giải pháp nâng cao chất lƣợng cho vay trung và dài hạn đối với doanh nghiệp tại ngân hàng vietcombank chi nhánh thành công - Pdf 24

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
o0o

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG CHO
VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN ĐỐI VỚI DOANH
NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG VIETCOMBANK
CHI NHÁNH THÀNH CÔNG

SV THỰC HIỆN : PHẠM NGỌC HUÂN

MÃ SV
: A16521

CHUYÊN NGÀNH : NGÂN HÀNG
HÀ NỘI – 2014 BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
o0o
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG CHO
VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN ĐỐI VỚI DOANH
NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG VIETCOMBANK
CHI NHÁNH THÀNH CÔNG

GV hƣớng dẫn : ThS. Ngô Khánh Huyền


Phạm Ngọc Huân
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện có sự hỗ
trợ từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của người
khác. Các dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong Khóa luận là có nguồn gốc và được
trích dẫn rõ ràng.
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!
Sinh viên

MỤC LỤC
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG CHO VAY TRUNG VÀ
DÀI HẠN CỦA NHTM 1
1.1. Tổng quan về hoạt động cho vay trung và dài hạn đối với doanh nghiệp của
NHTM 1
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm cho vay 1
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm về doanh nghiệp Việt Nam 1
1.1.2.1. Khái niệm về doanh nghiệp 1
1.1.2.2. Đặc điểm về doanh nghiệp Việt Nam hiện nay 1
1.1.3. Khái niệm và đặc điểm cho vay trung và dài hạn đối với doanh nghiệp 2
1.1.3.1. Khái niệm về cho vay trung-dài hạn đối với doanh nghiệp 2
1.1.3.2. Đặc điểm cho vay trung và dài hạn đối với doanh nghiệp 3
1.1.4. Các loại hình cho vay trung và dài hạn đối với doanh nghiệp 3

1.3.2. Các nhân tố khách quan 22
1.3.2.1. Môi trường kinh tế 22
1.3.2.2. Môi trường chính trị xã hội 22
1.3.2.3. Môi trường pháp lý 22
1.3.2.4. Môi trường tự nhiên 23
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG CHẤT LƢỢNG CHO VAY TRUNG VÀ DÀI
HẠN TẠI VIETCOMBANK CHI NHÁNH THÀNH CÔNG 24
2.1. Giới thiệu sơ lƣợc về ngân hàng Vietcombank Việt Nam và chi nhánh ngân
hàng Vietcombank Thành Công 24
2.1.1. Giới thiệu về ngân hàng Vietcombank Việt Nam 24
2.1.2. Giới thiệu về ngân hàng Vietcombank chi nhánh Thành Công 24
2.1.2.1. Quá trình hình thành và phát triển của Vietcombank chi nhánh Thành Công

24
2.1.2.2. Cơ cấu tổ chức và chức năng các phòng ban của Vietcombank Thành Công

27
2.2. Tình hình hoạt động kinh doanh tại ngân hàng Vietcombank Thành Công 29
2.2.1. Hoạt động huy động vốn 29
2.2.2. Hoạt động cho vay 33
2.2.2.1. Cơ cấu cho vay 33
2.2.2.2. Công tác phát triển sản phẩm dịch vụ và khách hàng 35
2.3. Thực trạng hoạt động cho vay trung -dài hạn đối với doanh nghiệp tại
Vietcombank Thành Công 36
2.3.1. Quy trình cho vay trung và dài hạn đối với doanh nghiệp 37
2.3.2. Cơ cấu cho vay trung và dài hạn đối với doanh nghiệp 40
2.3.2.1. Cơ cấu cho vay trung và dài hạn theo đối tượng doanh nghiệp 41
2.3.2.2. Cơ cấu các loại hình cho vay trong cho vay trung- dài hạn đối với doanh
nghiệp


tại Vietcombank chi nhánh Thành Công 62
3.2.1. Về công tác huy động vốn. 62
3.2.2. Về công tác cho vay. 63
3.2.3. Xử lý nợ quá hạn 65
3.2.4. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. 67
3.2.5. Các giải pháp khác. 68
3.3. Một số kiến nghị 69
3.3.1.1. Kiến nghị với ngân hàng Viecombank Việt Nam 69
3.3.1.2. Kiến nghị với các khách hàng doanh nghiệp của Vietcombank Thành Công 70
3.3.1.3. Kiến nghị với NHNN 71
3.3.1.4. Kiến nghị với cơ quan quản lý nhà nước. 72 DANH MỤC VIẾT TẮT
CBTD
Cán bộ tín dụng
CIC
Trung tâm tín dụng
CSH
Chủ sở hữu
DAĐT
Dự án đầu tư
DPRR
Dự phòng rủi ro
NHNN
Ngân hàng nhà nước
NHNT

