽ lấy chủ nghĩa duy vật lịch sử làm phương pháp luận nhận thức vấn đề
nghiên cứu. Vì vậy khi áp dụng phương pháp này cho đề tài nghiên cứu cần phải tuân thủ
những yêu cầu sau:
• Nhận thức không chỉ bên ngoài sự vật hiện tượng mà phải nhận thức được
bản chất bên trong cũng như vận động và kết quả của nó.
SVTT: TRỊNH THỊ KIM OANH MSSV:08100109
10
BÁO CÁO KHOA HỌC GVHD: PGS.TS.TRẦN THỊ KIM XUYẾN
• Khi xem xét các hiện tượng cần đặt chúng trong mối liên hệ biện chứng với

hội.
Lý thuyết kinh tế của Marx: Lý thuyết kinh tế của Marx không tách biệt ra khỏi xã
hội. Trong lý luận của mình, Marx coi kinh tế là nền tảng, là huyết mạch chi phối và làm
biến đổi toàn bộ toàn bộ xã hội. Marx chỉ ra vai trò quyết định của yếu tố vật chất, của lực
lượng sản xuất và phương thức sản xuất đối với hành động và ý thức của cá nhân, nhóm xã
hội. Điều này được phản ánh rõ trong luận điểm của Marx: Tồn tại xã hội quyết định ý
thức xã hội
Khái niệm phân tầng được xã hội học sử dụng thuật ngữ này để nói tới trạng thái
phân chia xã hội ra thành các tầng lớp. Tuy nhiên xét vào bản chất thì khái niệm này nhấn
mạnh yếu tố “tĩnh” trong khi xã hội luôn luôn biến đổi. Hơn nữa, trong xã hội không có sự
phân biệt rạch ròi giữa các tầng lớp mà thường xuyên có sự chuyển hóa lẫn nhau do tính cơ
động tạo nên.
Mặc dù vậy, thuật ngữ phân tầng cũng mô tả được trạng thái nhiều tầng lớp của xã
hội trong điều kiện thời gian và không gian nhất định. Đề tài nghiên cứu về thực trạng
nghèo đói cũng thể hiện rõ sự phân tầng. Trong xã hội, có thể tạm chia tầng lớp giàu và
tầng lớp nghèo. Tuy nhiên khi xem xét tầng lớp nghèo thì không thể xét chúng trong trật tự
“tĩnh”, tức là không có sự biến đổi. Khi xã hội phát triển đến một mức độ nào đó, tầng lớp
nghèo có thể sẽ thay đổi. Họ sẽ không còn ở vị trí nghèo nữa mà có thể di chuyển đến tầng
lớp giàu. Đó là sự thay đổi về thời gian. Sự biến đổi giàu nghèo cũng thể hiện ngay trong
chính không gian vùng địa lý nào đó, vùng này với vùng khác. Hay sự biến đổi đó diễn ra
ngay trong lòng vùng nghèo. Có thể nói phân tầng xã hội dựa vào sự biến đổi, sự vận động
của xã hội.
Nhìn chung nói đến phân tầng xã hội, một số tác giả đề cập đến bất bình đẳng xã
hội. Bất bình đẳng là sự không bình đẳng (không bằng nhau) về cơ hội hoặc lợi ích đối với
những cá nhân khác nhau nằm trong một nhóm hoặc nhiều nhóm xã hội. Phân hóa giàu
SVTT: TRỊNH THỊ KIM OANH MSSV:08100109
12
BÁO CÁO KHOA HỌC GVHD: PGS.TS.TRẦN THỊ KIM XUYẾN
nghèo gắn liền với sự phân hóa xã hội, phân tầng xã hội và bất bình đẳng xã hội. Tất cả các
hiện tượng này với các nguyên nhân, hình thức biểu hiện, hậu quả và xu hướng biến đổi

yếu tố mà cá nhân đó sống trong xã hội. Khi xã hội biến đổi thì nhu cầu của mỗi người sẽ
biến đổi theo từng thời điểm lịch sử cụ thể. Theo cách tiếp cận này thì thực trạng nghèo ở
mỗi vùng, mỗi nơi sẽ không giống nhau. Khi kinh tế của tỉnh nói chung và xã nói riêng
thay đổi sẽ làm cho thực trạng nghèo đói này thay đổi: Số lượng nghèo sẽ ít đi, đời sống
của đại bộ phận dân cư xã Khánh Nam sẽ khá lên.