Vietcombank Thành Công 44
Bảng 2.5 Tỷ lệ sử dụng vốn trung-dài hạn đối với doanh nghiệp tại chi nhánh
Vietcombank Thành Công giai đoạn 2011-2013 45
Bảng 2.6 Tỷ lệ lợi nhuận và tỷ trọng lợi nhuận trong cho vay trung-dài hạn đối với
doanh nghiệp của chi nhánh Vietcombank Thành Công 46
Bảng 2.7 Tỷ lệ cho vay trung-dài hạn có TSĐB đối với doanh nghiệp của
Vietcombank Thành Công giai đoạn 2011-2013 47
Bảng 2.8 Hệ số vòng quay vốn trung-dài hạn đối với doanh nghiệp của Vietcombank
Thành Công giai đoạn 2011-2013 48
Bảng 2.9 Tình hình nợ xấu trung- dài hạn đối với doanh nghiệp tại Vietcombank
Thành Công giai đoạn 2011-2013 48
Bảng 2.10 Tỷ lệ nợ quá hạn trong cho vay trung-dài hạn đối với doanh nghiệp tại
Vietcombank Thành Công giai đoạn 2011-2013 50
Bảng 2.11 Tỷ lệ trích lập DPRR cho vay trung- dài hạn đối với doanh nghiệp 51

LỜI MỞ ĐẦU
1.
Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Mục tiêu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước ta được Đảng
Cộng sản Việt Nam xác định tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI và tiếp tục
khẳng định tại các kỳ Đại hội IX, X và XI là “Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
và phát triển kinh tế tri thức, tạo nền tảng để đưa nước ta cơ bản trở thành một nước
công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020”[1]. Trong giai đoạn kể từ năm 2011
đến nay, nền kinh tế Việt Nam phải đứng trước rất nhiều những khó khăn. Các tác
động từ nền kinh tế thế giới, khủng hoảng nợ công châu Âu đã làm nền kinh tế nước ta
xuất hiện những bất ổn, đó là vấn đề về lạm phát, suy giảm thị trường chứng khoán, thị
trường bất động sản đóng băng. Các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay cũng vì thế mà

Mục đích nghiên cứu đề tài
 Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là hệ thống hóa lại các kiến thức trong
ngân hàng thương mại (NHTM). Nghiên cứu lý luận những vấn đề cơ bản, xác định sự
cần thiết của việc nâng cao chất lượng hoạt động cho vay trung- dài hạn đối với doanh
nghiệp của ngân hàng.
 Phân tích, đánh giá chất lượng hoạt động cho vay trung và dài hạn của ngân
hàng Vietcombank chi nhánh Thành Công. Từ thực trạng đã phân tích, nhìn nhận được
những kết quả đã đạt được cũng như các mặt còn hạn chế để đưa ra những giải pháp,
kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng và giảm thiểu rủi ro khi cho vay trung- dài hạn
đối với doanh nghiệp tại chi nhánh ngân hàng.
3.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu đề tài
 Đối tượng nghiên cứu: Chất lượng cho vay trung- dài hạn đối với doanh
nghiệp của ngân hàng Vietcombank chi nhánh Thành Công.
 Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động cho vay trung – dài hạn đối với doanh nghiệp
của ngân hàng Vietcombank chi nhánh Thành Công giai đoạn 2011-2013
4.
Phƣơng pháp nghiên cứu
Vận dụng các phương pháp luận khoa học: phương pháp phân tích, tổng hợp,
thống kê so sánh giữa khái niệm và thực tế. Sử dụng các sơ đồ bảng biểu để minh họa.
5.
Kết cấu của bài khóa luận
Tên đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lƣợng cho vay trung và dài hạn đối với
doanh nghiệp tại ngân hàng Vietcombank chi nhánh Thành Công”
Bố cục khóa luận: Ngoài phần mở đầu và kết luận, bài khóa luận gồm có 03
chương:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về chất lƣợng cho vay trung và dài hạn của NHTM.
Chƣơng 2: Thực trạng chất lƣợng cho vay trung và dài hạn đối với doanh
nghiệp tại ngân hàng Vietcombank chi nhánh Thành Công.
Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng cho vay trung và dài hạn đối với

điểm khi tiếp cận doanh nghiệp thì các phát biểu lại mang lại một ý nghĩa khác nhau.
Tuy nhiên, xét theo quan điểm của ngân hàng thì doanh nghiệp được định nghĩa:
“Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân, quy tụ các phương tiện tài chính,
vật chất và con người nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng, tiêu thụ sản
phẩm hoặc dịch vụ, trên cơ sở tối đa hóa lợi ích của người tiêu dùng, thông qua đó tối đa
hóa lợi của chủ sở hữu, đồng thời kết hợp một cách hợp lý các mục tiêu xã hội”[3]
1.1.2.2. Đặc điểm về doanh nghiệp Việt Nam hiện nay
Các doanh nghiệp ở nước ta hiện nay có một số đặc điểm sau:
 Quy mô vốn của các doanh nghiệp còn nhỏ: Đa phần các doanh nghiệp ở Việt
Nam có quy mô sản xuất kinh doanh (SXKD) nhỏ và luôn trong tình trạng thiếu vốn,
không đủ vốn để đáp ứng cho việc mở rộng quy mô sản xuất, đầu tư cải tiến máy móc
1 thiết bị. Doanh nghiệp khó tiếp cận vốn từ chứng khoán bởi thị trường khủng hoảng và
giảm sút trong giai đoạn hiện nay. Vay vốn từ ngân hàng vẫn là sự lựa chọn chính của
các doanh nghiệp. Tuy nhiên, với quy mô vốn nhỏ, thiếu tài sản thế chấp, năng lực tài
chính chưa cao nên việc vay vốn từ các ngân hàng cũng gặp rất nhiều khó khăn.
 Trình độ sử dụng công nghệ thấp: Theo diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) về
chuyển giao công nghệ, thì chỉ có khoảng 15% doanh nghiệp đạt trình độ công nghệ
tiên tiến, phần lớn là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Trong khi các nước
trong khu vực như Philippines là 29%, Malaysia 51%, Singapore 73%. Việc sử dụng
các công nghệ lạc hậu dẫn đến chất lượng sản xuất không cao, tính cạnh tranh trên thị
trường yếu kém. Doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm, thâm nhập thị
trường và phân phối sản phẩm. Công tác Marketing thiếu hiệu quả.
 Năng lực, trình độ chuyên môn của các doanh nghiệp chưa cao: Trong các
doanh nghiệp, tổ chức quản lý còn cồng kềnh, tổ chức hành chính rườm rà chưa được
sửa đổi làm cho doanh nghiệp thiếu năng động, linh hoạt và không đáp ứng kịp thời
yêu cầu của thị trường. Trình độ cán bộ quản lý thấp, theo điều tra hơn 63000 doanh
nghiệp cả nước cho thấy 43,3% lãnh đạo doanh nghiệp có trình độ THPT, số người là

doanh nghiệp.
 Giá trị khoản vay lớn: Giá trị khoản vay lớn cũng là một đặc điểm của cho vay
trung- dài hạn. Bởi vì, đối tượng chủ yếu của cho vay trung và dài hạn là những chi phí
để hình thành nên cơ sở vật chất kỹ thuật mới hoặc cải tạo, mở rộng, nâng cấp cơ sở hạ
tầng kỹ thuật đã có sẵn của doanh nghiệp. Đây là một hoạt động rất đa dạng và phức
tạp, cần phải có sự sắp xếp, bố trí các công việc một cách khoa học, tiến hành thực
hiện theo một trình tự nhất định, có sự quản lý chặt chẽ. Đòi hỏi doanh nghiệp phải có
một khối lượng vốn lớn nhằm tạo ra một tài sản cố định, một năng lực sản xuất mới.
 Lãi suất cao: Cho vay trung và dài hạn đối với doanh nghiệp diễn ra trong một
thời gian dài. Trong thời gian này việc sử dụng vốn vay cũng như hoạt động kinh doanh
khác của doanh nghiệp đi vay luôn bị ảnh hưởng, chi phối trực tiếp hoặc gián tiếp bởi rất
nhiều các yếu tố phức tạp như: tình hình kinh tế chính trị - xã hội, pháp luật, các yếu tố
thuộc về tự nhiên: hạn hán, lũ lụt, động đất Sự biến động này không thể dự đoán được
trước có thể tác động gây nên những hậy quả, tổn thất cho bên đi vay cũng như ngân
hàng. Chính vì cho vay trung và dài hạn đối với doanh nghiệp chứa đựng nhiều rủi ro
nên ngân hàng phải đặt mức lãi suất cao để có thể bù đắp khi xảy ra rủi ro.
1.1.4. Các loại hình cho vay trung và dài hạn đối với doanh nghiệp
1.1.4.1. Cho vay theo DAĐT
Cho vay theo DAĐT là phương thức cho vay trong đó “TCTD cho doanh nghiệp
vay vốn để thực hiện các DAĐT phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các DAĐT
phục vụ đời sống” [4]. Với hình thức cho vay này chủ đầu tư dự án là khách hàng, các
chi phí của dự án là đối tượng cho vay.
Cho vay theo dự án thường với thời gian dài, rủi ro cao. Vì vậy, để giảm thiểu rủi
ro, ngoài việc quy định tài sản đảm bảo, ngân hàng cho vay còn quy định doanh
nghiệp phải có vốn chủ sở hữu (CSH) tham gia vào dự án. Tỷ lệ vốn CSH tham gia
vào dự án cao hay thấp tùy thuộc vào độ rủi ro và hiệu quả của dự án. Hiện nay, một
số NHTM Việt Nam quy định mức vốn CSH của doanh nghiệp tham gia vào dự án là:
3
dụng nhiều nhất khi doanh nghiệp không chắc chắn về thời gian của các luồng tiền mặt
hoặc về quy mô chính xác của nhu cầu vay vốn trong tương lai. Cho vay luân chuyển
giúp doanh nghiệp có thể giảm mức độ biến động trong chu kì kinh doanh, cho phép
hãng vay thêm tiền mặt trong lúc khó khăn khi mà doanh số bán hàng giảm và cho
phép hoàn trả khi nguồn thu bằng tiền tăng lên. Ở những nơi mà pháp luật quy định về
việc ngân hàng phải chấp nhận mọi yêu cầu vay vốn trong thời hạn của hạn mức cho
4 vay thì ngân hàng thường sẽ tính phí cam kết vay vốn trên phần cho vay không sử
dụng hoặc trên toàn bộ giá trị hợp đồng cho vay luân chuyển.
Cam kết vay vốn thường có 2 loại:
 Cam kết vay vốn chính thức: Đây là cam kết phổ biến nhất có tính chất hợp đồng
trong đó ngân hàng đảm bảo sẽ cho doanh nghiệp vay tới lượng vốn tối đa xác định trước
với lãi suất đã ấn định hoặc với lãi xuất thay đổi trên cơ sở những lãi xuất cơ bản như
LIBOR. Đối với loại cam kết này, ngân hàng có thể không thực hiện nghĩa vụ cho vay
nếu như tình hình tài chính của người vay có những thay đổi bất lợi nghiêm trọng hoặc
khi ngượi vay không thực hiện đầy đủ các điều khoản trong hợp đồng với ngân hàng.
 Hạn mức cho vay bảo đảm: Là loại ít chặt chẽ hơn, theo đó ngân hàng đồng ý
cho doanh nghiệp vay trong trường hợp khẩn cấp. Mặc dù lãi suất không được ấn định
trước và doanh nghiệp ít khi có ý định vay tiền theo hình thức này nhưng họ vẫn kí hợp
đồng với mục đích dùng nó như một vật bảo đảm để có thể vay vốn từ những nguồn
khác. Ngân hàng chỉ dùng những cam kết nới lỏng cho các hãng có chất lượng cho vay
cao nhất và thường định giá thấp hơn nhiều so với lại cam kết cho vay chính thức. Cam
kết cho vay loại này cho phép doanh nghiệp nhanh chóng nhận được tiền vay và đây là
một ưu điểm quan trọng nếu như doanh nghiệp muốn vay vốn từ một tổ chức khác.
1.1.4.3. Cho vay hợp vốn
Cho vay hợp vốn là hình thức cho vay trong đó có từ 2 hay nhiều TCTD tham gia
vào một DAĐT hay phương án SXKD của một doanh nghiệp vay vốn. Bên cho vay
hợp vốn là hai hay nhiều TCTD cam kết với nhau để thực hiện hợp đồng tài trợ cho