1.2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Thực trạng nghèo đói trên thế giới đang diễn ra theo nhiều chiều hướng rất báo
động. Theo một nhà nghiên cứu của WB thì nguy cơ đối với những người nghèo đang tiếp
tục gia tăng trên quy mô toàn cầu, tốc độ tăng trưởng kinh tế suy giảm trong năm 2009 đã
đẩy thêm 53 triệu người nữa rơi vào tình trạng đói nghèo.
Trên trang web có bài viết bách khoa
tên nghèo, đã nêu lên được thực trạng nghèo đói trên thế giới, cũng như đưa ra những số
liệu để minh chứng cho tình trạng nghèo đói của một số nước như nạn nghèo đói ở Áo,
Đức, Mỹ và ở Việt Nam.
Theo số liệu của Bộ Xã hội ("Báo cáo về tình trạng xã hội 2003–2004") thì trong
năm 2003 có hơn 1 triệu người ở Áo (13,2% dân cư) có nguy cơ nghèo. Trong năm 2002 là
900.000 hay 12%, năm 1999 là 11%. Ranh giới nguy cơ nghèo là 60% của thu nhập trung
bình. Theo đó thì cứ mỗi 8 người thì có 1 người là có thu nhập ít hơn 785 Euro/tháng. Phụ
nữ có tỷ lệ nguy cơ nghèo cao hơn (14%). Theo số liệu từ "Báo cáo giàu và nghèo lần thứ
hai" do chính phủ liên bang Đức đưa ra trong tháng 3 năm 2005 thì trong năm 2003 có
13,5% dân số là nghèo. Năm 2002 cũng theo các số liệu này thì con số đó còn là 12,7%,
năm 1998 là 12,1%. Trẻ em và thanh niên ở Đức có nguy cơ nghèo cao. 15% trẻ em dưới
15 tuổi và 19,1% thanh niên từ 16 đến 24 tuổi thuộc vào diện này. Ngược lại thì nạn nghèo
SVTT: TRỊNH THỊ KIM OANH MSSV:08100109
14
BÁO CÁO KHOA HỌC GVHD: PGS.TS.TRẦN THỊ KIM XUYẾN
ở người già tại Đức giảm đi từ 13,3% năm 1998 xuống 11,4% trong năm 2003. Theo số
liệu của Cục điều tra dân số tháng 8 năm 2005 thì ở Mỹ có số người có thu nhập dưới ranh
giới nghèo đã liên tiếp tăng, và có 12,7% dân số hay 37 triệu người nghèo.
Ở Việt Nam tình trạng nghèo đói đang là vấn đề mà toàn xã hội quan tâm, hiện nay

nguồn lực, năng lực của vùng. Đồng thời, đề tài nêu lên những mặt đạt được trong công tác
xóa đói giảm nghèo. Tuy nhiên đề tài này chưa có những dẫn chứng thực tế để minh họa,
mà chủ yếu các phân tích trong đề tài chỉ dựa vào các dữ liệu trên sách bào và các tạp chí.
Tuy vậy, nó vẫn là cơ sở để cho các nghiên cứu sau được tốt hơn.
(Nguồn: />giam-ngheo-va-tac-dong-cua-chinh-sach-xoa-doi-giam-ngheo-o-vung-dong-
bao-dan-toc-thieu-so-3754/ )
Đề tài : "Thực trạng đói nghèo và chính sách giảm nghèo ở Việt Nam" bằng việc
so sánh, phân tích các số liệu thu được và tổng hợp đưa ra những kết luận chung nhất về
nghèo đói ở Việt Nam. Tác giả cũng đi tìm hiểu về thực trạng nghèo đói ở Việt Nam, tìm
hiểu về công tác xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam. Qua đó nêu lên những thành tích cũng
như những tồn tại trong công tác xóa đói giảm nghèo. Tuy nhiên, đề tài này còn nhiều hạn
chế, đề tài chưa nêu rõ phương pháp nghiên cứu, chưa nêu ra lý thuyết và cách tiếp cận cụ
thể lầ gì?. Đề tài chỉ đưa ra những số liệu và phân tích chung nhất về thực trạng nghèo đói,
về công tác xóa đói giảm nghèo, cũng như nêu lên những thành tích cũng như những mặt
hạn chế trong công tác xóa đói nghèo ở Việt Nam. Chưa đi vào nghiên cứu cụ thể ở một
tỉnh hay địa phương nào. Đề tài này nó làm tiền đề cho tôi nghiên cứu sâu và cụ thể hơn
về vấn đề nghèo đói ở xã Khánh Nam, huyện Khánh Vĩnh tỉnh Khánh Hòa.