Nếu cho vay ngắn hạn là để bổ sung nguồn vốn lưu động (VLĐ) của doanh
nghiệp, thì cho vay trung và dài hạn lại nhằm tài trợ tài trợ cho bất động sản, xây dựng
cơ sở hạ tầng hoặc hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật đáp ứng nhu cầu SXKD, phát
triển dài hạn của doanh nghiệp.
1.1.5.2. Nguyên tắc cho vay trung và dài hạn đối với doanh nghiệp
Việc vay vốn là nhu cầu tự nguyện của doanh nghiệp và là cơ hội để ngân hàng
cho vay và thu lợi nhuận từ hoạt động của mình. Tuy nhiên cho vay trung và dài hạn
liên quan đến việc sử dụng vốn huy động của doanh nghiệp nên phải tuân thủ theo
những nguyên tắc nhất định. Nói chung, doanh nghiệp vay vốn của ngân hàng phải
dựa trên nguyên tắc:
 Sử dụng vốn đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng cho vay.
 Phải hoàn trả tiền gốc và tiền lãi vay đúng hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng
cho vay.
 Việc bảo đảm tiền vay phải thực hiện quy định của chính phủ và của thống
đốc ngân hàng nhà nước (NHNN).
1.1.5.3. Điều kiện cho vay trung và dài hạn đối với doanh nghiệp
Để được vay vốn, doanh nghiệp đi vay phải đến ngân hàng lập hồ sơ vay vốn. Hồ
sơ vay vốn gồm: Đơn xin cấp vay, giấy chứng nhận đầu tư, đăng ký kinh doanh, giấy
chứng nhận sở hữu tài sản cầm cố thế chấp,
Mặc dù khi cho vay, ngân hàng yêu cầu doanh nghiệp vay vốn phải đảm bảo các
nguyên tắc như vừa nêu trên, nhưng thực tế không phải doanh nghiệp nào cũng có thể
tuân thủ đúng các nguyên tắc này. Do vậy, để giúp cho việc đảm bảo các nguyên tắc
vay vốn, ngân hàng chỉ xem xét cho vay khi doanh nghiệp thỏa mãn một số điều kiện
6 vay nhất định. Theo quy chế cho vay doanh nghiệp do NHNN ban hành, các điều kiện
vay vốn doanh nghiệp cần có bao gồm:
 Pháp nhân phải có năng lực pháp luật dân sự;
 Có mục đích vay vốn hợp pháp;

chỉ là người trung gian đóng vai trò quản lý, giải ngân và thu hồi vốn đầu tư.
7 1.1.5.5. Hạn mức cho vay trung và dài hạn đối với doanh nghiệp
Hạn mức và thời hạn cho vay trung và dài hạn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, như:
 Theo quy định, mục tiêu chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ của NHNN
 Phụ thuộc vào chính bản thân các ngân hàng, khối lượng vốn huy động của
ngân hàng càng lớn thì mức cho vay cho từng doanh nghiệp càng nhiều, chính sách
cho vay của ngân hàng qua từng thời kỳ và đối với mỗi dự án cũng khác nhau.
 Nhu cầu vay vốn, tình hình tài chính, uy tín của doanh nghiệp cũng ảnh hưởng
tới hạn mức và thời hạn cho vay. Các ngân hàng thường căn cứ vào tình hình tài chính,
chu kỳ SXKD, kết quả kinh doanh, tính khả thi của dự án của doanh nghiệp có tốt hay
không, uy tín đối với các tổ chức tài chính để đưa ra quyết định hạn mức cho vay.
 Phụ thuộc vào sự biến động của nền kinh tế, ổn định hay bất ổn. Ngân hàng sẽ
quyết định hạn mức cho vay phù hợp đề phòng rủi ro.
1.1.5.6. Thời hạn cho vay trung và dài hạn
Thời hạn cho vay được xác định phù hợp với thời hạn thu hồi vốn của DAĐT,
khả năng trả nợ của doanh nghiệp và tính chất của nguồn vốn cho vay, trong đó:
 Cho vay trung hạn: Có thời hạn trên 12 tháng đến 60 tháng.
 Cho vay dài hạn: Có thời hạn trên 60 tháng nhưng không quá thời hạn hoạt
động còn lại theo Quyết định thành lập hoặc Giấy phép thành lập đối với pháp nhân và
không quá 15 năm đối với cho vay các DAĐT phục vụ đời sống.
Thời hạn cho vay bao gồm thời gian ân hạn và thời gian trả nợ:
Thời hạn cho vay = Thời gian ân hạn + Thời gian trả nợ
 Thời gian ân hạn: Là thời gian xây dựng công trình, thời gian lắp đặt và
chạy thử máy móc. Thời gian này xuất hiện đối với các khoản cho vay mà khi số tiền
vay được phát ra phải trải qua một thời gian mới phát huy hiệu quả.
 Thời gian trả nợ: là khoảng thời gian đã được thỏa thuận giữa ngân hàng và
doanh nghiệp kể từ khi công trình xây dựng hoàn thành hay các phương tiện máy móc

chớp lấy thời cơ kinh doanh. Khi có cơ hội kinh doanh, các doanh nghiệp có thể nhanh
chóng vay vốn của ngân hàng để mở rộng SXKD, gia tăng sản lượng để chiếm lĩnh thị
trường. Khi doanh nghiệp đi vay vốn trung dài hạn tại NHTM sẽ có thể điều chỉnh
được kỳ hạn nợ, nghĩa là họ có thể trả nợ sớm hơn thời gian đến hạn trả nợ khi họ
không cần đến việc sử dụng vốn trung và dài hạn nữa. Khi doanh nghiệp gặp khó khăn
trong việc trả nợ tại một thời điểm nhất định nào đó thì có xin ngân hàng gia hạn nợ.
Ngoài ra, doanh nghiệp đi vay vốn trung và dài hạn còn tránh được các chi phí phát
hành, lệ phí bảo hiểm, lệ phí đăng ký Việc trả nợ cũng được xây dựng theo một sự
phân chia ổn định và hợp lý do đó doanh nghiệp có thể chủ động tìm kiếm các nguồn
trả nợ một cách dễ dàng hơn.
1.1.6.2. Đối với ngân hàng
 Cho vay trung và dài hạn mang lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng, đồng
thời nâng cao khả năng cạnh tranh của Ngân hàng. Cho vay trung dài hạn cả về số
lượng và chất lượng là hoạt động mang tính chiến lược của các ngân hàng Thương
mại. Với những khoản cho vay trung và dài hạn có quy mô lớn và lãi suất cao, thời
gian dài, cho vay trung và dài hạn mang lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng. Do vậy
cho vay trung và dài hạn mang lại thu nhập chủ yếu trong tổng thể các hoạt động của
NHTM từ trước đến nay.
9  Khi ngân hàng cho doanh nghiệp vay chính là ngân hàng đang tạo ra và duy
trì khách hàng của mình trong tương lai. Tạo điều kiện để ngân hàng mở rộng phạm vi
hoạt động của mình và ngày càng khẳng định vai trò, vị thế của mình trong nền kinh
tế. Khi ngân hàng không đa dạng hoá hoạt động cho vay, đa dạng hoá khách hàng, thời
hạn vay tiền thì ngân hàng không thể đứng vững được trong nền kinh tế thị trường với
sự cạnh tranh gay gắt của các ngân hàng khác. Mặt khác, cho vay trung và dài hạn còn
là công cụ cạnh tranh hiệu quả của ngân hàng nhằm thu hút doanh nghiệp về phía
mình. Khi có được mối quan hệ, ngân hàng có điều kiện lôi kéo doanh nghiệp sử dụng
các dịch vụ khác do mình cung cấp