(Nguồn: />sach-giam-ngheo-o-viet-nam-11653/ )
Đề tài: "Thực trạng và giải pháp Xoá đói giảm nghèo ở huyện Như Thanh – Thanh
Hoá". Tác giả đưa ra các khái niệm cơ bản về nghèo đói, đưa ra các chuẫn nghèo và các
khái niệm liên quan đến vấn đề nghèo đói. Qua đó, tác giả cũng tìm hiểu về các nhân tố
ảnh hưởng khách quan và chủ quan tác động tới nghèo đói, và nêu lên những bài học kinh
nghiệm trong công tác xóa đói giảm nghèo ở huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa. Tuy
nhiên trong đề tài này tác giả chưa nêu lên đucợ phương pháp nghiên cứu , các lý thuyết và
SVTT: TRỊNH THỊ KIM OANH MSSV:08100109
16
BÁO CÁO KHOA HỌC GVHD: PGS.TS.TRẦN THỊ KIM XUYẾN
các cách tiếp cận, đây chỉ là cuộc nghiên cứu nhỏ, tìm hiểu và phân tích các số liệu sẵn có.
Đề tài vẫn chưa làm sáng tỏ được thực trạng nghèo đói ở huyện Như Thanh tỉnh Thanh
Hóa diễn ra như thế nào. Tuy vậy, tôi nhận thấy đề tài có cái hay là nêu ra được các yếu tố

về tình hình nhân khẩu lao động, về phương tiện sinh hoạt. Qua đó tác giả cho chúng ta
thấy được những nguyên nhân cơ bản dẫn đến nghèo đói đó là do trình độ học vấn, do diện
tích đất canh tác , do năng suất cây trồng và tình hình vay vốn đặc biệt nữa, tác giả còn
nêu lên những công tác xóa đói giảm nghèo mà tỉnh ĐăkLăk đã thực hiện, qua đó nêu lên
những mặt còn tồn tại trong công tác xóa đói giảm nghèo. Hạn chế của đề tài này là: đề
tài chỉ sử dụng những số liệu thứ cấp thu thập được trên báo, internet và những dữ liệu
thu thập được qua những số liệu sơ cấp mà tác giả thu thập được ở các cơ quan địa
phương, như các báo cáo, các chuyên đề về địa bàn. Vì vậy, các vấn đề tác giả làm được
chỉ mang hình thcứ chung chung, sơ bộ về tình hình nghèo đói ở địa phương, đưa ra những
nguyên nhân mang tinh chất cơ bản, chưa có những ý kiến cụ thể của các hộ gia đình để
dẫn chứng cho thực trạng nghèo đói. Tuy vậy, báo cáo này cũng làm nền tảng cơ bản, làm
nền móng cho những nghiên cứu tiếp theo được tốt hơn. Tôi cũng học hỏi được ở đề tài ở
chổ, là trong đề tài nghiên cứu tôi sẽ đi sâu và phân tích những thực trạng nghèo đói, tìm ra
những yếu tố tác động đến nghèo đói trên địa bàn nghiên cứu ở tỉnh Khánh Hòa.
(Nguồn: />doi-giam-ngheo-tai-xa-hoa-son-huyen-krong-bong-tinh-daklak-26889/ )
Bài viết: "Phân tích những nhân tố ảnh hưởng tới tình hình nghèo đói của các hộ
ngư dân ven đầm Nha Phu, huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa" của tác giả Đào Công Thiên
- Sở Nông Nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Khánh Hòa. Bằng việc sử dụng phương
pháp điều tra thực địa tại các hộ ngư dân ven đầm Nha Phu, mô hình hồi qui đa biến và hồi
quy phi tuyến Binary Logistic được xây dựng để phân tích những nhân tố ảnh hưởng tới
tình hình nghèo đói của các hộ ngư dân khu vực này. Kết quả nghiên cứu cho thấy những
nguyên nhân ảnh hưởng tới đói nghèo ở khuc vực này bao gồm việc làm, đất đai, vốn, quy
mô hộ và vấn đề giới tính trong đó quan trọng nhất là tình trạng việc làm. Đồng thời kết
quả nghiên cứu cũng cho thấy ảnh hưởng độc lập của từng yếu tố đến xác suất nghèo của
một hộ gia đình . Tuy bài viết chỉ là cuộc điều tra và phân tích nhỏ, nhưng tác giả đã nêu
SVTT: TRỊNH THỊ KIM OANH MSSV:08100109
18
BÁO CÁO KHOA HỌC GVHD: PGS.TS.TRẦN THỊ KIM XUYẾN
lên và phân tích rõ tình hình nghèo nghèo đói rất cụ thể và có số liệu rất rõ ràng, giúp
người đọc đẽ dàng nhận thấy rõ các nhân tố tác động tới vấn đề nghèo đói ở Khánh Hòa.