tế các nước với nhau dưới các hình thức: cho vay tài trợ xuất nhập khẩu, cho vay hỗ
trợ phát triển, cho vay viện trợ
Nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay là nhiệm vụ có ý nghĩa với sự phát triển
kinh tế trong cả hiện tại và tương lai. Vấn đề này càng trở nên cấp thiết với thực trạng
nền kinh tế nước ta hiện nay: Nhu cầu vốn cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá là rất lớn trong khi việc sử dụng vốn còn có nhiều bất cập, hiệu quả sử dụng vốn
không cao, còn thất thoát và gây lãng phí lớn.
1.2. Nâng cao chất lƣợng hoạt đông cho vay trung- dài hạn đối với doanh nghiệp
1.2.1. Khái niệm chất lượng cho vay trung và dài hạn
Cho vay là một trong những hoạt động mang lại nguồn thu nhập chủ yếu và
chiếm phần lớn hoạt động trong các NHTM, song không phải tất cả các ngân hàng đều
thực hiện tốt hoạt động này. Một số ngân hàng gặp khó khăn trong việc quản lý và thu
hồi nợ, một số khác lại gặp khó khăn trong việc không thể tìm được dự án thích hợp để
cho vay hoặc gặp khó khăn trong việc huy động vốn. Vì vậy, việc xem xét chất lượng
hiệu quả hoạt động cho vay, nhất là cho vay trung- dài hạn là hết sức cần thiết. Chất
lượng cho vay giúp các ngân hàng có thể đánh giá lại hoạt động cho vay của mình. Từ
đó đưa ra các giải pháp nhằm khắc phục những tồn tại, thiếu sót và đẩy mạnh hơn nữa
hoạt động cho vay.
Chất lượng cho vay là sự đáp ứng yêu cầu hợp lý của doanh nghiệp có lựa chọn,
đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng đồng thời góp phần thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế xã hội. Chất lượng cho vay trung–dài hạn là chất lượng của các khoản
vay có thời hạn trên một năm. Chất lượng cho vay trung-dài hạn đối với doanh nghiệp
được đánh giá là tốt khi vốn vay được sử dụng đúng mục đích phục vụ cho các hoạt
động SXKD đem lại hiệu quả, đảm bảo trả nợ cho ngân hàng đúng hạn, vừa bù đắp
được chi phí vừa có lợi nhuận vừa đem lại hiệu quả kinh tế cho xã hội.
Chất lượng, hiệu quả công tác cho vay trung – dài hạn được nhìn nhận từ 3 phía:
ngân hàng, doanh nghiệp, và từ nền kinh tế. Nếu xét theo quan điểm của ngân hàng thì
hoạt động cho vay trung–dài hạn được xem là có hiệu quả khi nó đảm bảo được 3 yếu
tố: khả năng sinh lời, khả năng thu hồi cả gốc và lãi đúng hạn, và khả năng thanh khoản.
 Đối với ngân hàng: Chất lượng cho vay thể hiện ở phạm vi, mức độ giới hạn

Hoạt động cho vay của NHTM dựa trên một số nhất định đảm bảo tín an toàn và khả
năng sinh lời. Các nguyên tắc này được cụ thể hóa trong các quy định của NHNN và các
NHTM như: Doanh nghiệp phải cam kết hoàn trả vốn và lãi đúng hạn, sử dụng vốn vay
đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng, ngân hàng chỉ được tài trợ trên các dự án
có hiệu quả. Ngoài ra,chất lượng cho vay còn được thể hiện thông qua trang thiết bị,
công nghệ hiện đại, đội ngũ nhân viên có trình độ chuyên môn, năng lực và đạo đức
nghề nghiệp có khả năng hỗ trợ đáp ứng tốt nhu cầu của doanh nghiệp, thủ tục đơn giản,
thuận tiện, cung cấp vốn nhanh chóng, kịp thời và an toàn.
Nếu ngân hàng thực hiện đúng theo quy trình cho vay, thì ngân hàng có thể đánh
giá đúng tình hình tài chính của doanh nghiệp, từ đó giúp đưa ra quyết định tài trợ phù
hợp, đảm bảo an toàn và hạn chế rủi ro cho ngân hàng
 Khả năng mở rộng quan hệ với khách hàng là doanh nghiệp: Với số lượng
ngân hàng ngày càng gia tăng, tính cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ thì mỗi ngân hàng
phải tìm cho mình một chiến lược riêng, một hướng đi phù hợp để khẳng định sức cạnh
12 tranh của ngân hàng. Do đó, việc mở rộng số lượng khách hàng là doanh nghiệp cũng
như tăng cường việc bán chéo sản phẩm sẽ là nhân tố quan trọng có thể đánh giá chất
lượng hoạt động kinh doanh của ngân hàng, mà ở đây chính là chất lượng cho vay
doanh nghiệp. Các NHTM không chỉ cho vay khách hàng truyền thống, mà còn phải tìm
kiếm doanh nghiệp mới. Đồng thời mở rộng đối tượng cho vay, điều đó sẽ làm cho các
NHTM tăng trưởng bền vững và giúp các doanh nghiệp giải quyết được vấn đề về vốn
 Mức độ đáp ứng nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp: Uy tín mà ngân hàng đã
tạo dựng được trong nền kinh tế và các mối quan hệ với các doanh nghiệp, thể hiện
qua một số yếu tố: mức độ hài lòng; quy trình; sản phẩm cho vay đa dạng, phong phú;
thỏa mãn nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp; Chất lượng cho vay của ngân hàng với
doanh nghiệp được cho là tốt khi mà ngân hàng có khả năng đáp ứng được kịp thời và
đầy đủ nhu cầu vay vốn hợp lý của doanh nghiệp. Để đảm bảo yêu cầu trên, ngân hàng
cần có hệ thống đánh giá, dự báo, phân tích nhu cầu của doanh nghiệp thật chính xác,

hạn cũng như lợi nhuận của ngân hàng.
 Đối với nền kinh tế
 Đóng góp từ chất lượng cho vay trung-dài hạn của ngân hàng vào sự phát triển
kinh tế- xã hội: Hiệu quả xã hội của khoản vay đem lại là một trong những yếu tố nhằm
đánh giá chất lượng cho vay, bởi vì hoạt động cho vay không chỉ hướng tới mục tiêu lợi
nhuận mà còn phải đảm bảo hiệu quả xã hội. Có nghĩa là hoạt động cho vay phải phục
vụ sản xuất và lưu thông theo đúng đường lối kinh tế của Đảng và nhà nước đề ra. Chất
lượng cho vay trung dài hạn đối với doanh nghiệp tốt nhĩa là các doanh nghiệp đã nâng
cao được hiệu quả hoạt động SXKD, đồng thời giúp cho hoạt động cho vay của các
NHTM cũng hiệu quả hơn, đem lại lợi nhuận cao với mức rủi ro thấp. Vì vậy mà thúc
đẩy được nền kinh tế phát triển, đẩy lùi lạm phát, thực hiện ổn định tiền tệ.
 Khả năng tạo thêm công ăn việc làm tại địa bàn: Khi dự án SXKD của doanh
nghiệp được đưa vào thực hiện sẽ giải quyết được vấn đề việc làm cho người lao động
tại địa bàn. Với những dự án mới đi vào hoạt động, tạo việc làm cho những lao động
mới, giải quyết được vấn đề thất nghiệp. Đối với những dự án nhằm mở rộng duy trì
hoạt động SXKD sẵn có thì sẽ tạo thêm việc làm cho công nhân viên, giải quyết vấn đề
dư thừa lao động. Do đó, việc cho vay trung-dài hạn đối với doanh nghiệp sẽ được đánh
giá là có chất lượng cao nếu đóng góp phần tăng lượng người lao động có việc làm.
1.2.2.2. Các chỉ tiêu định lượng
Ngoài các chỉ tiêu định tính, chất lượng cho vay trung và dài hạn còn được đánh
giá một cách cụ thể thông qua các chỉ tiêu định lượng.
 Đối với ngân hàng
 Chỉ tiêu dư nợ cho vay trung và dài hạn đối với doanh nghiệp: Phản ánh
lượng vốn trung và dài hạn của ngân hàng đã được giải ngân tại một thời điểm cụ thể.
Dư nợ cho vay trung và dài lớn cho thấy ngân hàng có quy mô cho vay lớn, có uy tín
lớn với doanh nghiệp.
+ Tỷ trọng dư nợ cho vay
Dư nợ cho vay trung và dài hạn đối
trung và dài hạn đối với
với doanh nghiệp

khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu
 Nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn): gồm các khoản nợ quá hạn từ 91 đến 180 ngày,
các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu. Trừ các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn
trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2 và các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do
doanh nghiệp không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng cho vay
 Nhóm 4 (nợ nghi ngờ): gồm các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày, các
khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ
được cơ cấu lại lần đầu và các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai.
 Nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn): Gồm các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày,
các khoản nợ cơ cấu lại lần đầu, các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá
hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai, các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn
trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn và các khoản nợ
khoanh, nợ chờ xử lý. 15 Như vậy, các khoản nợ được phân loại từ nhóm 2 đến nhóm 5 là nợ quá hạn.
+ Tỷ lệ nợ quá hạn trung
Dư nợ quá hạn trung và dài hạn
và dài hạn đối với doanh
đối với doanh nghiệp
=
nghiệp
Tổng dư nợ trung và dài hạn
Nợ quá hạn trung và dài hạn đối với doanh nghiệp là các khoản nợ mà doanh
nghiệp không trả được cho ngân hàng khi đến hạn. Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ
phản ánh khái quát về tình hình nợ quá hạn của ngân hàng trong cho vay trung và dài
hạn. Tỷ lệ này tỷ lệ nghịch với chất lượng cho vay của ngân hàng. Tỷ lệ này cao cho

=
doanh nghiệp
Tổng nguồn vốn huy động trung và dài hạn
16  Chỉ tiêu vòng quay vốn cho vay trung- dài hạn: Phản ánh vòng quay của
khoản cho vay là nhanh hay chậm, ngân hàng thu nợ được bao nhiêu để có thể tiếp tục
đầu tư vào dự án mới.
Doanh số thu nợ quá hạn trung- dài hạn đối với
doanh nghiệp
+ Vòng quay vốn = Dư nợ cho vay trung- dài hạn bình quân đối với doanh
nghiệp
Chỉ tiêu này phản ánh tỷ lệ giữa doanh số cho vay trung và dài hạn đối với doanh
nghiệp và dư nợ cho vay trung- dài hạn bình quân đối với doanh nghiệp, qua đó có thể
thấy được khả năng mở rộng cho vay trung và dài hạn cũng như hiệu quả công tác thu
nợ của ngân hàng. Chỉ tiêu quay vòng vốn thường nhỏ hơn 1 do thời gian vay dài nên
dư nợ bình quân trong một năm sẽ lớn hơn doanh số cho vay trong cũng năm đó. Chỉ
tiêu càng gần 1 chứng tỏ hoạt động cho vay và công tác thu nợ của ngân hàng đối với
các khoản vay đó có chất lượng tốt, bởi điều đó chỉ đạt được khi quy mô cho vay được
mở rộng và hầu hết các khoản vay đến hạn trong năm đó đều được thu hồi đầy đủ.
Ngược lại, nếu tỷ lệ này thấp chứng tỏ hạt động cho vay hay thu nợ đều gặp khó khăn.
 Chỉ tiêu lợi nhuận: Đối với các NHTM, mục tiêu lớn nhất là mục tiêu lợi
nhuận. Hầu hết các hoạt động của ngân hàng đều nhằm đạt được mục tiêu này. Vì vậy,
khi đánh giá chất lượng cho vay trung và dài hạn thì không thể không xem xét đến lợi
nhuận mà ngân hàng thu được từ hoạt động này.
Lợi nhuận cho vay trung- dài hạn đối với
doanh nghiệp
+ Tỷ lệ lợi nhuận
=