hội của đời sống gia đình ở con người. Gia đình ở loài người luôn bị ràng buộc bởi các quy
định, các chuẩn mực giá trị, sự kiểm tra và sự tác động của xã hội; vì thế theo các nhà xã
hội học, thuật ngữ gia đình chỉ nên dùng để nói về gia đình loài người.
Thực tế, gia đình là một khái niệm phức hợp bao gồm các yếu tố sinh học, tâm lý,
văn hóa, kinh tế, khiến cho nó không giống với bất kỳ một nhóm xã hội nào. Từ mỗi một
góc độ nghiên cứu hay mỗi một khoa học khi xem xét về gia đình đều có thể đưa ra một
khái niệm gia đình cụ thể, phù hợp với nội dung nghiên cứu phù hợp và chỉ có như vậy
mới có cách tiếp cận phù hợp đến với gia đình.
Đối với xã hội học, gia đình thuộc về phạm trù cộng đồng xã hội. Vì vậy, có thể
xem xét gia đình như một nhóm xã hội nhỏ, đồng thời như một thiết chế xã hội mà có vai
trò đặc biệt quan trọng trong quá trình xã hội hóa con người. “Gia đình là một thiết chế xã
hội đặc thù, một nhóm xã hội nhỏ mà các thành viên của nó gắn bó với nhau bởi quan hệ
hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ con nuôi, bởi tính cộng đồng về sinh hoạt,
trách nhiệm đạo đức với nhau nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng của mỗi thành viên
cũng như để thực hiện tính tất yếu của xã hội về tái sản xuất con ngườ”i.
• Khái niệm hộ gia đình
Theo giáo sư Phan Đại Doãn: “Hộ gia đình là khái niệm chỉ một hình thức tồn tại
của một kiểu nhóm xã hội lấy gia đình làm nền tảng. Hộ gia đình trước hết là một tổ chức
kinh tế có tính chất hành chính và địa lý”
1.3.2. Định nghĩa nghèo đói
Hội nghị quốc tế về xóa đói giảm nghèo tổ chức tại Băng Cốc (Thái Lan), tháng
9/1993 đã đưa ra định nghĩa “Nghèo” như sau: “Nghèo là tình trạng của một bộ phận dân
cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người, mà nhu cầu này
được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán địa
phương”.
SVTT: TRỊNH THỊ KIM OANH MSSV:08100109
20
BÁO CÁO KHOA HỌC GVHD: PGS.TS.TRẦN THỊ KIM XUYẾN
1.3.3. Nghèo tuyệt đối
Theo ngân hàng Châu Á thì nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không

BÁO CÁO KHOA HỌC GVHD: PGS.TS.TRẦN THỊ KIM XUYẾN
Vĩnh và 1 vài xã miền núi các huyện Diên Khánh, Cam Lâm và thành phố Cam Ranh trong
các bản làng (palây).
Khánh Vĩnh là huyện miền núi, tiếp giáp với đồng bằng, Bắc giáp huyện Ninh Hoà
và tỉnh Đắk Lắk, Đông giáp Diên Khánh, Nam giáp Khánh Sơn, Tây giáp Đắk Lắk và Lâm
Đồng, Khánh Vĩnh có 13 xã và 1 thị trấn. Tổng diện tích tự nhiên của toàn huyện
1.165km
2
, tổng dân số 31.3478 người, mật độ dân cư vào loại thấp nhất toàn tỉnh: 24
người/km
(Nguồn: )
Địa phận huyện nằm ở đầu nguồn của sông Cái Nha Trang với diện tích rừng chiếm
90% diện tích tự nhiên. Dân cư chủ yếu sống bằng nghề nông nghiệp và lâm nghiệp. Đồng
bào các dân tộc thiểu số đã có cuộc sống định canh định cư, đã có tập quán sản xuất lúa
nước tương đối ổn định và đang phát triển trồng mía thành vùng chuyên canh cây nguyên
liệu tập trung theo qui hoạch của tỉnh. Huyện lỵ là thị trấn Khánh Vĩnh nằm trên đường
SVTT: TRỊNH THỊ KIM OANH MSSV:08100109
22
BÁO CÁO KHOA HỌC GVHD: PGS.TS.TRẦN THỊ KIM XUYẾN
tỉnh lộ 2, cách Nha Trang 35km về phía Tây. Một trục giao thông mới mở nối liền Nha
Trang với Đà Lạt qua thị trấn Khánh Vĩnh, sẽ rút ngắn khoảng cách giữa Khánh Hòa-
Lâm Đồng trong tương lai.