Dư nợ trung và dài hạn đối với
+ Tỷ lệ dư nợ trung và
doanh nghiệp có TSĐB
dài hạn đối với doanh
=
Dư nợ trung và dài hạn đối với doanh
nghiệp có TSĐB
nghiệp
Chỉ tiêu tỷ lệ dư nợ cho vay đối với doanh nghiệp có bảo đảm bằng tài sản đang
được xem là tiêu chuẩn quan trọng của ngân hàng trong việc cho vay, việc cho vay sẽ
cảm thấy yên tâm hơn rất nhiều nếu nó được đảm bảo bằng tài sản, đặc biệt là những
tài sản hữu hình bởi nó giảm bớt rủi ro cho ngân hàng khi doanh nghiệp vì một lý do
nào đó không thanh toán được nợ cho ngân hàng. Trong khi về mặt nguyên lý, tài sản
đảm bảo chỉ là một yếu tố có giá trị tham chiếu trong các quyết định cho vay.
 Chỉ tiêu dự phòng rủi ro (DPRR):
Quỹ dự phòng rủi ro là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất
có thể xảy ra do doanh nghiệp của ngân hàng không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết.
Dự phòng rủi ro được tính theo dư nợ gốc và hạch toán vào chi phí của ngân hàng. Xử
lý bằng quỹ DPRR cho vay là việc ngân hàng sử dụng quỹ DPRR đã trích lập để xử lý
chuyển hạch toán ngoại bảng đối với các khoản nợ không còn hoặc rất khó có khả
năng thu hồi. Việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro cho vay không phải xóa nợ cho
doanh nghiệp. Sau khi khoản nợ được xử lý bằng quỹ DPRR và chuyển hạch toán
ngoại bảng, ngân hàng tiếp tục tìm mọi biện pháp đôn đốc thu hồi nợ (gốc và lãi),
tránh tổn thất cho ngân hàng. Do đó chỉ tiêu này cũng phản ánh chất lượng cho vay nói
chung và cho vay trung và dài hạn nói riêng.
18 1.3. Các nhân tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng cho vay trung và dài hạn
1.3.1. Các nhân tố chủ quan

được nâng cao.

 Chất lượng công tác thẩm định DAĐT của doanh nghiệp: Khi mở rộng cho
vay trung- dài hạn đối với doanh nghiệp, cùng với sự tăng lên về quy mô vốn vay,
ngân hàng luôn phải đối mặt với nguy cơ rủi ro tăng cao. Việc mở rộng cho vay phải
được xây dựng trên cơ sở nâng cao sự an toàn cho ngân hàng. Để thực hiện điều đó,
19 chất lượng hoạt động thẩm định là chìa khóa dẫn tới thành công cho ngân hàng. Chất
lượng hoạt động thẩm định là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả của mở rộng cho
vay. Ngân hàng thẩm định DAĐT của doanh nghiệp nhằm rút ra những kết luận chính
xác về tính khả thi của dự án, khả năng trả nợ và những rủi ro có thể xảy ra của dự án
để ra những quyết định cho vay hay từ chối. Đây là cơ sở để xác định số tiền, thời hạn
cho vay, lãi suất hợp lý tạo điều kiện cho dự án hoạt động có hiệu quả. Hoạt động cho
vay được xây dựng trên cơ sở chất lượng thẩm định tốt sẽ mang lại các quyết định
chính xác, mức độ an toàn cao, đảm bảo thu hồi vốn và lợi nhuận cho ngân hàng.
Ngược lại, nếu hoạt động thẩm định không hiệu quả, việc mở rộng cho vay sẽ phải đối
mặt với nguy cơ rủi ro tiềm tàng rất lớn. Nhìn chung, hoạt động thẩm định là yếu tố
ảnh hưởng trực tiếp và rõ ràng nhất tới chất lượng và hiệu quả của ngân hàng. Nâng
cao chất lượng phải đi cùng mở rộng và phải đặt trong mối quan hệ tổng thể phát triển
chung của ngân hàng mới có sự phát triển toàn diện.
 Thông tin cho vay của doanh nghiệp: Là những thông tin về doanh nghiệp,
môi trường kinh doanh của doanh nghiệp, rủi ro mà doanh nghiệp có thể gặp
phải…Thông tin càng đầy đủ, nhanh nhạy, chính xác bao nhiêu thì khả năng phòng
ngừa rủi ro của ngân hàng càng lớn, chất lượng cho vay ngày càng được nâng cao. Mặt
khác, một ngân hàng với lượng thông tin phong phú có thể đưa ra những tư vấn hữu
ích cho doanh nghiệp. Đây chính là yếu tố để nâng cao chất lượng cho vay.

 Công tác tổ chức của ngân hàng: Tổ chức ngân hàng cần cụ thể hóa và sắp

có hiệu quả hơn.
1.3.1.2. Các nhân tố từ phía doanh nghiệp
 Năng lực của doanh nghiệp: Không một doanh nghiệp nào đi vay lại không

Trích đoạn Giảipháp nâng cao chất lƣợng cho vay trung –dài hạn đối với doanh nghiệp tại Vietcombank chi nhánh Thành Công
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status