Khánh Vĩnh là căn cứ địa cách mạng của quân dân Khánh Hòa trong hai cuộc
trường kỳ kháng chiến với các địa danh hào hùng như sân bay dã chiến Hòn Xã, Hòn
Nhạn, Soi Mít, Hòn Dù, buôn Gia Lê, Hòn Bà và căn cứ lịch sử Hòn Dữ.
Xã Khánh Nam nằm về hướng Bắc huyện Khánh Vĩnh, cách trung tâm huyện
khoảng 2 km. Ranh giới hành chánh được xác định như sau: phía Đông giáp xã Diên Đồng
huyện Diên Khánh, phía Tây giáp xã Cầu Bà và xã Khánh Thượng, phia Nam giáp với
Sông Cái và Sông Cầu, phía Bắc giáp với Khánh Trung.
Khánh Nam là một xã miền núi với tổng diện tích là 4.214,81 ha, trong đó đất sản

đậm của các dân tộc trong cùng nhóm ngôn ngữ (như Chăm, Ê Đê ).
(Nguồn: )
2.2. Thực trạng nghèo đói của người Raglay xã Khánh Nam huyện Khánh Vĩnh tỉnh
Khánh Hòa.
Trong quá trình điều tra nghiên cứu và tìm hiểu về địa bàn nghiên cứu, tôi nhận
thấy rằng Khánh Hòa là một tỉnh có nhiều tiềm năng để phát triển về kinh tế, tuy nhiên vấn
đề nghèo đói vẫn đang diễn ra ở một số xã miền núi thuộc vùng sâu vùng xa. Huyện Khánh
Vĩnh là một trong những huyện có số liệu nghèo rất cao trong tỉnh, chiếm 2.766 hộ nghèo,
đặc biệt là xã Khánh Nam chiếm 204 hộ nghèo/478 hộ. Vấn đề này đang được xã hội cũng
như cán bộ địa phương quan tâm. Để thấy rõ được thực trạng nghèo đói đang diễn ra như
thế nào? Tôi sẽ đi sâu vào tìm hiểu và phân tích thực trạng nghèo đói thông qua các tiêu
chí sau:
• Tìm hiểu về thu nhập của hộ gia đình
SVTT: TRỊNH THỊ KIM OANH MSSV:08100109
24
BÁO CÁO KHOA HỌC GVHD: PGS.TS.TRẦN THỊ KIM XUYẾN
• Tìm hiểu về vấn đề chi tiêu trong gia đình
• Tìm hiểu về điều kiện sinh hoạt trong gia đình
2.2.1. Về thu nhập của hộ gia đình.
Theo ủy ban kinh tế và xã hội châu Á Thái Bình Dương của Liên hiệp quốc
(UNESCAP) thì cho rằng thu nhập có thể đo lường để đánh giá sự nghèo đói, cách biệt
giàu nghèo, bất bình đẳng và mức độ thoát nghèo của một quốc gia. (báo: kinh tế sài gòn
online).
Khi xuống địa bàn nghiên cứu, bằng các phương pháp nghiên cứu đã học tôi đã
quan sát và nhận thấy cuộc sống của người dân ở đây rất khó khăn, các hộ dân ở đây chủ
yếu sống bằng nghề nông nghiệp. Theo đề án nông thôn mới, xã Khánh Nam là một xã
nông nghiệp nông nghiệp nông thôn miền núi, nông nghiệp giữ vai trò quan trọng trong cơ
cấu kinh tế, chiếm tỷ trọng 90% tổng giá trị sản xuất, các ngành kinh tế công nghiệp và
thương mại còn rất hạn chế, thu nhập bình quân đầu người là 4,8 triệu đồng/người/năm. ở
đây người dân chủ yếu là trồng các loại cây như lúa nước, mì, bắp, mía…và các loại hoa

Trích đoạn Những giải pháp đẩy lùi nạn nghèo đói. PHẦN III KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 3.1 Kết luận
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status